Mã Viện

“Ôn cố tri tân” tục ngữ Tàu.

Mã Viện mồ côi từ thuở nhỏ, tình cảnh rất nghèo khổ mà thật là người có chí lớn. Thường khi nói chuyện, Mã Viện cho rằng: “Làm trai lúc cùng khổ, chí càng phải bền khi tuổi tác khí càng phải hăng.”

Mã Viện ra công, ra sức cày cấy, chăn nuôi, không bao lâu giàu có hàng ức triệu. Mà hình như chưa được phỉ chí, thường nói với người ta rằng: “Phàm làm nên giàu, mà có biết đem của thí chẩn cho người khốn cùng, thì mới là quí. Bằng không, thì chỉ làm tôi tớ đồng tiền, suốt đời canh giữ đồng tiền, chớ có ích gì!”

Sau Mã Viện đem hết tiền của chẩn cấp cho người nghèo, rồi ra làm quan giúp vua Quang Vũ nhà Hán. Tuổi bấy giờ đã già, mà cứ hay xin đi đánh Nam, dẹp Bắc. Mỗi khi thắng trận trở về, họ hàng bà con ra chào mừng đón rước thì Mã Viện nói rằng:

  • “Làm tài trai nên chết ở chốn biên thuỳ, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng; chớ ốm nằm xó giường, chết ở trong tay lũ trẻ nâng đỡ, thì có hay gì.”

Lời bàn:

Đối với nước Việt Nam ta, Mã Viện là một người cừu địch, đáng ghét. Nhưng ta cũng không nên, vì ghét mà không biết đến cái hay của người. Như Mã Viện mồ côi nghèo khổ mà trở nên giầu có, là người có chí lập thân đáng khen. Giàu có mà biết dùng của, đem của cấp cho kẻ khốn cùng, lại là người có chí cứu khổ đáng trọng. Có tuổi mà vẫn đem thân ra chốn chiến trường để tận trung báo quốc lại là một người có chí ái quốc đáng phục, thật không phụ cái tiếng anh hùng. Một người cùng khổ yếu đuối mà làm nên phú quí, lúc phú quí lại hiểu được cái nghĩa phú quí nên làm thế nào, thực rất đáng làm gương cho cả mọi người!

(trích Cổ Học Tinh Hoa)

Theo như lời bàn, về mặt “con người” thì Mã Viện có ba cái hay: Con nhà mồ côi nghèo khó mà biết làm ăn để trở nên giàu có. Ấy là biết tự lập thân. Giàu có mà biết đem tiền của bố thí cho người nghèo khó là người có lòng nhân. Đã có tuổi mà còn xông pha gươm giáo giúp vua giúp nước là người anh hùng.

Nếu nhìn cục bộ, chúng ta lên án Mã Viện là người đánh bại Hai Bà Trưng, dựng cột đồng Đông Hán; nhưng thử hỏi lại, các ông Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký làm quan nước ta, theo lệnh vua đem quân xâm lăng và cai trị nước Cao Miên, mở rộng lãnh thổ nước ta thì sao? Đó cũng là cái thế “cạnh tranh sinh tồn” mà ra cả.

Nhưng làm người, nhất là người đàn ông thì ai ai cũng phải gìn giữ, bảo tồn cái chí khí của “Người Nam Nhi”, phải là người hùng mạnh, cương nghị, vừa giữ cái tư cách cho mình, vừa trở thành người hữu ích cho dân, cho nước.

Đàn bà như bà Triệu, không những nói mà làm:

            “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kìnhbiển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!

Dĩ nhiên, người Việt Nam ca ngợi công đức bà Triệu:

Muốn coi lên núi mà coi,

                        Coi bà Triệu tướng múa roi đi qưyền!

Bọn Tầu cũng sợ Bà.

Trong lịch sử Việt Nam, người Việt chúng ta còn thấy nhiều tấm gương khác nữa. Hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên đồng mưu với vua Duy Tân trong cuộc khởi nghĩa năm 1916. Thất bại, vua Duy Tân không đổ tội cho ai, mặc dù khi ấy vua mới 16 tuổi. Trong khi đó, hai ông Thái Phiên và Trần Cao Vân cũng muốn nhận hết tội về phần mình, không đổ tội cho vua.

Từ trong ngục, ông Trần Cao Vân lén gởi cho ông Hồ Đắc Trung, người đang giữ chức trách tra vụ án nầy. Thư bí mật viết:

                        “Trung là ai? Nghĩa là ai? Cân đai võng lọng là ai?

                        Nỡ để cô thần tử nghiệt!

                        Trời còn đó, đất còn đó, xã tắc sơn hà còn đó,

                        miễn cho thánh thượng sinh toàn!”

Trong lịch sử nước ta, có biết bao nhiêu tấm gương can trường, kể sao cho  hết!!!

&

Nhìn lại vụ án Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh, chúng ta không khỏi khinh bỉ.

Ra tòa, Đinh La Thăng xin xỏ:

Chiều nay, phiên tòa xét xử bị cáo Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh và 20 đồng phạm tiếp tục với phần bào chữa của các luật sư. Cuối buổi xét xử, HĐXX (Hội Đồng Xét Xử – tg)dành thời gian cho bị cáo Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh tự bào chữa.

            Bị cáo Đinh La Thăng nói: Bố bị cáo đã cao tuổi, mắc bệnh hiểm nghèo, bị cáo có 2 con gái thì cháu thứ 2 năm nay 22 tuổi, nhưng hoàn cảnh không bình thường, rất cần sự chăm sóc của bố. Bị cáo bị chịu trách nhiệm ở 2 vụ án khác nhau, khi bố bị cáo mất sẽ khó có khả năng gặp mặt trước khi mất.

Bị cáo Đinh La Thăng tự bào chữa trước tòa chiều nay. Ảnh: TTXVN

“Bị cáo mong muốn HĐXX xem xét để tạo điều kiện cho bị cáo chấp hành quyết định của tòa. Bản thân bị cáo bị rất nhiều bệnh, không phải đến bây giờ ra tòa mới nói mà ngay từ năm 2006, Ban bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Trung ương đã cấp thuốc hàng ngày.

            “Bị cáo chỉ có mong muốn cuối cùng là làm sao chấp hành án, trước khi chết thì được ra ngoài, được chết tại nhà mình, trong vòng tay người thân, gia đình, bạn bè. Bị cáo cũng mong muốn, nếu có chết thì được làm ma tự do chứ không phải ma tù. Bị cáo chỉ mong muốn như vậy. 

Những người sĩ quan chế độ cũ như chúng tôi, bị Võ Văn Kiệt lường gạt, “đóng tiền đi ở tù” là chấp nhận chế độ tù của Việt Cộng. Phần đông chưa trải qua “kinh nghiệm” nhưng cũng đã từng nghe, từng đọc hồi ký, sách báo nói về chế độ tù của Cộng Sản, Việt Nam cũng như các nước Cộng Sản tàn ác như thế nào rồi: “Trại Đầm Đùn” của Lê Văn Thái, các hồi ký “Về R” (Về Rờ) của Kim Nhật hay sách của Xuân Vũ thì thiếu chi.

Nói chung, toàn thể những người đã ngồi tù Cọng Sản, có ai xin như Đinh La Thăng:

-Xin về chăm sóc cho cha! Sợ bố mất sẽ không gặp mặt!

-Xin về chăm sóc cho con gái!

-Bẳn thân ĐLT được “nhà nước” cấp thuốc đầy đủ! (Trong khi các tù nhân khác được cấp “Xuyên Tâm Liên”, (thuốc Dân Tộc)

-Xin được chết bình yên ở nhà (trên tay vợ con?)

-Làm con ma tự do, chớ không làm ma tù.

Viết tới câu nầy, tôi nhớ tới các “nghĩa địa tù cải tạo” cạnh phi trường Trảng Lớn, “nghĩa địa tù” bên chân đồi Phưọng Vĩ của trại Long Khánh… Và bao nhiêu “nghĩa địa tù” ở phía Bắc VN, nếu kể thì nhiều người kể và kể không hết…

Về Trịnh Xuân Thanh:

“Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX, vợ bị cáo cùng 3 con (con nhỏ 6 tuổi, con thứ ba 8 tuổi, con thứ hai 11 tuổi) đang sống ở Đức, tiếng tăm không biết, sống ở bên đó nuôi các cháu ăn học rất vất vả. 

            Bị cáo đề nghị HĐXX sau khi kết thúc vụ án cho phép bị cáo có nguyện vọng được xin sang đó để có điều kiện gần vợ con, chăm sóc vợ con”, bị cáo Thanh nói.

            Bị cáo Thanh nói rằng rất ân hận, hối hận và cũng muốn gửi lời xin lỗi đến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

            Trong lúc nói lời xin lỗi bị cáo Thanh đã khóc.

Ra tòa mà khóc xin tha, đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam “can “trường vậy đó hay sao!?!

Coi lại thử có ai không phải là đảng viên Cộng Sản khi ra tòa cũng khóc như thế!

Một hôm Nhất Linh dự một phiên tòa, thực dân Pháp xử tội một thanh niên “làm cách mạng”, có nghĩa là người tham gia đảng phái hay một tổ chức chống Pháp nào đó, có thể không phải là đảng Viên đảng Cộng Sản Việt Nam, thời kỳ trước 1945.

Thái độ hiên ngang của người thanh niên ấy làm cho Nhất Linh ngưỡng mộ và suy nghĩ. Người thanh niên ấy trở thành một hình ảnh lý tưởng để sau nầy Nhất Linh “dựng” lại qua nhân vật Dũng trong “Đôi Bạn”.

Có ai hỏi dùm tôi, hôm ra tòa, nhạc sĩ Việt Khang có khóc xin bác Trọng tha tội như Trịnh Xuân Thanh hay không? Có lẽ Việt Khang không khóc, không quỵ lụy, không van xin. Nếu anh ta cũng hèn như Trịnh Xuân Thanh, cộng đồng người Việt Hải Ngoại đón tiếp hoan hô Việt Khang như vậy!

Chỉ cần đem hai hình ảnh: Việt Khang và Trịnh Xuân Thanh đối chiếu với nhau, người ta sẽ thấy “đảng ta ngoan cường”, “đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm” như thế nào!

Không chỉ một mình Đinh La Thăng hèn nhát đâu. Trịnh Xuân Thanh cũng “cá mè một lứa” cả: Xin tòa (cái gọi là Hội Đồng Xét Xử) tha cho tui về, tui ở với vợ con, lo cho con đi học, sợ chúng vất vả. Vợ con tui ở xứ người không biết tiếng Đức. (Tiếng Đức thì không biết nhưng xài hai tiếng Đ.M. – tiếng lóng đấy – thì vợ con tui cũng thường xài để mắng chưởi người ta –

            Trịnh Xuân Thanh muốn gởi lời xin lỗi TBT Nguyễn Phú Trọng. Câu nói nầy của y khiến người ta nhớ tới bộ mặt kênh kiệu của y khi còn ở bên Dức, lúc chưa bị bắt cóc đem về Hà Nội. “Thượng đợi hạ đạp” là câu người đời thường dung để chê bai những người như y đấy.

            Qua được Đức, y nghĩ thế là thoát, Trọng Lú làm gì được y?! Nên y vênh mặt lên, kênh kiệu, thách thức.

            Khi bị bắt đó đem về Việt Nam, bị giam có mấy bữa, mặt giống như cái giẻ rách chùi nhà!

Môi trường văn hóa và giáo dục.

Trong xã hội Cộng Sản, không phải chỉ có một vài tên hèn hạ như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh đâu! Chín mươi chín phần trăm, bọn chúng là như thế đấy!

Không phải chúng ta vơ đũa cả nắm. Bọn chúng là do môi trường văn hóa và giáo dục đào tạo chúng thành những người như thế.

Coi lại mà xem.

Ông anh là Trịnh Xuân Ngạn, chủ tịch Tối Cao Pháp Viện thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa.

Con trai của ông Trịnh Xuân Ngạn là Trinh Xuân Thuận. Ông Thuận theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, lúc ông mới 6 tuổi. Ông lớn lên và học hành ở Saigon, du học ở Thụy Sĩ và Hoa Kỳ. Hiện nay ông là nhà khoa học người Mỹ gốc Việt trong lãnh vực vật lý thiên văn, cũng là tác giả nhiều cuốn sách có giá trị về vũ trụ học, về tư duy mối tương quan giữa khoa học và Phật giáo. Ông cũng là một thi sĩ, một triết gia, một Phật tử, một người hoạt động trong lãnh vực bảo vệ môi sinh và hòa bình, được tặng nhiều giải thưởng quốc tế về thiên văn và văn hóa, xã hội… Ông hiện làm giáo sư đại học ở Virginia (Hoa Kỳ).

Ông em là Trịnh Xuân Ngợi (còn có tên là Giới), tiến sĩ sử học (Việt Cộng, dĩ nhiên), Phó ban Dân Vận Trung Ương Đảng Cộng Sản (Việt Cộng, dĩ nhiên).

Ông Ngợi là cha của Trịnh Xuân Thanh.

Trịnh Xuân Thuận và Trịnh Xuân Thanh là anh em chú bác.

Sau 1975, ông Trịnh Xuân Ngạn đi học tập cải tạo, “để thành người có ích cho tổ quốc” (Lời Việt Cộng, dĩ nhiên). Sau đó, ông Ngạn đi Pháp, “tiếp tục làm tay sai cho đế quốc”. (Lời Việt Cộng, dĩ nhiên).

Độc giả thấy những điều khác nhau giữa hai anh em (chú bác) nhà họ Trịnh nầy. Cái gì làm cho họ khác nhau?

Một là môi trường văn hóa: Trịnh Xuân Thanh sinh ra và lớn lên trong môi trường Văn hóa Vô Sản (có thể gọi là môi trường văn hóa Chí Phèo – Tên nhân vật chính trong cuốn “Chí Phèo” của Nam Cao.

Trịnh Xuân Thuận sinh ra và lớn lên trong môi trường văn hóa miền Nam Việt Nam, văn hóa Dân Tộc và giai cấp tư sản, tiểu tư sản.)

Môi trường Giáo Dục: Trịnh Xuân Thanh được giáo dục trong môi trường giáo dục Cộng Sản, nói một cách văn hoa là trong nền giáo dục của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trịnh Xuân Thuận được giáo dục trong môi trường giáo dục Miền Nam, của hai nền Việt Nam Cọng Hòa hay Miền Nam Tự Do, Thế giới Tự Do… trên nền tảng: Nhân bản, Dân tộc, Khai phóng.

Kết quả: Một bên là đạo tạo ra loài cầm thú!

                          Một bên đào tạo ra con Người.

Nói cho cùng, đây là vụ tranh ăn?

Đây là vụ án chính trị?

Mai kia, phe của Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh (phe Nguyễn Tấn Dũng) lật ngược thế cờ, lên cầm quyền, thì hai tên Thăng Thanh được “rước” ra khỏi nhà tù, lại cầm quyền!

Còn như việc Trịnh Xuân Thanh chạy trốn qua Đức thì được phe đảng của y vẽ vời thành “Tìm đường cứu nước” như “Bác Hồ vĩ đại” vậy.

Hồ sơ giấy tờ tham nhũng thì xé, đốt đi, giống như đơn “Bác Hồ” xin vô học trường thuộc địa vậy!

Nói sao cho hết bọn Cộng Sản nầy!

hoànglonghải

Kỳ tới: Gốc gác Lê Đức Anh, Lê Duẫn…

Đã xem 6166 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

1 Comment

  1. Nhà Thanh thua trận (sau Nha phiến chiến tranh), chịu nhường đất Hương Cảng (Hongkong) cho Anh 99 năm. Anh đã trả Hongkong lại cho Tàu năm 1997, sau khi đáo hạn.

    Bây giờ, dù nước Tàu có là Cộng Sản hay không, Hongkong vẫn là cái “nhọt” nhức nhối về sự phân ly của người Tàu. Nhục mất nước mà! Hiện giờ, Hongkong có “yên” đâu!

    Tàu Cộng dở lại sách cũ của các nước tư bản thế kỷ trước, chiếm thuộc địa, không bằng súng đạn nhưng bằng tiền bạc, (còn “độc” hơn súng đạn nữa) ở các nước khác (Sri Lanka, Kampuchia – kế Sihanoukville – Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc của Việt Nam…) với một kỳ hạn một trăm năm.

    Một trăm năm sau, lịch sử sẽ nói gì với những người – hay đảng Cộng Sản – “bán nước” ngày hôm nay.

    Một trăm năm nữa, người Tàu sẽ “chiếm” toàn bộ địa cầu, như tham vọng của họ, hay nước Tàu sẽ tan rã sau khi đập Tam Hiệp bị vỡ – Đập Tam Hiệp có thể tồn tại thêm vài chục năm nữa hay không, ấy chỉ là nói thời gian, chưa nói tới việc nếu chiến tranh xảy ra, đập Tam Hiệp sẽ là “tử huyệt” của nước Tàu, như bà Thái Anh Văn đã “hăm”. Hơn phân nửa dân Tàu (700 triệu người Tàu vùng Hoa Nam), “lội” ra biển chơi với Hà Bá mà không có gì cứu được.
    Cái đại họa của người nầy là hạnh phúc của người khác!
    Đối với các dân tộc trên thế giới cũng “y chang”!

    Thiên hạ thái bình trong đau khổ!
    hlh

Leave a Reply

Your email address will not be published.