1hai ngã đường:

Thiên Chúa Giáo La-Mã

và “Hiếu Trung” đạo Nho  

1)- Giai cấp mới

Chế độ nào, giai cấp đó. Nó như là một “định chế” của xã hội.

Cùng với việc xâm lăng của Tây, một chế độ mới hình thành, “Nam Kỳ Thuộc Địa” thì miền đất Nam Phần xuất hiện những con người mới: Tổng Đốc Phương, Tôn Thọ Tường, Huyện Sĩ, Trần Tử Ca, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, v.v… Họ thuộc giai cấp mới.

Huế cũng vậy, bên cạnh các ông vua bù nhìn như Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại, thì có những ông quan to, “đầu triều” vừa bái lạy nhà vua trong điện Cần Chánh, Thái Hòa bên nầy sông Hương thì lại khép nép vô ra Tòa Khâm Sứ Tây ở bên kia sông, “thưa bẩm” với các ông Tây Thực Dân.

Đó là những người không lạ gì với dân Huế: Các ông Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khả, Phan Đình Bình, Thái Văn Toản…

Đó là giai cấp mới ở chốn vua quan, triều đình!

Họ xuất thân từ đâu ra?

Dù có nói như thế nào, người Huế vẫn thấy có một sự “hiệp đồng” giữa các ông cha cố và các ông Tây Thực Dân xâm lăng, cai trị.

Các ông cha cố chọn người cho đi học, đi tu, để sau nầy trở thành linh mục.

Ông cố Lộc, – tên Tây là Caspar? – ngồi ở nhà thờ Kim Long, chọn người cho vào dòng tu ở Pénang, bên Mã Lai. Học xong, trở về Huế. Cố Lộc sẽ chọn người, chọn ngày cho thụ phong. Nhiều ông linh mục, từ cổng nhà thờ Kim Long nầy mà ra, để làm cái công việc chăm sóc dân Chúa, thờ phụng Chúa, v.v… và giúp Tây nô lệ dân ta…

Nếu không được “ơn kêu gọi” để thành linh mục thì làm quan với Tây hay quan Nam triều, cũng có lợi cho Giáo Hội Thiên Chúa La Mã vậy! Tây đã đặt nền đô hộ, nhưng vẫn còn để lại vua ngồi làm vì, để cho “người dân An Nam” thấy mình còn vua mà không nổi loạn. Do đó, việc quan hệ giữa triều đình Huế và Tòa Khâm Sứ Huế là cần thiết. Quân sự, thuế má (vũ lực và tài chánh)… Tây nắm hết rồi, nhưng không chắc các ông vua chịu ngồi yên làm bù nhìn trên ngai vàng. Vua Thành Thái vẫn âm thầm nhiều đêm ra khỏi Đại nội, giả nói đi chơi ở Kim Long: “Kim Luông có gái mỹ miều, Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi”. “Tìm gái” chỉ là cái cớ che mắt Tây. Tây cần phải có ông quan “cận thần” bên cạnh vua, để xem “động tĩnh” của vua, có gì “khả nghi” thì mật báo cho Tây biết ngay.

Vậy mà Tây cũng không biết gì đấy: “Đội Nữ Binh” bí mật của vua Thành Thái, bị bể là từ ông Nguyễn Thân vào thăm con gái, “Đệ Nhất Giai Phi” trong cung. Việc vua Duy Tân khởi nghĩa, cũng bị bể là từ một tên Trứ nào đó!

2)- Không được “ơn kêu gọi

Ông Ngô Đình Khả là người thuộc giai cấp mới, nghĩa là ông được ông Cố Lộc cho vào dòng tu ở Pénang, để sau nầy làm linh mục.

Thông thường, các ông cố đạo, phần nhiều là người Tây phương đi giảng đạo, truyền đạo là tới các xóm làng nghèo khó, những người chân lấm tay bùn, “tay làm (không đủ) hàm nhai”. Các ông cố đạo có cái ý đồ của họ. Bài nầy không bàn về đạo Thiên Chúa La Mã ở nước ta nên không dông dài qua lãnh vực đó làm chi.

Bố ông Ngô Đình Khả là ông Ngô Đình Niệm, còn có tên là Dinh, quê ở một làng, tên chữ gọi chung là “thủy cơ”, tức là người dân sống trên sông nước, làm nghề đánh cá, đưa đò… tức là sinh sống ở một “vạn đò”, trên sông Nhật Lệ. Gia đình ông Niệm, nôm na là người “lương”, thờ cúng ông bà, thỉnh thoảng đi chùa làng, như đa số người Việt Nam. Ông nghe lời ông cố đạo nào đó, cho con theo đạo, hy vọng con cháu mình thoát ra khỏi cảnh nghèo hèn. (Nghèo hèn, không phải nghèo nàn).

Về sau, khi con làm quan, có ít tiền bạc, ông Niệm bỏ vạn đò, lên bộ, mua đất dựng nhà ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, trong lý lịch, họ Ngô khai quê ở làng Đại Phong, “bỏ quên” cái tên vạn đò của đời nghèo khổ.

Vì chỉ theo đạo từ thời ông Khả nên việc thờ cúng, kỵ giỗ ông bà phải nhờ Chùa Từ Đàm. Giữa “cậu Cẩn” và ông Trí Quang có hai mối thân tình. Việc thờ cúng nầy là một; cùng quê Quảng Bình là hai. Tôi sẽ nói thêm trong bài viết về “cậu Cẩn”.

Học ở Pénang về, ông Ngô Đình Khả cư trú ở Phú Cam, chờ cố Lộc cho đi linh mục, chờ mãi mà không thấy gì. Những người “du học” ở Pénang về, sau ông Khả, hoặc ngay cả học trò ông Khả, đều được phong linh mục cả rồi mà ông Khả thì “bất khả”.

Có lẽ biết “ơn kêu gọi” không phải từ Chúa Giê Su đến mà từ cố Lộc, nên có người, không rõ là ai, nói với ông Khả nên tìm đường mà sinh nhai, đừng trông ngóng gì ở cố Lộc nữa. Ông Khả nghe lời.

Nghèo vẫn hoàn nghèo! Ông Khả bây giờ “kiếm kế sinh nhai” bằng cách dịch tài liệu quân sự tiếng La-Tinh, tiếng Tây cho lính Tây, nhờ có cố Lý, tên Tây là Allys, cha xứ nhà thờ Phú Cam giới thiệu.

3)- Vua Đồng Khánh và Ngô Đình Khả

Sau khi “Thất Thủ Kinh Đô”, vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị rồi Quảng Bình, Tây đưa ông Ưng Kỳ lên ngôi, tức là vua Đồng Khánh.

Bấy giờ, tuy Triều Đình Huế đã thua, vua đã chạy trốn, nhưng vì vua Hàm Nghi “Xuống Chiếu Cần Vương” nên dân chúng nổi lên nhiều nơi, kiệt hiệt nhứt là cuộc kháng chiến của ông Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh. Ông Nguyễn Thân (1), làm quan Nam triều, nhưng lại được lệnh Tây đem quân đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của cụ Phan.

Khi Nguyễn Thân ra đến Hà Tĩnh thì cụ Phan Đình Phùng chết đã được 12 ngày. Tình thế “Quân Cần Vương” của cụ Phan bấy giờ yếu lắm. Nguyễn Thân ra lệnh đào xác cụ Phan Đình Phùng lên, đem đốt rồi trộn tro cốt với thuốc súng mà bắn xuống sông La, cho tuyệt diệt cái giống dòng Yêu Nước Chống Tây”.

Dĩ nhiên người dân Huế rất kính trọng cụ Phan, một phần là vì ông thuộc một dòng dõi suốt 12 đời, đời nào cũng có người đổ “đại khoa” (ít nhất là tiến sĩ). Riêng ông Phan Đình Phùng thì đổ “Đình Nguyên”, tức là đổ đầu khoa “Thi Đình”. “Thi Đình” là thi tại triều, trước mặt vua. Đời nhà Nguyễn, không lấy trạng nguyên, nên đổ đình nguyên là đổ hạng cao nhất thời bấy giờ. Ông Phan Đình Phùng là người làm nhiều chuyện “động trời”, thiên hạ đều khen.

Khi làm tri huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, ông sai lính đánh đòn ông “Cha Lục”, còn gọi là “Cố Đạo Trần Lục”, “Cha Sáu”, có khi gọi là “Ông Đạo Sáu”, vì ông nầy ỷ thế hiếp dân.

Tại triều, ông tố cáo nhiều việc làm sai trái của các quan, được vua Tự Đức khen rằng: “thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát”. (Việc nầy đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được)

Sau khi vua Tự Đức băng hà, hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lộng quyền làm việc phế lập: Phế vua Dục Đức lập vua Hiệp Hòa. Ông chống lại hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, nên bị cách chức, đuổi về quê. Khi vua Hàm Nghi kêu gọi Cần Vương, ông khởi nghĩa ở Hương Sơn.

Việc làm của Nguyễn Thân không ai có thể chấp nhận được, nói chi tới khen. Cũng có dư luận thêm rằng trong việc đốt xác nầy, ông Nguyễn Thân được sự tiếp tay của ông Ngô Đình Khả. Trong thư gởi cho Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương, để chạy tội cho các em, ông Ngô Đình Thục xác nhận việc nầy là có thực, coi như “công lao của ông Ngô Đình Khả với nước Đại Pháp”. (Xem phụ lục về ông Ngô Đình Thục).

Thật ra, sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn, ông Đồng Khánh gọi ông Khả tới, phong cho chức An-Phủ Sứ. Trên danh nghĩa đó là một cái chức lo việc “An Dân”. Trong thực tế, ông Khả không có quyền hạn gì. Người ta bảo rằng bấy giờ ông đại tá Tây Duvillier chỉ huy việc đánh dẹp quân Cần Vương ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, cần “quan thông ngôn”, nên vua Đồng Khánh gọi ông Khả đi theo ông Đại Tá Tây mà làm thông ngôn. Chức thì “An Phủ Sứ”, thực tế là “thông ngôn”.

Ở Huế, sau khi ông Diệm về nước cầm quyền, anh em họ Ngô, dù có nhắc tới “công lao” của người cha, không bao giờ nói tới việc ông Khả “tham gia” với Nguyễn Thân trong việc đốt xác cụ Phan Đình Phùng. Trong thực tế, hai “vọng tộc” nầy không ưa nhau. Bên họ Ngô thì được tiếng “chống Tây”, bên họ Nguyễn thì bị người Huế coi như là “Đại Việt Gian”.

Đối với lịch sử, việc làm nầy của ông Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả là đi ngược chiều: “Theo Tây”, hay còn gọi là “Việt Gian”, “Đại Việt Gian”.

Không bao lâu, ông Khả được vua Đồng Khánh gọi về triều, cho giữ chức “Tổng Chỉ Huy” lính của triều đình. Bấy gờ, triều đình chẳng có lính tráng gì bao nhiêu. Tây buộc giải tán hết rồi. Trong Đại Nội chỉ còn mấy ông lính Khố Vàng, làm “túc vệ và nghi trượng”, có nghĩa canh gác Đại Nội, hoặc khiêng võng, khiêng kiệu, cầm cờ cho vua hay hoàng triều khi có lễ lược hay đi lại đâu đó mà thôi.

Được bốn tháng, buồn tình, nhân dịp mẹ qua đời, ông Khả xin thôi việc, sống lại cảnh nghèo.

4)- Ngô Đình Khả và vua Thành Thái:

“Đày vua không Khả”

Vua Thành Thái là người tiến bộ, muốn đất nước canh tân theo Tây Phương. Rõ nhất là việc đặt niên hiệu cho Hoàng Tử Vĩnh San, khi Tây phế vua Thành Thái: Hoàng Tử Vĩnh San, mới 8 tuổi, ngồi lên ngai vàng thế cho cha, niên hiệu là Duy Tân. Duy Tân là theo mới.

Thứ hai, trước đời Thành Thái, triều đình chỉ có “Lục Bộ” (6 Bộ) là: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Đến đời Thành Thái, vua muốn “Duy Tân”, theo Tây học, bỏ từ chương là cách học theo lối Tàu, nên phải cải cách “Giáo Dục”, nhà vua cho mở thêm một bộ mới, như bên Tây, gọi nôm na là “Bộ Học”. Ngày nay là Bộ Giáo Dục. Ở Huế, phía ngoài cửa Hiển Nhơn, hồi xưa có mấy con đường tên là Bộ Thị, Bộ Tham, Bộ Học… Đó là những con đường mang tên các cơ quan của Nam Triều, tọa lạc trên những con đường nầy ngày trước.

Cái “theo mới” của vua Thành Thái hồi đầu thế kỷ 20 có nhiều cái “lạ”, năm chục năm sau, người Huế còn nhắc. Trước hết, tất cả các cửa thành: cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, v.v…phải phá bỏ cái “đà ngang”, còn gọi là  “con lươn” nằm ngang cổng thành, phía dưới các cánh cổng.

Để làm chi vậy?

Để cho xe hơi vua Thành Thái chạy ngang qua mà không gặp trở ngại. Hồi trước, vua đi kiệu, đi võng, tới cái “con lươn” thì người khiêng kiệu, khiêng võng bước chân qua là xong. Vua Thành Thái đi xe hơi, tới đụng cái “con lươn” làm sao qua? Binh lính hè nhau khiêng xe qua: phiền quá, có thể làm hư xe của vua, nên vua ra lệnh phá đi, để vua lái xe chạy qua cho dễ dàng.

Không rõ bên Khâm Sứ như thế nào, nhưng phía người An-Nam, thời bấy giờ, vua Thành Thái là người đầu tiên sắm xe hơi đi chơi. Ông có “một bầy” giai phi – không có hoàng hậu – ông phong làm “Đệ Nhất Giai Phi”, “Đệ Nhị Giai Phi”… Thỉnh thoảng, ông đặt một “Bà Phi” lên ngồi cạnh ông trên xe hơi, lái xe chạy vòng quanh thành phố. Ông có thêm một chiếc canô dưới sông Hương nữa, và cũng thỉnh thoảng, ông đem một “Bà Phi” xuống canô chạy quanh sông Hương. Đó là cái “mốt” chơi của vua hay người giàu có ở nước ta hồi đầu thế kỷ 20 đấy. Độc giả không nghe Trần Văn Trạch hát sao: “Nằm giường lèo, đắp chăn nệm gấm, trên ôtô, dưới thì canô…” Long sàng của vua Thành Thái như thế nào, có lẽ ít người Huế biết, nhưng “chộ” (nghĩa là “thấy” – tiếng Huế) vua lái “xe điện” – hồi đó, người Huế gọi xe ô-tô là “xe điện” – thì người ta thấy không ít lần.

Lúc ấy câu thơ “Phen nầy cắt tóc đi tu, Tụng kinh Độc Lập ở chùa Duy Tân” của cụ Phan Bội Châu chưa phổ biến, nhưng vua Thành Thái không còn chừa “búi tó củ hành” mà cắt tóc ngắn như người Âu Tây, mặc quần Tây, đi giày da, mang “ghệt”, v.v…

Cũng bấy giờ, ông Diệp Văn Cương, người miền Nam, ra làm thông ngôn cho Tây, liên hệ giữa Khâm Sứ và Triều Đình Huế. Ông Cương học giỏi, không phải là “người có đạo”, lại “dịch bậy”, nên Khâm sứ không bằng lòng chăng?

Về Việc “dịch bậy” của ông Diệp Văn Cương, xin trích một đoạn sau đây (trong Wikipedia):

 “Vua Ðồng Khánh mất, Cơ Mật Viện không dám chọn vua mới nên phải sang Tòa Khâm Sứ để hỏi ý kiến. Ông Diệp Văn Cương đang làm việc tại đây (chức vụ: Bí Thư kiêm Thông Dịch Viên cho Tòa Khâm) lãnh trách nhiệm thông dịch. Tương truyền, ông đã giúp cháu ruột của vợ là Hoàng tử Bửu Lân nối ngôi vua.”

Sách Nguyễn Phước Tộc Thế Phả (trang 39) chép:

Cơ Mật Viện hỏi: “Hiện nay vua Ðồng Khánh đã thăng hà, theo ý của quí Khâm sứ thì nên chọn ai kế vị?”. Diệp Văn Cương dịch câu trên thành: “Nay vua Ðồng Khánh đã thăng hà, Lưỡng Tôn Cung và Cơ Mật Viện đồng ý chọn Hoàng Tử Bửu Lân lên nối ngôi, không biết ý kiến của Quí Khâm Sứ như thế nào?”

Nghe vậy, quan Khâm Sứ đáp: “Nếu Lưỡng Cung và Cơ Mật Viện đã đồng ý chọn Hoàng Tử Bửu Lân thì tôi xin tán thành”. Câu này Diệp Văn Cương lại dịch là: Theo ý tôi thì các quan Cơ Mật nên chọn Hoàng Tử Bửu Lân là hơn cả”.

Vậy là ngày 2 tháng 2 năm 1889, Bửu Lân lên ngôi đặt niên hiệuThành Thái. Khi đó, vị hoàng tử này mới 10 tuổi.

Có lẽ từ kinh nghiệm “thông ngôn” của ông Diệp Văn Cương, cũng như nhận biết của nhà vua về các “quan thông ngôn” của các Công Sứ Tây ở mỗi tỉnh – Tổng Đốc, Tuần Vũ, Án Sát… không biết tiếng Tây, nhưng làm việc gì cũng phải “trình” với Công Sứ, nên mặc sức các “quan thông ngôn” nói hưu nói vượn. Nói sao các quan Nam Triều nghe vậy, nên ở các tỉnh, “trên thì Công Sứ, dưới là quan thông ngôn”.

Bấy giờ, binh lính của Triều Đình Huế bị “giải ngũ”. Trại lính thủy ở hữu ngạn sông Hương bỏ trống. Vua Thành Thái muốn các quan, hay những người sắp ra làm quan phải học tiếng Tây để các “quan thông ngôn” không còn “lộng”. Nhà vua sai ông Ngô Đình Khả “xin” với Khâm Sứ cho mở “Pháp Tự Học Đường” để các quan theo học tiếng Tây và chữ Quốc Ngữ ở đây.

Phải kể lại cái nguyên nhân nào mà ông Ngô Đình Khả làm quan ở triều đình Huế.

Sau khi mẹ chết, ông Ngô Đình Khả xin thôi làm “Tổng Chỉ Huy” đội lính Khố Vàng ở Đại Nội. Ông Diệp Văn Cương về Nam. Khâm Sứ gọi ông Ngô Đình Khả vô làm thông ngôn ở đây. Ít lâu sau, ông làm “Trưởng Phòng Thông Sự”.

Ông Bửu Lân lên ngôi khi 10 tuổi, càng ngày càng lớn, Tây thấy không yên lòng với ông vua nầy. Từ đó mà “Quan Trưởng Phòng Thông Sự” được lệnh Tây qua làm thông ngôn cho nhà vua?

Làm thông ngôn? Đó chỉ là cái cớ.

Làm thông ngôn ở Khâm Sứ là làm việc cho Tây, là “theo Tây”. Đưa một người “theo Tây” ngồi bên cạnh vua, là, như người ta nghĩ, làm “mật thám cho Tây”, nói một cách nặng nề hơn, như có người từng nói, là làm “chó săn” cho Tây. Hễ “đánh hơi” được cái gì ở nhà vua, như không chịu ngoan ngoản, ngồi yên thì báo cáo cho Khâm Sứ hay. Bấy giờ ở Huế có câu nói mỉa: Làm quan trong triều là làm “bầy tôi” cho vua. Nói lái: “Bầy tôi”“bồi Tây” là làm mật thám cho Tây bên cạnh vua. (2)

Đấy, cái “nhiệm vụ thực sự” của ông Ngô Đình Khả bên cạnh nhà vua là như vậy đấy.

Nhưng ông Ngô Đình Khả không chịu hay không làm những điều mà Tây biểu ông làm. 

Có hai điểm “tương đồng” giữa vua Thành Thái và ông Ngô Đình Khả: Muốn “Âu hóa”, tức là “Duy Tân” và vẫn bảo tồn Nho học. Từ đó mà có việc “mở trường Quốc Học”.

Nhiều người, nhất là thời Ngô Đình Diệm, gán cho ông Ngô Đình Khả cái công mở ra ngôi trường nói trên. (3) Thật ra, đó là cái ý của vua, trong cái ý muốn duy tân nước nhà, và giải quyết những khó khăn khi các quan triều đình không nói được tiếng Tây. Ông Ngô Đình Khả chỉ là người được vua giao cho nhiệm vụ liên lạc với Tây để xin mở trường. Tuy nhiên, dù không phải là người chủ xướng, ông cũng là người có công. Vì vậy, khi trường bắt đầu hoạt động, ông Ngô Đình Khả được chọn làm “Chưởng Giáo”, như hiệu trưởng vậy.

Hồi ấy, theo học ở ngôi trường nầy không phải là vinh hạnh gì đâu! Ai theo học ở đó, bị người dân Huế “chưỡi” cho đấy.

 “Theo Tây”, hồi bấy giờ có nghia là “phản lại vua” (vua là nước), là phản bội Dân Tộc, Tổ Quốc, v.v… Vì vậy, sĩ tử đi học ở trường nầy phải dấu cuốn vở (tập) và bút chì, không cho “người ta” thấy. Việc nầy, tôi có kể trong câu chuyện “Cựu Học Sanh” in trong tập “Viết Về Huế 1”, do nhà Văn Mới xuất bản.

Từ chỗ “giống nhau” như thế, và cũng là người mẫn cán, chăm chỉ nên ông Ngô Đình Khả được nhà vua yêu mến lắm.

Sau khi làm “Chưởng Giáo”, ông Ngô Đình Khả được vua Thành Thái phong chức “Thái Thường Tự Khanh” (hàm Chánh Tam Phẩm), giữ chức “Thương Biện Viện Cơ Mật”, thay vua giao tiếp với Khâm Sứ. Hai năm sau, ông Ngô Đình Khả được vua phong “Thượng Thư Phụ Đạo Đại Thần”. Năm 1902 thì thăng hàm “Hiệp Tá Đại Học Sĩ”. Năm 1905, Ngô Đình Khả lại được vua thăng chức “Tổng Quản Cấm Thành”, là chức bảo vệ vua Thành Thái.

Năm 1907, sau khi việc lập “Đội Nữ Binh” của vua Thành Thái bị bại lộ, Khâm Sứ Lévecque vận động với chính quyền Pháp, đề nghị truất ngôi vua Thành Thái. Lấy cớ vua Thành Thái bị bệnh tâm thần, Khâm Sứ Trung Kỳ biểu các đại thần ký thỉnh nguyện thư, yêu cầu Cơ Mật Viện và Chính Phủ Bảo Hộ (Pháp) truất ngôi vua và đày sang Châu Phi.

Nói cho đúng, ông Ngô Đình Khả ký vào kiến nghị truất ngôi vua làm sao được?

Xem lại một quá trình từ khi học ở Pénang về, ông Ngô Đình Khả được Giáo Hội La Mã cũng như Thực Dân Pháp cho ông ta cái gì?

Trong danh sách những người được chọn làm linh mục của ông cố đạo Caspar, người cho ông Ngô Đình Khả đi học ở Mã Lai, lại không có tên ông.

Tại sao vậy?

Không nghe nói ông Ngô Đình Khả có tư cách hay tính tình xấu, tại sao không cho làm linh mục? Có gì đây mà ông Ngô Đình Khả không được Giáo Hội La Mã đoái thương tới nữa? Nhưng rõ ràng, ông Ngô Đình Khả không được Giáo Hội chiếu cố. Ông sống khó khăn, ít được ưu đãi cho mãi tới khi ông Bửu Lân lên ngôi.

Sau khi làm quan dưới triều Thành Thái, đời ông Khả lên hương. Chức tước thì tăng nhanh như vừa nói ở trên. Có chức tước thì có bỗng lộc. Ông Ngô Đình Khả bèn phá cái nhà tranh cũ mà dựng nhà gạch tại vườn của ông trên đường lên Phú Cam, sau nầy, thời ông Diệm đặt tên là Nguyễn Trường Tộ. Không biết người đặt tên đường nầy là ai, nhưng người ta vẫn nói rằng thôi thì “phe Công Giáo” cho đi với nhau: Nhà họ Ngô theo đạo Thiên Chúa, ông Nguyễn Trường Tộ cũng là tín đồ đạo Thiên Chúa, nên lấy tên ấy mà đặt cho con đường đi ngang nhà ấy, chắc là “cậu” vừa lòng lắm.

Dựng nhà mới thì xong rồi, nhưng ông Ngô Đình Khả chưa xây cổng nhà. Nghe ông Khả xây nhà mới, vua Thành Thái đích thân đến thăm. Vậy là “tình nghĩa vua tôi” lắm. Thấy chưa xây cổng nhà, vua hỏi. Ông Khả nói là xây nhà xong, hết tiền nên chưa xây cổng được. Vua Thành Thái xuất tiền ra cho ông Khả xây cổng.

Sau nầy, khi có quyền thế, giàu có, “cậu Cẩn” cho xây nhà mới bên cạnh nhà cũ. Nhà cũ không phá bỏ đi mà cái cổng cũng giữ lại, không xây cổng mới. Người ta nói “cậu” muốn giữ lại một kỷ niệm của “ơn vua”.

Vua tôi ở với nhau như thế, nên khi Khâm Sứ Levecque biểu các quan trong triều làm đơn xin Chính Phủ Bảo Hộ truất ngôi vua, thì ông Khả ký tên vào đó thế nào được!

-Một là quyền lợi. Nhờ vua Thành Thái mà ông Khả có chức, có quyền, có lộc, có lợi. Ký tên vào tờ trình xin truất ngôi vua, như thế có nghĩa là ông Ngô Đình Khả tự truất phế cái chức phận và cái quyền lợi của ông. Vua đổ thì ông Khả không đổ theo thế nào được?

-Thứ hai, người ta ai cũng có một chút liêm sĩ, huống chi ông Khả là người có vốn liếng cả Tây Học lẫn Nho Học. Ông ký tên vào đó là không được.

Ông Khả có ký hay không, Tây cũng chẳng cần. Có bao nhiêu ông quan khác sẵn sàng ký tên vào đấy. Mấy ông quan trong triều chắc chi không ghét ông Khả vì ông Khả được vua yêu? Ông Khả mất chức thì cái ghế trống còn lại đó, lắm ông hy vọng lên ngồi vào cái ghế trống đó, rồi kéo phe cánh của mình lên theo. Dưới một triều đại suy đồi như nước ta hồi đó, sau khi Tây cai trị, có bao nhiêu việc tồi bại diễn ra, từ trong Triều ra cho tới dân dã. Cứ đọc thơ của Trần Tế Xương thì biết ngay.

Kết quả là vua Thành Thái mất ngôi, ông Ngô Đình Khả bay chức. Không những thế, ông còn bị “giáng ba bậc” và cho “về hưu non”. Gia đình ông Ngô Đình Khả phải chịu cảnh thiếu thốn. Ông vẫn sống tại Phú Cam, Huế, không tham gia việc chính sự nữa, mất năm 1923.

Sau khi lên ngôi, vua Khải Định cho xét lại trường hợp ông Ngô Đình Khả, cho phục hồi phẩm trật, và truy lãnh lương bỗng 12 năm bị huyền chức (1907 – 1919). Gia đình ông Ngô Đình Khả nhờ đó mới bớt túng thiếu.

Người ta chê anh em họ Ngô ở điểm nầy: Gia đình họ Ngô mang ơn cha (Khải Định) nhưng lại giành mất ngôi của người con (Bảo Đại): 23 tháng 10 năm 1956, “Trưng Cầu Dân Ý” chỉ hành động cướp ngôi vua mà thôi!

Ông Ngô Đình Khả lấy vợ lần thứ nhất với Madelêna Chĩu, không có con cái chi cả, bà này qua đời. Ông Khả lấy vợ lần nữa (năm 1889) với Anna Phạm Thị Thân.

Ông có tất cả 9 người con, trong đó có 6 trai:

Ngô Đình Khôi (Tổng Đốc),

Ngô Đình Thục (Tổng Giám Mục),

Ngô Đình Diệm (Tổng Thống),

Ngô Đình Nhu (Cố Vấn),

Ngô Đình Cẩn (Cố Vấn, Chỉ Đạo)

Ngô Đình Luyện (Kỹ Sư, cựu Thanh Tra Hỏa Xa).

Có 5 người “bất đắc kỳ tử”: Khôi, Thục, Diệm, Nhu, Cẩn.

Ba người con gái:

Ngô Thị Giao, tức bà Thừa Tùng.

Ngô Thị Hiệp, thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.

Ngô Thị Hoàng (bà Cả Lễ, nhạc mẫu cựu Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung thời Ngô Đình Diệm).

Người Huế nhìn ông Ngô Đình Khả theo hai mặt khác nhau: Trước hết, ông Ngô Đình Khả là “người của Tây”. Khi Khâm Sứ Pháp đưa ông Khả qua làm quan bên Triều Đình Huế, thực chất là để làm mật thám cho Tây, có nghĩa là theo dõi nhà vua, thấy có “động tĩnh khả nghi” là phải báo cáo cho Tây biết. Vậy mà khi vua Thành Thái có những hoạt động chống Tây, lập “Đội Nữ Binh” mà Tây không biết gì cả. Tây không biết vì ông Ngô Đình Khả không báo cáo cho Tây. Một là vì “khả năng tình báo” của ông Khả kém quá, ở sát bên vua mà không biết gì cả. Hoặc ông Khả có biết mà không chịu báo cho Tây hay. Biết hay không biết, Tây giáng ông Khả ba bậc, đuổi cho về hưu là điều đương nhiên. Tây trừng phạt ông Khả đấy.

Dư luận thứ hai thì cho rằng ông Khả có biết đấy, mà biết rất rõ là đằng khác, nhưng ông không chịu báo cho Tây. Có thể ông trọng hai chữ “Hiếu-Trung”. Trung với vua, không chịu báo cho Tây, hai là vì “ân tình”. Vua Thành Thái xử sự với ông Khả rất ân tình, nên ông Khả không nỡ lòng hại vua.

Dù nhìn theo lăng kính nào, việc ông Khả không chịu ký vào tờ trình truất ngôi vua cũng làm cho ông Khả “sáng” lên đôi chút. Thế vẫn còn hơn các con ông Khả sau nầy, vì quyền lợi mà “lật đổ ngai vàng” của ông Bảo Đại.

1)-Ông Nguyễn Thân làm quan triều Nguyễn, là người có công đánh dẹp Mọi Đá Vách, phía Tây Quảng Ngãi.

Mọi nầy rất thiện chiến, triều đình đã sai quan đánh dẹp, mấy lần mà không xong. Bấy giờ, triều đình sai Nguyễn Thân. Ông dùng mưu để chiêu dụ hơn là dụng binh. Ông sai người vào nói với tù trưởng Mọi Đá Vách rằng ông là “người của Trời”. Nếu không tin thì hãy thử tài. Trước mặt tù trưởng, ông sai đem ra một rỗ đá, biểu tù trưởng thử cắn một cục. Tù trưởng cắn không được cục đá. Tới phiên ông, ông cũng chọn một cục, bỏ vào miệng nhai rau ráu, lại còn khen ngon. Tù trưởng Mọi Đá Vách bái phục, xin thần phục triều đình. Thật ra, Quảng Ngãi là nơi sản xuất đường phèn, cục đường phèn trông cũng giống như cục đá. Ông sai lính bỏ vào đó vài cục. Khi tới phiên ông trổ tài, ông chọn cục đường phèn bỏ vào miệng nhai. Tù trưởng Mọi Đá Vách tưởng rằng ông nhai đá thật.

Khi Tây xâm lăng, ông theo Tây, đem quân đánh dẹp Quân Cần Vương của cụ Phan Đình Phùng. Vua Thành Thái chọn một con gái của ông làm “Đệ Nhất Giai Phi”. Bà phi nầy tham gia “Đội Nữ Binh” bí mật của nhà vua, tập đánh kiếm và bị thương nhẹ. Nguyễn Thân vào thăm con gái, biết việc “Đội Nữ Binh” của nhà vua, bèn tố cáo việc nầy với Tây. Cũng có người cho rằng việc tố cáo nầy là do ông Trương Như Cương, mục đích là để tranh ngôi cho con rể ông, Bửu Đáo, lên làm vua. Bửu Đáo là tên của vua Khải Định.   

Nguyễn Thân là nội tổ Nữ Danh Ca Minh Trang.

Trương Như Cương là nội tổ bà Sương Hà và em là bà Bích Diệp, cả hai đều là vợ dược sĩ Nguyễn Cao Thăng.

2)-Dư luận Saigon trước 1975, nói rằng Tổng Thống Thiệu có lần “than phiền” Xịa ngồi sát bên cạnh ông. Ai? Tài liệu của Frank Sneff nói là trung tướng Đặng Văn Quang. Có người nói là ông Hoàng Đức Nhã. Không rõ có ông nào cải chính không?!

(3)-Ngày 26 tháng 12 năm 1956, trường Quốc Học làm lễ kỷ niệm 60 năm, có tổng thống về dự. Bấy giờ tôi là học sinh (lớp Đệ Nhị) trường nầy. Ai cũng nói rằng ông Ngô Đình Khả là người sáng lập. Buổi lễ diễn ra ngay trước cổng trường, cổng mới xây lại, bằng xi măng, hình dạng y như cổng trường cũ. Tổng Thống Diệm, từ hướng Ga xe lửa đi xe hơi tới, bước thật nhanh, tới “tấm bình phong” ở hàng rào trường, cách cổng khoảng 50 mét, làm lễ ở đó. Ông Đại Tá Lê Văn Kim (cấp bậc lúc đó là tùy viên hay cận vệ gì đó, tôi không rõ), phải đi nhanh mới kịp tổng thống. Ông Đỗ Anh Tài, người Bắc, học sinh lớp Đệ Nhất A, đọc diễn văn chào mừng tổng thống và ngày kỷ niệm trường, “Xin nguyện học tập để xứng đáng với tinh thần Thế Hệ Ngô Đình Diệm” (Câu trong bài). Cụ Ưng Trình, thân phụ Linh Mục Bửu Dưỡng, thì “tả cảnh”: “Có người hàng ngày cưỡi ngựa đi làm ngang đây, nhìn mây nước, thấy trại lính thủy bỏ trống mà nảy ra cái ý mở một ngôi trường để sĩ tử học hành, canh tân nước nhà, góp mặt với 5 châu 4 biển” (Tôi nhớ đại khái như vậy). “Người cưỡi ngựa” là ám chỉ ông Ngô Đình Khả đấy. Lễ xong, Tổng Thống Diệm đi vào cổng, thấy có cái “băng-đờ-rôn” giăng ngang đường, giữa hai cây phượng:

“Trường Quốc Học Ngô Đình Diệm”.

Ông Diệm nói với ông Nguyễn Văn Hai, hiệu trưởng, đang đi bên cạnh Tổng Thống: “Tui còn sống, răng lấy tên tui mà đặt cho trường?”

Bấy giờ các ông “theo cụ Ngô từ trước 1954” muốn đặt tên trường là “Quốc Học Ngô Đình Khả”, vì cho rằng ông Khả là người có công mở ra ngôi trường nầy. Ông Nguyễn Văn Hai không muốn như thế, bèn đặt tên là “Quốc Học Ngô Đình Diệm”. “Cậu Cẩn” bằng lòng nên các ông kia phải chịu thua. Thâm ý của ông Nguyễn Văn Hai là biết người Tây phương kỵ việc lấy tên người còn sống mà đặt cho một cơ sở nào đó. Ông Diệm cũng tin dị đoan như vậy. Ông Diệm bảo bỏ tên Ngô Đình Diệm đi, thì trường sẽ còn lại hai chữ Quốc Học, như cái tên đầu tiên của nó. Tuy nhiên, mãi đến khi nhà Ngô sụp đổ, tên Ngô Đình Diệm mới rời khỏi hai chữ Quốc Học.

(Còn tiếp…)

Bài 2: Ngô Đình Khôi

Bà 3: Ngô Đình Thục

v.v, . . . . . . . . . . . . . . .

hoànglonghải - Nhà Họ NGÔ