V- MẶT TRẬN PHÍA TÂY: NGÃ BA DẦU GIÂY       

1/- PHÒNG TUYẾN CHIẾN ĐOÀN 52:

Chiến đoàn 52 do Đại tá Ngô Kỳ Dũng chỉ huy, từ Kiệm Tân, di chuyển về lập tuyến phòng ngự tại khu vực ngã ba Dầu Giây từ tối ngày 8.4.1975.

Tiểu đoàn 3/52 do Thiếu tá Phan Tấn Mỹ chỉ huy, cho Đại đội 1/3 của Trung úy Nguyễn Thanh Trường trấn giữ đồi Móng Ngựa. Tiểu đoàn 1/52 do Thiếu tá Cam Phú bố trí quân khu vực ngã ba Dầu Giây. Tiểu đoàn 2/52 do Đại úy Huỳnh Văn Út chỉ huy, phòng thủ chung với CĐ, gần ấp Nguyễn Thái Học (Đêm 11.4, đơn vị này được lệnh tăng cường cho Mặt trận Xuân Lộc).

Khi tấn công Xuân Lộc, quân CSBV chỉ bị bắn pháo và quấy rối tuyến phòng ngự  của CĐ52. Sau khi thất bại tại Xuân Lộc, quân CSBV thay đổi kế hoạch. Tuyến phòng ngự CĐ52 là ưu tiên 1 phải tiêu diệt, sau đó là căn cứ hỏa lực Núi Thị. Là những cứ điểm hỗ trợ bên ngoài của Xuân Lộc. Kế hoạch mới này được chính Trần Văn Trà mang tay xuống từ sào huyệt Lộc Ninh. Theo dự tính của các tên đầu sỏ Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng, và Phạm Hùng, Tướng Trần Văn Trà phải nhanh chóng đến BTL/QĐ4 của Tướng Hoàng Cầm tìm hiểu thực tế chiến trường. Nếu cần sẽ thay thế Hoàng Cầm để trực tiếp  chỉ huy QĐ4. Do đó tình báo của phe ta đã nhầm lẫn khi cho rằng Hoàng Cầm bị Trần Văn Trà thay thế.

Trưa ngày 13 tháng Tư, Sư đoàn 6 mở cuộc tấn công Tiểu đoàn 1/52 của Thiếu tá Cam Phú. Thiếu úy Phạm Văn Trung (hiện định cư tại Cali.), Trung đội trưởng thuộc ĐĐ2/1 cho biết: “Trước khi tấn công, quân CSBV bắt loa kêu gọi đầu hàng. Chúng nói cho 15 phút suy nghĩ. Sau đó thì bắt đầu bắn pháo. Những loạt đạn đại pháo, súng cối đủ loại rót vào các vị trí đóng quân của đơn vị. Sau đợt “tiền pháo” là “hậu xung”. Giặc mở những đợt tấn công biển người, hết đợt này đến đợt khác. Lớp trước bị đốn ngả, lớp sau tiến lên. Hình như chúng bị say thuốc súng, hay đã được cho uống thuốc kích thích? Quân số Tiểu đoàn 1/52 bị hao hụt nhiều mà chưa kịp bổ sung. Đại đội 2/1 chỉ còn 50 tay súng! Một Chi đội M-113 đến tiếp ứng, nhưng bị bắn cháy 1 chiếc. Dù đã chống trả quyết liệt, nhưng bọn chúng quá đông, kiểu “lấy thịt đè người”, cuối cùng đơn vị bị tràn ngập. Số sống sót phải rút về BCH/CĐ tại ấp Nguyễn Thái Học”.

Tiêu diệt xong TĐ1/52, Trà cho lệnh Cầm điều quân đánh Tiểu đoàn 2/43 của Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế tại Núi Thị. Vị trí bố phòng của TĐ1/52 và TĐ2/43 đều nằm ngoài tuyến bố phòng của Xuân Lộc. “Hồ hỡi” vì diệt được TĐ1/52, Cầm liền cho mở lại cuộc tấn công qui mô vào Núi Thị. Nhưng tuyến bố phòng của TĐ2/43 đã được các chiến binh can trường trấn giữ. Vả lại Núi Thị là hậu cứ của Tiểu đoàn, đã được bố phòng cẩn mật, rất vững chắc. Ngoài 600 tay súng dũng cảm, căn cứ còn có 12 khẩu đại pháo loại 105ly và 155ly, có thể hạ thấp nòng trực xạ vào đội hình tấn công của giặc với những trái đạn chống biển người. Quân xâm lăng CSBV đánh Núi Thị là đã đụng vào bức tường thép. “Bức Tường Thép” đúng nghĩa! Thật là dại dột khi không biết lượng sức. Suy nghĩ của Trung tướng Trần Văn Trà và Thiếu tướng Hoàng Cầm quá nông cạn, quá kém cỏi. Tư tưởng khinh địch lại về trong những bộ óc thiếu trình độ học vấn. Trần Văn Trà chỉ học xong 3 năm tại Trường Bá Công tức Trường Kỹ nghệ Thực hành Huế (trình độ cấp 2), còn Hoàng Cầm thì chỉ biết đọc và biết viết nhờ được theo học các lớp bình dân học vụ (chưa qua cấp 1) sau khi đã tham gia bộ đội Việt Minh. Khả năng phán đoán của hai tên tướng này lại quá kém, đã “Không biết mình, không biết người” như binh thư Tôn Tử viết. Bộ đội của Cầm bị thất bại là lẽ đương nhiên. Câu câm ngôn của CS là “Cứu cánh biện minh phương tiện”. Tên tướng bậc đàn anh là Võ Nguyên Giáp đã nướng hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn bộ đội để cố đạt cho được một chiến thắng. Bây giờ Cầm cũng thế. Nhưng hắn đã không làm được.

Lại một lần nữa, Trung đoàn 270 thuộc Sư đoàn 341/CSBV chuốc lấy thảm bại.   Trung đoàn 270 bỏ lại nhiều xác chết, phải rút ra. Tiểu đoàn đặc công vẫn bám sát, tiếp tục quấy phá. Nhưng các toán đặc công xâm nhập đều bị tiêu diệt ngay tại tuyến bố phòng ngoài cùng. Trong số đó có tên Thiếu úy cấp C trưởng, tức Đại đội trưởng. Tên này bị hạ sát ngay khi mới mon men đến vị trí cấp Trung đội, ĐĐ1/2 của Trung úy Chánh. Hai lần mở cuộc tấn công qui mô Núi Thị, hai lần đều thảm bại.  Nhưng thật là trơ trẽn khi Trà viết:

“Tiếp theo hôm sau đã chiếm Núi Thị…”

“Núi Thị” mà Thượng tướng Trần Văn Trà viết trong Hồi ký KẾT THÚC CUỘC CHIẾN TRANH 30 NĂM, chắc chắn không phải là Núi Thị do TĐ2/43 trấn giữ trong trận chiến Xuân Lộc. Núi Thị đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng trong tâm trí kém cỏi của Trà. Cũng như tên Sư trưởng Sư 341 Trần Văn Trấn tuyên bố đã đánh sập cây antenna 292 tại Núi Thị trong loạt đạn pháo đầu tiên, cũng chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng. Thật ra nếu pháo có đánh sập cây antenna thì chỉ là chuyện nhỏ, nó không gây ảnh hưởng gì đến hệ thống truyền tin của TĐ2/43, có thể sẽ bị gián đoạn trong chốc lác. Thế mà Trần Văn Trấn đã coi đó là một kỳ công! “Một điều bất tín, vạn sự bất tin”. Hồi ký của Trần Văn Trà, của Văn Tiến Dũng đều chứa đựng những điều dối trá và khoác lác. Thế mà cũng có lắm kẻ tin! Đúng là những kẻ khờ!

Ngày 15 tháng Tư, Chiến đoàn 52 bị địch đánh từ hai phía: Phía Nam, từ ngã ba Dầu Giây (vị trí này chúng chiếm được đêm 13 tháng Tư) do Sư đoàn 6 án ngữ. Đơn vị này còn có nhiệm vụ bám sát, cầm chân Trung đoàn 8 của Trung tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng, thuộc Sư đoàn 5BB tại Hưng Nghĩa. Nhiệm vụ thứ hai là bố trí quân chận đánh Lữ đoàn 3 Xung kích của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi sẽ ra cứu viện từ Biên Hòa. Nhiệm vụ thứ ba là chận đánh quân cứu viện từ Xuân Lộc. Trung đoàn 274 đã thiết lập một hệ thống kiềng chốt rất kiên cố tại đèo Mẹ Bồng Con. Trung đoàn 812 thì đang bố trí quân tại những khu rừng cao su của đồn điền Suzannah. Lực lượng án ngữ phía Nam tại ngã ba như cái đe, để phía Bắc, Trung đoàn 95B như cái búa, với sự trợ lực của các đơn vị thuộc Sư đoàn 341 vừa được lệnh rút ra khỏi Xuân Lộc, như Tướng Lê Nam Phong viết:

“Bộ đội chúng tôi ngừng tấn công vào các mục tiêu trong thành phố, và chuyển ra tấn công trên QL.1 để cô lập Xuân Lộc”.

Trung úy Nguyễn Thanh Trường (hiện định cư tại Miami, Florida), một Đại đội trưởng xuất sắc của TĐ3/52, từng lập được nhiều chiến công tại mặt trận An Điền – Rạch Bắp tháng 6 năm 1974, đã cho người viết biết như Thiếu tá Phan Tấn Mỹ (Ý Yên) viết trong bài Trận Đánh Đồi Móng Ngựa: “Hồi nửa đêm 11 tháng Tư, tổ phục kích mìn của Trường tại phía đông bắc Đồi Móng Ngựa hạ sát 17 giặc, trong đó có 4 cán bộ cao cấp, thu 4 địa bàn Trung cộng rất tinh xảo, 4 bản đồ nổi pictomaps, và đặc biệt một công vụ lệnh ghi: “Đoàn nghiên cứu quân sự đặc biệt 301 – Nay đề cử 4 đồng chí (lâu ngày quên tên) lên đường nghiên cứu thực địa chiến trường Thủ Biên Xuân Lộc. Ngày lên đường: 2 tháng Tư 1975 – Ngày chấm dứt nhiệm vụ: 30.4.75”

Khi mặt trận ngã ba Dầu Giây bùng nổ, Chiến đoàn 52 bị tấn công, Tướng Toàn, TL/QĐIII cho lệnh Lữ đoàn 3 xung kích của Tướng Trần Quang Khôi từ Trảng Bom (Biên Hòa) mở cuộc hành quân tiếp cứu.

Lực lượng của Tướng Khôi rất mạnh. Lữ đoàn 3 Xung kích có trên 200 chiến xa M-41, M-48 và thiết quân vận M-113, được thành lập thành 3 Chiến đoàn 315, 318 và 322. Mỗi Chiến đoàn đều có 1 Tiểu đoàn BĐQ tùng thiết. Nhưng lực lượng chận viện của quân CSBV lại hùng hậu hơn. Ngay từ những ngày đầu của trận chiến Xuân Lộc, Sư đoàn 6/CSBV đã thiết lập một hệ thống kiềng chốt rất kiêng cố từ xã Hưng Lộc đến đèo Mẹ Bồng Con. Quân của Tướng Khôi vừa đi vừa đánh, nên nhịp độ tiến quân quá chậm. Trên đường từ Trảng Bom ra Bàu Cá, từ Bàu Cá đến Hưng Nghĩa, quân của Tướng Khôi  đã gặp các cụm kiềng chốt của Sư đoàn 6 ngăn chận. Với 2 Chiến đoàn 315 và 322, quân của Tướng Khôi tiến theo trục lộ QL.1. Mặc dù cố gắng diệt chốt nhanh, tiến lẹ, để có thể bắt tay Chiến đoàn 52 đang bị vây khốn tại ấp Nguyễn Thái Học, nhưng kết quả không như ý muốn. Theo J. Veith, tác giả của “Fighting Is An Art”, Chi đoàn 1/15 của Đại úy Bảng có Tiểu đoàn 64/BĐQ tùng thiết, đã thành công khi chiếm ngọn đồi 122, một cao điểm ở hướng Bắc Hưng Lộc. Nhưng địch nhanh chóng tổ chức phản công. Lực lượng của Tướng Khôi đã không vượt qua khỏi ngọn đồi này. J. Veith viết lại theo lời tường thuật của Đại úy Bảng: “Quân địch đông như kiến, chúng mở những đợt tấn công biển người từ ba hướng…Trong tình trạng tuyệt vọng, tôi yêu cầu Chiến đoàn bắn pháo và không yểm. Thật không may mắn, chúng tôi chỉ nhận được vài trực thăng võ trang đến bắn yểm trợ…Bắc quân tiếp tục tấn công, mỗi lúc càng thêm ác liệt. Tôi nghĩ rằng VC sẽ tràn ngập ngọn đồi hay bao vây chia cắt…Thình lình, VC rút lui, trận đánh tàn lụi. Chúng tôi tổn thất 20, BĐQ lối 40. Xác địch nằm la liệt…” (có thể thời điểm đó là lúc CĐ52 đã bị quân giặc tràn ngập).

Không có quân cứu viện, địch mỗi lúc điều thêm quân vào trận, áp lực đè nặng.

“Về chiều, pháo giặc càng gia tăng nóng nảy dữ dằn hơn. Căn hầm Đại tá Dũng bị sập. Hai chiếc xe tăng M-41 bốc khói ngùn ngụt ở cuối sân. Ông Dũng thoát khỏi hầm an toàn, lem luốc, chạy sang BCH/TĐ3/52 đặt gần thung lũng. Cây anten dựng lên, lại bị đánh gãy nằm gục bên sân. Bên kia sân, Thiếu tá Nguyễn Thanh Trước toàn thân đen đúa tiếp tục điều khiển tác xạ…” (Thiếu tá Phan Tấn Mỹ: Trận Đánh Đồi Móng Ngựa)

Xe pháo ngổn ngang, khói đen bốc lên ngùn ngụt, phòng tuyến vỡ. Địch đã xông vào bên trong. Tiếng la xung phong của địch, giọng nói đặc sệt bắc kỳ nghe rõ mồn một qua ống liên hợp máy PRC-25, xen lẫn tiếng cầu cứu của Trung tá Chiến đoàn phó Đổ Văn Tân.

Tại đồi Móng Ngựa, cao điểm trông xuống QL.20, do Đại đội 1/3 của Trung úy Nguyễn Thanh Trường trấn giữ. Từ lúc 5 giờ sáng, Cộng quân bắt đầu bắn pháo. Sơn pháo địch từ Núi Ma, từ các cánh rừng bao quanh liên tiếp nã vào ngọn đồi. Sau đó là những đợt xung phong biển người. Trận đánh để làm chủ ngọn đồi đã xảy ra vô cùng ác liệt. Quân bạn cố giữ, quân địch cố chiếm. Ta bắt được một số tù binh. Chúng thuộc Đại đội Trinh sát của Trung đoàn 95B vừa từ Cao Nguyên xuống. Đến 8 giờ 30, Đại đội 4/3 của Thiếu úy Mai Mạnh Liêu được lệnh tăng viện. Hai Đại đội 1 của Trường và 4 của Liêu được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đại úy TĐP Hà Văn Cho.

Cùng chung số phận với BCH/CĐ, đồi Móng Ngựa đã đón nhận hàng ngàn trái đạn pháo của giặc. Đến 2 giờ chiều, Tiểu đoàn 2/95B/CSBV bắt đầu xua quân tràn lên đồi. Pháo địch pháo ta, bộ đội giặc và lính của ta giao tranh đẩm máu để giành nhau từng tấc đất. Cứ sau những đợt pháo cường tập, bộ đội CSBV dàn hàng ngang tiến lên. Lớp trước ngã, lớp sau đạp xác đồng đội tiến lên. Trận tử chiến tiếp diễn ác liệt. Quân giặc như những con thiêu thân cứ lao vào ánh đèn, chết vô số. Xác địch chồng chất, cây rừng gãy đổ. Màu xanh của cây cỏ biến thành màu đỏ của máu, máu đỏ của những thân xác “Sinh Bắc Tử Nam”. Ngọn đồi xanh ngát với những vòng cao độ tạo thành thế hình móng ngựa, chỉ trong thời gian ngắn, đã biến thành bình địa. Đạn pháo ta và địch đã làm thay đổi các vòng cao độ của ngọn đồi! Thiếu úy Mai Mạnh Liêu, ĐĐT/ĐĐ4 báo cáo:

“…Không còn cái gì tồn tại chung quanh chúng tôi hết. Xác địch nằm ngỗn ngang trên mặt đồi, cây cối chung quanh hoàn toàn bị tiêu rụi thành bình địa. Thân cây và xác chết chồng chất lên nhau hàng đống, từng này chồng lên từng kia…”.

Nhìn xuống QL.20, thấy quân CSBV di chuyển trên lộ chật đường, đông như kiến, giống như đoàn người đi trẩy hội. Chúng thuộc đơn vị nào? Phải chăng như Trần Văn Trà viết:  “Quân đoàn 1 xuất phát từ sông Hồng, Quân đoàn 3 thì có sư đoàn từ Tây Nguyên lại có sư đoàn từ ven biển quật lên theo đường 11 đi Đà Lạt rồi theo đường 20 vào”. Liêu xin bắn pháo. Pháo từ Chiến đoàn, pháo từ Núi Thị tới tấp rót xuống. Chúng dạt ra hai bên đường. Lúc ngưng pháo, chúng lại tiếp tục di chuyển. Giòng người cứ trôi  như giòng thác lũ. Một toán chỉ huy địch chạy vào một căn nhà ngói đầu ấp, căn nhà bị đánh sập, và không thấy chúng xuất hiện trở lại. Bọn chúng đã bị pháo ta tiêu diệt.

Trước khi trời tối, đồi Móng Ngựa bị giặc tràn ngập. Ngọn đồi bị chiếm vì quân ta hết đạn. Cây súng trở thành cây gậy. Bắn hết đạn, giặc tràn lên, quân ta đành phải rút chạy!

Tình hình trở nên nguy kịch. Đồi Móng Ngựa đã lọt vào tay giặc. Từ những cánh rừng cao su chung quanh, quân CSBV xổng lưng tiến vào vị trí quân bạn đã tan nát vì những trận mưa pháo tàn bạo. Giặc đã tràn vào phòng tuyến. Tiếng nói của Đại tá Dũng và Trung tá Đổ Văn Tân im bặt. Những ai còn sống sót phải rút chạy về Biên Hòa. Tuyến phòng ngự tại ngã ba Dầu Giây hoàn toàn tan rã.

Quân CSBV đã mở được con đường xâm nhập vào Sàigòn không cần phải đi qua Xuân Lộc.

Khi hoạch định kế hoạch đánh chiếm Xuân Lộc, bọn đầu sỏ CS nghĩ rằng sẽ nuốt chửng Xuân Lộc, cũng dễ dang như lấy đồ trong túi. Với tính chủ quan được tích lũy từ trận đánh Phước Long, trận Ban Mê Thuột, trận đường 7B, chiếm Huế, chiếm Đànẵng, các tỉnh Miền Trung và Cao Nguyên, Tướng Văn Tiến Dũng và Trần Văn Trà đã suy nghĩ quá đơn giản. Chúng không hề dự trù những tình huống khó khăn sẽ gặp và sẽ đối phó ra sao. Mặc dù chúng đã cho lệnh Đoàn 75, tức Bộ Tư lệnh pháo binh của Miền bố trí trận địa pháo tầm xa 130ly tại Hiếu Liêm (ngã ba sông Bé và sông Đồng Nai) để khống chế sân bay Biên Hòa và chi viện cho Quân đoàn 4.

Pháo của giặc tuy có gây trở ngại cho hoạt động của ta. Nhưng các phi tuần chiến đấu F-5E, A-37,…vẫn xuất kích yểm trợ đắc lực cho quân bạn tại Xuân Lộc. Các chuyến bay trực thăng tải thương và tiếp tế đạn dược cho mặt trận vẫn vào ra Xuân Lộc đều đặn. Sau ngày 12.4, người dân Xuân Lộc đã sinh hoạt trở lại. Đó là sinh hoạt của người dân trong thời chiến, dưới đạn pháo của giặc.

Khi Xuân Lộc bị tấn công, hai Pháp kiều là chủ đồn điền S.I.P.H và Túc Trưng bị quân CSBV bắt trong đêm, vì lầm tưởng họ là cố vấn Mỹ. Được thả ra, hai Pháp kiều đến Núi Thị trình diện TĐT/TĐ2/43. Họ là những người rất am tường địa thế. Các đồn điền cao su bao quanh Xuân Lộc, hầu hết thuộc tài sản của họ. Họ đã chỉ trên bản đồ những vị trí tập trung quân CSBV, những kho hậu cần, những con đường vận chuyển tiếp liệu. Một trong hai Pháp kiều là cựu Trung úy Dù, từng tham dự trận Điện Biên Phủ, người kia có vợ là người Việt, có đứa con trai riêng của người vợ đang phục vụ trong lực lượng NQ/LK. Những tin tức thuộc loại A1 này đã được gửi ngay về Phòng 2/SĐ. Phối hợp và kiểm chứng cùng các tin tức khác, Tướng Đảo cho đánh bom chính xác vào các mục tiêu, làm tiêu hao đáng kể sinh lực của quân xâm lăng CSBV. Do TĐT/TĐ2/43 có những tin tức thuộc loại A1, Tướng Đảo cho biết ông có những phi vụ đánh bom đặc biệt gọi là “Commando Vault”, xử dụng loại máy bay C-130, chở nhiều bom. Một thứ “tiểu B-52”.

“Vào những tháng cuối cuộc chiến, BTTM xử dụng phi cơ vận tải C-130A vào các cuộc dội bom chiến thuật. C-130 có thể chứa được 8 kiện hàng, mỗi kiện chứa 4 thùng dầu phế thải. C-130 thả từ cao độ 15 đến 20 ngàn bộ (5-7 cây số). Chu vi sát hại có đường kính từ 150-450 mét.

C-130 có thể chở 32 trái bom loại 250-500 cân. Đây là những ‘mini-B-52’ hay ‘B-52 VN’. Phi vụ đầu tiên thả xuống chiến khu C ở Tây Ninh. Lời đồn không quân Hoa Kỳ trở lại loan truyền nhanh chóng” (Đại tướng Cao Văn Viên – Những Ngày Cuối Của VNCH).

Trước khi xin đánh 2 trái BLU-82, Tướng Đảo gọi TĐT/TĐ2/43: “Tôi có cái này hay lắm, nếu có tin tức chính xác, Bảo Định gửi liền cho tôi”.

Trận chiến 12 ngày đêm tại Xuân Lộc đã gây thiệt hại đáng kể cho quân CSBV với hơn 6 ngàn tên chết tại trận. Đó là những thân xác ‘Sinh Bắc Tử Nam” bị phơi thây trong những vòng rào kẽm gai bao quanh thị xã, trong những khu tử giác, trong những vũng sình lầy, hay những thân xác đếm được trong các cuộc phục kích. Lực lượng xe tăng quân CSBV tham chiến tại trận Xuân Lộc không biết được con số chính xác là bao nhiêu (những ngày đầu là 1 Trung đoàn, sau đó được tăng cường thêm 1 Đại đội xe tăng nữa). Số xe tăng của giặc bị tiêu hủy đếm được là 37 chiếc. Sự thiệt hại đó của quân CSBV là do các chiến binh tại phòng tuyến Xuân Lộc bắn hạ bằng vũ khí cá nhân, vũ khí cộng đồng và pháo hay bom. Số lượng cộng quân bị sát hại tại các chỉ huy sở, tại các vị trí hậu cần, những tuyến đường chuyển quân và tiếp liệu, cũng như sự thiệt hại do hai trái bom BLU-82 là không kiểm chứng được. Nhưng qua sự kiểm chứng gián tiếp là các báo cáo của các tên thủ trưởng tham chiến, nhận định tình hình chiến sự của Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Hoàng Cầm, cũng như lời thú nhận của tên Lê Đức Thọ, ta có thể khẳng định con số thiệt hại của cộng quân là gấp bội lần so với con số được đếm được. Tại mặt trận Trảng Bom vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, khi cộng quân tràn ngập tuyến bố phòng của TĐ1/43, một số chạy thoát được, nhưng có một số bị bắt sống, khi được dẫn đến trình diện tên Thủ trưởng E, tức Trung đoàn trưởng, hắn nói:

“May mà các anh gặp đơn vị tôi, nếu gặp đơn vị kia (ý hắn muốn đề cập đến các đơn vị thuộc Sư đoàn 341 bị thiệt hại nặng tại góc mặt trận Tây – Bắc thị xã, tại Núi Thị, và nhất là bị hai trái bom BLU-82) thì bị bắn ngay tại chỗ.”

2/- HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI ĐỘI TRINH SÁT 43

Vào những ngày cuối, Đại úy Nguyễn Văn Tỷ bàn giao chức vụ Đại đội trưởng, ĐĐTS43 cho Trung úy Dương Trọng Khoát. Khoát xuất thân từ khóa 25/VBQGĐL, đang là ĐĐT/ĐĐ1 của Tiểu đoàn 2/43.

Sau khi Quận Định Quán thất thủ vào sánh sớm ngày 19.4.75, Tiểu đoàn 2/43 được lệnh lui về hậu cứ Núi Thị, Trung đoàn 43 cũng lui về phòng thủ thị xã Xuân Lộc, giao lại vùng trách nhiệm cho Chiến đoàn 52 của Đại tá Ngô Kỳ Dũng. Đại đội Trinh sát 43 của Trung úy Khoát vẫn tiếp tục hoạt động khu vực Núi Ma. Núi Ma là ngọn núi cao nhất vùng. Hướng Tây trông xuống Quốc lộ 20 (đường đi Đà Lạt), hướng Nam trông xuống Quốc lộ 1.

Khi Chiến đoàn 52 tan hàng tại Ngã ba Dầu Giây chiều ngày 15.4, giao lộ QL20 và QL1 bị bỏ ngỏ. Nhưng một phần sườn phía Tây của Núi Ma vẫn còn sự hiện diện của quân bạn (ĐĐTS43), và một phần sườn đồi phía Đông Nam, trông xuống Núi Thị (căn cứ của TĐ2/3 và một TĐ Pháo hổn hợp của SĐ18BB) thì do Trung đội Biệt kích của Tiểu đoàn 2/43 chiếm cứ. Ngay trong đêm mở đầu trận chiến Xuân Lộc, đơn vị này đã tiêu diệt gọn một toán trinh sát và điều khiển pháo của cộng quân, khiến địch đã mất đi “một con mắt” ở hướng này. Chính nhờ hoạt động hữu hiệu của hai đơn vị này mà cộng quân không thể len lỏi đến gần đặt pháo để quấy phá Núi Thị. Trong những ngày của trận chiến, Núi Thị chỉ bị pháo từ xa, đó là các hỏa tiển 120, cối 130, hay sơn pháo 75ly.

  1. NỖI KINH HOÀNG CỦA CÁN BINH CSBV

1/. BOM BLU-82 (thường gọi CBU-55)

1

        Dư luận quần chúng, và ngay cả Hà Nội, hai trái bom thả xuống Mặt trận Xuân Lộc là bom CBU-55. Hà Nội và cả Bắc Kinh đều la làng rằng Mỹ – Ngụy đã xử dụng bom “Tiểu nguyên tử”, có tầm sát thương lớn.   Theo “Tuyến Thép Xuân Lộc” của Đại tá Hứa Yến Lến, TMT/HQ/SĐ18BB, được Chuẩn tướng Trần Đình Thọ, Trưởng P3/BTTM/QLVNCH xác nhận, đó là loại BLU-82 (Daisy Cutter). Khi Tư lệnh đại đơn vị ngoài mặt trận đề nghị, P3 trình Đại tướng TTM. Nếu Mục tiêu được chấp thuận, chính Trưởng P3 đích thân trao cho TL/KQ biết để thi hành. Bom được chuyên viên Quân cụ và Không quân đưa lên phi cơ, loại C-130. Bom để trên một dàn gỗ (palette), có đeo dù. Phi công phụ trách thả bom, phải là phi công giỏi bay đêm. Tư lệnh Quân đoàn phải chịu trách nhiệm trực tiếp đến sự an nguy của quân bạn.

Chiều ngày 15.4, khi Chiến đoàn 52 bị tràn ngập, Tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh Mặt trận Xuân Lộc đề nghị lên Quân đoàn, Quân đoàn đề nghị về BTTM cho sử dụng loại bom có sức công phá mạnh để tiêu diệt quân xâm lăng CSBV.

 Hai trái bom được xử dụng tại Mặt trận Xuân Lộc tháng Tư năm 1975 là bom BLU-82. BLU-82 là chữ viết tắt của Bomb Live Unit – 82. Bom nổ ở độ cao, tạo ra một đám mây có đường kính lối 100 mét, dày hơn 2 mét. Gặp lửa, đám mây tỏa ra một nhiệt lượng cao, tạo ra áp lực 1.000 pounds/square inch, đổ ập xuống mục tiêu. Bom sẽ đốt hết dưỡng khí trong một khu vực rộng 2 mẫu Anh, và mọi sinh vật trong khu vực sẽ chết trong tình trạng tự nhiên. Bom nặng 15.000 pounds, chứa gas hổn hợp Propane và TNT. Tùy theo tính chất của mục tiêu, bom có loại văng miểng, có loại gây hơi ép.

Tại Xuân Lộc ngày nay, có một cây cầu nhỏ bắc qua một khe suối, có thể là suối Đá Bàn, được người dân địa phương gọi là “Cầu 6 ngàn”. Phải chăng đó là địa điểm Chỉ huy sở Sư đoàn 341/CSBV bị 2 trái BLU-82 đánh. “Sáu ngàn” là con số quân xâm lăng CSBV đền tội vào lúc 1 giờ sáng ngày 16.4.75. Có người thắc mắc về con số “6 ngàn”. Chỉ huy sở của một sư đoàn sao lại có nhiều bộ đội như vậy? Có thể đó là địa điểm “tập kết” của Quân đoàn 3 từ Cao Nguyên xuống. Theo Trần Văn Trà, có đơn vị vào tới thì đạn dược chưa tới, xe tăng hết xăng dầu, đạn pháo chỉ còn 1, 2 viên, cần phải bổ sung chấn chỉnh.

 Ngày 12.4.1975, khi quân Dù được trực thăng vận đổ xuống tăng viện cho Xuân Lộc, cũng là lúc Tướng Trần Văn Trà đến Chỉ huy sở của QĐ4. Trà đã trao cho Hoàng Cầm kế hoạch tác chiến mới theo đó, Sư đoàn 341 rút ra, bổ sung quân số, vũ khí và đạn dược, sẵn sàng yểm trợ Trung đoàn 95B từ Cao Nguyên xuống và Sư đoàn 6 đang bố trí quân tại vùng ngã ba Dầu Giây diệt tuyến bố phòng của CĐ52.

Nhà cầm quyền Hànội tuyên truyền rằng 2 trái bom đã giết chết 200 người dân xã Xuân Vinh. Nhưng vào thời điểm này xã Xuân Vinh chưa có. Xã được thành lập sau ngày 30.4.75, bao gồm các ấp Bình Lộc, Bảo Vinh A và B. Lúc đó vùng rừng núi này là khu vực trú quân của Sư 341/CSBV, không hề có bóng dáng của thường dân. Nếu có “thường dân”, chỉ là bọn Du kích địa phương.

Sau khi hai trái bom BLU-82 được thả xuống vị trí tập trung quân CSBV và Chỉ huy sở Sư đoàn 341, quan thầy Trung cộng phản đối ầm ĩ (Frank Snepp – Decent Interval), Hànội cũng la làng phản đối trong 2 ngày liền. Chúng cho rằng B-52 của Hoa Kỳ đã trở lại. Nhưng thực tế quá phũ phàng, “Hoa Thịnh Đốn vẫn tiếp tục nhắm mắt làm ngơ…”(Điện tín của Thiếu tướng Homer Smith, the U.S. defense attaché in Saigon gửi Tướng George Brown, the chairman of the Joint Chiefs of Staff in Washington: ‘But Washington continued to turn a blind eye…’ ).

Nếu bom không gây thiệt hại lớn thì đối phương đã không cần phải la làng lớn giọng như vậy. Ta còn 5 trái trong kho đạn, nhưng không có ngòi nổ! Nếu Hoa Kỳ thỏa mãn đủ số bom do BTTM/QLVNCH yêu cầu và cung cấp đủ ngòi nổ, liệu giặc có còn đủ quân để tiến về Sàigòn? Hànội có 21 sư đoàn, nhưng đã tung 16 sư đoàn bao vây Sàigòn với 5 hướng. Chỉ cần đánh mỗi hướng 4 trái là đủ để tiêu diệt hết sinh lực của giặc. Và chắc chắn chúng ta đã không có ngày 30 tháng Tư đen!

Hai trái bom đã gây thiệt hại nặng cho quân CSBV, nhưng sự thiệt hại của chúng là không kiểm chứng được. Vì thời gian là những ngày tàn của cuộc chiến. Nhưng sự thiệt hại đó, ít nhất là 75% tại chỉ huy sở của Quân đoàn 4. Cùng với sự thiệt hại sau 12 ngày ác chiến, Quân đoàn 4 của Tướng Hoàng Cầm coi như gần sạch túi! Tin tức từ nguồn tin do hai Pháp kiều cung cấp cho biết, trong nhiều ngày, họ đã chứng kiến những chiếc xe bò vận chuyển suốt ngày để chở xác chết và thương binh bộ đội CSBV. Mỗi chiếc chất đầy tử thi hoặc thương binh, cùng những vũ khí gãy nát, ngổn ngang đầy xe, trông như đống củi.

Lịch sử Bộ đội Quân Y/CSBV viết: “Trong tác chiến tại Xuân Lộc, Long Khánh và xung quanh, Quân đoàn 4 đã có 1,888 thương vong.” Đó là con số bộ đội bị thương vong được các đồng chí của chúng mang về trạm xá. Còn con số rơi rớt dọc đường, mắt kẹt trong các hàng rào kẽm gai, hay bị bom pháo làm nát thây thì Bộ đội Quân Y không biết được.

2/. THẨM QUYỀN CHO LỆNH ĐÁNH BOM BLU-82

Về việc ai cho lệnh thả hai trái bom BLU-82, cho đến nay vẫn còn mơ hồ. Ông Nguyễn Cao Kỳ trong quyển “Buddha’s Child” viết:

“The most powerful weapon in our arsenal was an American-made cluster bomb…One aircraft with a few cluster bombs could kill everything within a square kilometer.

Because it was so powerful, however, Thieu feared that someone might drop one on his palace; permission to use a cluster bomb required his personal order. One day Operations called to say that an enemy division had encircled one of our bases. Our people asked for air support…so I asked the air force commander. He said that he had no authority to authorize their use. I asked the chief of the joint general staff; his answer was the same. I called several generals, and each said they had no authority. I knew that if I were to ask Thieu, he would have to consider his answer for a while, so I called the primer minister, Tran Thien Khiem.

“It’s up to you,” he replied after I had explained the situation. “Tell them that I’m okay with it.”

I called the chief of operations back and said, “Okey, use it.” He accepted my authority, and the resulting air strike was the last time we inflicted major casualties on the enemy.”  

Tướng Nguyễn Cao Kỳ lúc này chỉ là Tướng “không quân” đúng nghĩa. Không chức, không quyền, không trách nhiệm, ông không thể ra lệnh ai, và không có ai dám thi hành lệnh của ông (nếu không muốn ra Toà án Quân sự). Tướng Kỳ là một người ăn nói “ba hoa thiên địa”, ai cũng biết. Ông cũng hay nói phét. Nội cái tựa đề quyển sách “Buddha’s Child”, ông còn chua thêm câu: “My Fight To Save Vietnam” thì thật là quá đáng.

Chuẩn tướng Trần Quang Khôi, Tư lệnh Lữ đoàn 3 Xung kích cũng cho rằng chính ông đã cho lệnh đánh hai trái bom đó:

“Lực lượng địch và Lực lượng Xung kích QĐIII giằng co dữ dội trên tuyến Hưng Lộc-Ngả ba Dầu Giây. Tôi buộc phải sử dụng hai quả bom CBU-55 của Không quân Biên Hòa để chận đứng địch và giải cứu Chiến đoàn 52/SĐ18BB của Đại tá Dũng khỏi bị tiêu diệt”. (Chuẩn tướng Trần Quang Khôi – Chiến Đấu Đến Cùng).

Tuyến phòng thủ CĐ52/SĐ18BB của Đại tá Ngô Kỳ Dũng bị quân CSBV tràn ngập lúc chiều tối ngày 15.4. Tàn quân phải bỏ vị trí về Long Bình. Tuyến phòng ngự CĐ52 đã vỡ 7 tiếng đồng hồ trước khi 2 trái bom BLU-82 được xử dụng. Nếu Tướng Khôi có thẩm quyền cho lệnh đánh hai trái bom đó (giả dụ thôi), thì đánh để tiêu diệt địch chứ không phải “để chận đứng địch và giải cứu Chiến đoàn 52/SĐ18BB của Đại tá Dũng khỏi bị tiêu diệt”. Vì CĐ52 đã bị tiêu diệt rồi! Cần phải sửa lại câu văn cho chính xác. Người viết (nằm tại cao điểm Núi Thị) đã có dịp làm trung gian cho hai Tướng Khôi và Đảo nói chuyện khi Chiến đoàn 52 bị cộng quân tấn công. Qua cuộc điền đàm của hai vị Tướng, tôi không thấy có một hành động tích cực nào của Tướng Khôi để cho lực lượng của ông giải cứu Chiến đoàn 52 của Đại tá Dũng đang cơn hấp hối. Theo Trung úy Nguyễn Thanh Trường (hiện định cư tại Miami, Florida) và Thiếu úy Mai Mạnh Liêu (hiện định cư tại Rosemead, California) thuộc TĐ3/52, là những người sống sót rút chạy sau cùng cho biết, trên đường từ ngã ba Dầu Giây đến Bàu Cá, họ chỉ gặp vài chiếc xe M.48 và một toán BĐQ nằm bố trí tại vùng vườn cam gần Sở Chăn nuôi.

Hai trái bom BLU-82 được thả xuống Chỉ huy sở và Hậu cần của Sư đoàn 341 vào lúc 1 giờ sáng ngày 16.4.75. Theo Đại tướng Cao Văn Viên, TTMT/Bộ TTM/QLVNCH, chính BTTM và BTL/KQ quyết định cho đánh 2 trái bom đó. Và chỉ có 2 trái mà thôi, vì người bạn đồng minh Mỹ chỉ cung cấp 2 ngòi nổ! Tướng Viên cho biết, cuối tháng 2/1975, BTTM xin Hoa Kỳ cung cấp những trái bom chiến lược không quân có thể xử dụng được. Hoa Kỳ gửi 27 quả bom và chuyên viên huấn luyện. Giữa tháng 4, ba trái được chở đến, cuối tháng 4, thêm ba trái nữa. Một chuyên viên Hoa Kỳ đi theo để hướng dẫn. Nhưng người phi công Hoa Kỳ có trách nhiệm lái máy bay thả bom thì không đến. Trong tình trạng khẩn trương của chiến trường, BTTM và BTL/KQ quyết định tuyển chọn một phi công kinh nghiệm cho nhiệm vụ thả bom.

“Đêm 15.4.75, sau khi Cộng quân tràn ngập vùng ngã ba Dầu Giây, Tướng Toàn, Tư lệnh QĐIII, đã quyết định đề nghị BTTM cho xử dụng hai quả bom ‘Daisy Cutter’…Kết quả hai trái bom ‘Daisy Cutter’ đã loại khỏi vòng chiến khoảng 2 Sư đoàn Cộng quân (hơn 10 ngàn quân)”. (Những Sự Thật Chiến tranh Việt Nam 1954-1975).

“Vào 1 giờ sáng phi cơ thả trái ‘Daisy Cutter’ đầu tiên cách Xuân Lộc 6 cây số về hướng tây bắc. Thành phố Xuân Lộc bị rúng động như gặp động đất; tất cả đèn điện bị tắt, và truyền tin của địch ngưng hoạt động-bộ chỉ huy sư đoàn 341 CSBV bị tiêu hủy”.

“Gần những ngày tàn của cuộc chiến, cộng sản tụ quân, và thiết lập các căn cứ hậu cần ngụy trang rất sơ sài, dễ quan sát từ trên không. Đây là những mục tiêu tốt cho vũ khí chiến lược, có sức tàn phá mạnh…BTTM và BTL/KQ quyết định tuyển chọn một phi công kinh nghiệm cho nhiệm vụ thả bom. Chiếc C-130 và quả bom ‘Daisy Cutter’ cất cánh vào lúc nửa đêm…” (Đại tướng Cao Văn Viên – Những Ngày Cuối Của VNCH).

Theo Chuẩn tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3/BTTM/QLVNCH, đó là loại bom BLU-82 (Daisy Cutter), chứ không phải CBU-55:

“Tôi xin xác nhận với anh, đó là loại BLU-82 (Daisy Cutter) chứ không phải CBU-55. Tụi tôi chuẩn bị các mục tiêu theo đề nghị của các Tư lệnh đại đơn vị ngoài mặt trận…trình Đại tướng xin chấp thuận. Mục tiêu được Đại tướng chấp thuận rồi, tôi trao cho Không quân. Chỉ có Tư lệnh Không quân biết và thi hành; mọi mục tiêu đều là ‘Tối mật’ hết.” (Đại tá Hứa Yến Lến – Tuyến Thép Xuân Lộc)

Mục tiêu đánh bom là phía Nam Kiệm Tân, gần đường QL.20. Trong buổi phát thanh ngày 21 tháng Tư, đài Hànội cũng xác nhận vùng bị đánh bom là ở giữa Biên Hòa và Xuân Lộc.

  • TUYẾN THÉP XUÂN LỘC (9 tháng Tư - 20 tháng Tư, 1975)

    Sau khi trình bày diễn tiến trận đánh cho các phóng viên báo chí, ông Tướng nói tiếng Anh theo yêu cầu của một số…

  • TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT

    TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT A/- PHƯỚC LONG: TRẬN ĐÁNH THĂM DÒ Vào đầu tháng 1 năm 1975, sau gần một tuần lễ mở cuộc tấn…

  • TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU: MẶT TRẬN ĐỊNH QUÁN

    III.    TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU: MẶT TRẬN ĐỊNH QUÁN         A/- TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG 1/- Địch: Trung đoàn 812/QK6. Sư đoàn 7/QĐ4, gồm các Trung…

  • MẶT TRẬN PHÍA TÂY: NGÃ BA DẦU GIÂY

    V- MẶT TRẬN PHÍA TÂY: NGÃ BA DẦU GIÂY        1/- PHÒNG TUYẾN CHIẾN ĐOÀN 52: Chiến đoàn 52 do Đại tá Ngô Kỳ Dũng chỉ…

  • LUI BINH

    VII- LUI BINH “Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết Như một vành tang bịt đất trời! Chân theo quân rút, hồn ta ở Sông…

  • NHẬN XÉT

    VIII- NHẬN XÉT         1/- LINH HỒN TRẬN CHIẾN XUÂN LỘC Có người nói, “mạnh quân, mạnh chi tướng”. Đúng. Chiến thắng Xuân Lộc là chiến…

  • DƯ LUẬN VỀ TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG XUÂN LỘC

    IX- DƯ LUẬN VỀ TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG XUÂN LỘC             Chiến trận Xuân Lộc bùng nổ với tương quan lực lượng của hai bên…

  • TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN XUÂN LỘC

    X- TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN XUÂN LỘC 1/. ĐIỆN BIÊN PHỦ        Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tại lòng chảo Điện Biên Phủ,…

  • SỰ TRẢ THÙ MAN RỢ

    XI- SỰ TRẢ THÙ MAN RỢ        Bộ đội của cái gọi là “Quân Đội Nhân Dân” phải học thuộc nằm lòng câu: “Quân đội…

  • SÀIGÒN THẤT THỦ

    XII- SÀIGÒN THẤT THỦ 1/- NGÀY NHỤC NHÃ         Ngày 8.4.1949, Hiệp ước Élysée công nhận Chính phủ Quốc gia Việt Nam nằm trong Liên…

  • KẾT

    XIII- KẾT             Ngày 11 tháng Ba năm 1945,  Quân phiệt Nhật đảo chính thực dân Pháp, lợi dụng tình thế,  Hoàng đế Bảo Đại…

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

Nguyễn Hữu Chế – TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG