nguoiviettudo – Kính Thưa các U, Bầm, Đẻ, Mẹ, Má, Mạ … còn sống hay đã khuất

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” [Không Quảng Cáo] – b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)

Hồi đó cứ một hai ngày lại bị cúp điện . Có điện có ánh sáng thì mới đi chơi còn nhìn ra ngoài trời tối hù thì phương án tốt nhất là ngồi nhà đốt đèn cầy đọc tiểu thuyết.
 
Tôi mới ở tù về, người yêu không  , bạn bè cũng không nên hay ngồi dưới chân giường nghe má kể chuyện. Má là cả một kho chuyện ngày xưa kể hoài không hết nhất là chuyện ma – bảo đảm chuyện ma của má hay hơn Nguyễn Ngọc Ngạn –
 
Con em út đã mười sáu mười bảy tuổi nằm trên giường ôm má cứng ngắc, bên kia là hai thằng cháu một nội một ngoại đứa mười hai đứa mười tuổi . Hễ tới đoạn nào  hồi hộp tụi nó chận má lại  “ má,  ( bà nội, bà ngoại) khoan cho con đi tiểu một cái “ “  đi lẹ lên hông thôi tao buồn ngủ lắm rồi tao ngủ ráng chịu.”
 
Theo lời má kể, ông bà ngoại hồi xưa giàu lắm, giàu tới mức ở dưới gầm giường có cả hai rương đầy tiền và vàng . má cũng kể thời bốn mươi lăm gia đình chạy loạn tình trạng lụn bại dần,  má cùng với mấy bà chị phụ buôn bán để nuôi gia đình. Ông bà ngoại giàu có như thế mà cuối cùng chẳng còn gì để lại cho con cái.
 
 Tôi không nhớ người thứ Tư và thứ Sáu là cậu hay dì chỉ biết năm chị em với nhau. Má Hai , má Ba là chị tới má thứ Năm và hai em gái thứ Bảy và thứ Tám ( xém chút xíu ông bà ngoại có “ Ngũ Long Công Chúa “ trong nhà). Má rất uy tín đến nỗi hai bà chị khi cần quyết định chuyện gì cũng đều nghe ý kiến của má, còn hai cô em gái thì khỏi nói, cứ “ chị Năm “ mà tâm sự từ chuyện chồng con, làm ăn mua bán thậm chí có hờn giận nhau cũng nhờ “ chị Năm “ đứng ra hòa giải.
 
Hồi đó ba là một công tử thư sinh nghèo đang sống với ông nội. Ba có chiếc xe đạp cuộc cũ , cuối tuần là dông về Thủ Đức ăn nem ở quán má Hai mà thực ra là để được nhìn má. Từ Thủ dầu Một về đến Thủ Đức bao xa tôi không biết, nhưng chưa cuối tuần nào ba vắng mặt, đôi lúc được ngày nghỉ lễ còn cộng thêm cái thăm viếng bonus. Cảm sự chân thành của ba , sau này biết được ba hiếu thảo sống cu ki với ông nội, má xiêu lòng. Mấy chục năm sau chín anh em tụi tôi hân hạnh trình diện với cuộc đời.  ( má kể, chứ ba cứ dấu kín vì sợ bị quê )
 
Chuyện ba má thương nhau tụi tôi rất trân quý, ba chưa bao giờ giở thói vũ phu dù tính ba rất nóng ( nghe nói hồi nhỏ ba đã từng đánh nhau với du đãng bằng sợi lòi tói). Ba yêu má bao nhiêu tôi không biết nhưng hầu như tuần nào ba cũng chở má và đám con trên cái xe hơi cà tàng đi ăn ngoài. Ba làm thư ký ở một nhà hàng nổi tiếng nên chuyện sành ăn thì khỏi bàn. Hồi đó lương tháng dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa đủ để gia đình tôi có một cuộc sống thoải mái.
 
Má trước đây gốc là cô giáo tiểu học, sau con đông quá má ở nhà lo cho mấy cha con tụi tôi.  Má có cả một kho tàng chuyện cổ tích, từ chuyện lịch sử cho tới thời chiến tranh bốn mươi lăm, nhưng “ tuyệt chiêu “ hấp dẫn nhất là chuyện ma.
 
Một hôm cúp điện, như thường lệ, đứa em gái út chiếm chỗ thượng phong nằm bên má ôm thật chặt, hai thằng cháu ( mấy đứa con của chị Ba ,  anh Tư  ) dành phần bên kia , còn tôi thì ngồi dưới chân giường. “ Má, kể chuyện ma đi má, đứa nào đi rót cho bà ( nội, ngoại) ly nước coi bay” “ Sao Út không đi?” “ tao sợ ma! “ 
 
Vậy là nước non đầy đủ, má bắt đầu.

Thình lình đang giữa câu chuyện, con em út tôi ngồi bật dậy “ Má, má chơi ăn gian, chuyện này má kể rồi, chỉ thay đổi tên thôi hà!” hai thằng cháu cũng phụ hoạ “ Bà ( nội, ngọai) ăn gian, chuyện này nghe rồi “ má cười ha hả “ Tụi bây cứ bắt tao kể hoài, chuyện đâu mà cho đủ “ . Sau này tôi mới biết cái  mánh của má : cùng một câu chuyện chỉ cần đổi tên nhân vật, chẳng hạn con ma hôm qua tên Mai hôm nay sẽ biến thành Hồng, ông phú hộ gian ác mấy bữa trước là Năm hôm nay cộng thêm hai nút thành Bẩy.  (  Tôi áp dụng mánh của má để kể chuyện cho thằng con lúc nó mới chín mười tuổi.)
 
Hồi trước năm bảy mươi lăm, đoàn kịch Kim Cương rất nổi tiếng trên truyền hình, ai coi cũng phải khóc nước mắt ngắn nước mắt dài. Có kịch Kim Cương là cả nhà bỏ hết mọi chuyện quây quần chung quanh cái TV.  (Thoại kịch ban nầy thuộc loại câu nước mắt hạng nhất.)
 
Một lần đang coi tới đoạn thê thảm nhất, tôi lén đưa mắt nhìn quanh xem phản ứng của đồng bào, tôi thấy từ “ đồng chí tổng thống “  (  ba ) cho tới các “ đồng chí nhân dân “ phụ nữ ai cũng rơm rớm, có đồng chí nữ mặt méo xệch, nước mắt chảy không cần chùi. Tôi thấy cười quá mà không dám, cho tới khi ánh mắt tôi bắt gặp “ nữ đồng chí thủ tướng “ ( má ) đang nằm ngủ ngon lành, tôi bật lên thành tiếng giữa những câu phản đối “ thằng quỷ dô diên!”. Thì ra mệt quá sau một ngày ngồi bán cơm tấm, cộng thêm cái khổ của diễn viên chính nhẹ hều không thấm vào đâu so với mình nên má thấy chán. Sáng hôm sau tôi hỏi chọc quê má “ Kịch hôm qua hay hôn má ?” “ Hay!!” má trả lời !!.
 
Trong năm chị em, má “ lên đường “ sớm nhất , may cho tôi còn về kịp để ở bên má được hai năm. Ngày trở về sau sáu năm tù , tôi mừng tủi vì nhà còn nguyên. Chị Ba tôi ngồi trước cửa canh me mấy thằng công an (  chị Sáu tôi cho mướn chuyện lậu, chuyện chưởng, chuyện kiếm hiệp phía trong… để kiếm sống ). Chị Sáu tôi dặn khách dấu kín cuốn chuyện đề phòng tụi CA nhưng có nhiều cha đi tơn tơn ngoài đường gần đến nơi mới chịu nhét vào bụng. Bởi vậy sau này bị đổ bể chị phải ngồi tù vài tháng.( Sau năm 75, đọc bất cứ cái gì thuộc về VNCH nhất là chuyện kiếm hiệp Kim Dung là thứ giải trí số một. Cái nào CA càng cấm càng hút khách.)

Do đó vừa thấy tôi xăm xăm đi vào nhà chị Ba tôi kêu to  “ anh này đi đâu vậy? “ tôi suyt “ Đừng có la “ chị nhận ra tôi “ Má ơi, thằng Bảy nó về rồi nè !” tôi thấy má  chạy từ trên lầu xuống đằng sau là ba “ Chúa ơi, con về rồi hả con? “ Tôi chỉ kịp thốt lên “ Má, ba!” rồi nước mắt cứ tuôn ra.
.
Má hỏi “ Con có đói không con, muốn ăn cái gì không để má mua? “ má ơi! Sao trái tim người mẹ nào cũng vĩ đại hết vậy? Má lật đật xách tô mặc dù mấy chị em gái của tôi đứng chung quanh đó. Má muốn tự tay mình!.
 
Có lần tôi không biết mình đã làm gì cho má buồn má bỏ nhà đi bộ ra nhà thờ Đức Bà ngồi ở công viên. Chị Ba tôi chửi tôi một trận rồi đạp xe đi tìm má. Khi má trở về tôi không nhớ mình có mở miệng được mà nói với má một lời xin lỗi. Nỗi đau đó vẫn còn dày vò tôi cho tới tận ngày hôm nay!!
 
Má giỏi lắm, không giỏi sao được khi nhân khẩu trong gia đình có khi vượt qua con số mười. Hồi trước 75 ba còn đi làm, nhưng khi VC vô thì cả nhà chỉ trông nhờ vào tài xoay sở của má. Chưa bao giờ má cất tiếng than mặc dù phải cáng đáng luôn cả mấy người cháu bên ba. Thời buổi căng thẳng nhất về kinh tế má vẫn có đủ cơm gạo cho tất cả mọi người.
 
Sau này khi được phép gởi quà, anh tôi ở Mỹ thỉnh thoảng vẫn chắt chiu cùng với chị đóng gói hàng hoá về cho ba má. Nhà có con chuột chũi, mỗi lần nó kêu chít chít là thế nào vài ngày sau gia đình nhận  giấy đi lãnh quà. Mỗi lần được chút ngoại tệ như vậy ba mới dám xài sang ra chợ mua ít cà phê, sữa, đường và chà là , món má rất thích. Hồi nào sáng chiều cà phê sữa đầy đủ, bây giờ ba chỉ cho phép mình được  tận hưởng “ thú đau thương “ hạn chế. Ba lịch sự lắm, pha xong cho mình một ly cối, ba làm ly thứ hai nước giảo cho má ( không phải ba hà tiện mà tại vì má không uống được cà phê đậm ), rồi ba bưng lại tận tay má “ Uống miếng đi bà! “ . Má và cái đám xây lố cố tụi tôi chia nhau vừa nhắp vừa tấm tắc “ Má, cà phê sữa đã quá há má “
Sau này khi má đã mất ba vẫn giữ thói quen đó, pha ly cà phê để trên bàn thờ má, đi qua đi lại thấy ly cà phê vơi hết hơn phân nửa mà má đâu có uống!  ( thủ phạm là tụi tôi!  ). Ăn cơm cũng vậy ba bới một chén để riêng với đôi đũa dành cho má ,  chén cơm ba sẽ ăn sau cùng.
 
Ngày má mất tôi vẫn còn nhớ như in. Sáng hôm đó sau khi bán hết cơm má đi thu dọn chén đĩa ngoài chợ  . Chị em gái tôi ngồi bán, còn tôi sau khi ở tù về cứ quanh quẩn trong nhà vì kiếm không ra việc làm. Tôi để ý thấy mặt má thất sắc, xám ngoét. Má có vẻ mệt mỏi lắm vào trong nhà tìm ngay chỗ nằm nghỉ. Tối hôm đó má ăn được miếng cơm, đọc kinh xong giữa đêm bỗng dưng bà la lên “ Ông ơi tôi chết rồi! “. Thằng cháu nội ngủ với má ôm lấy bà khóc nức nở. Từ đó cho đến ngày ra đi má không tinh lại một giây phút nào. Mấy ngày trước cũng khoảng nửa đêm tự dưng tấm kiếng rất lớn trên gác rơi xuống đất bể tan nát. Có sự trùng hợp nào chăng?
 
Má Hai má Ba kịp về Saigon để nhìn mặt em lần cuối. Đám tang má xong ba ngày sau thì hai bà lên máy bay đi Mỹ. Hai người em (dì Bảy,  dì Tám ) người ở Canada, người ở Mỹ được tin “ chị Năm “ mất mà bàng hoàng. Chị dâu tôi sau này kể lại anh tôi nhận điện thoại báo,  lẳng lặng đi xuống basement ngồi khóc một mình. Khi chị biết chuyện hai vợ chồng ôm nhau trong nước mắt.  
 
Cả bốn bà dì tôi người nào cũng trên tám mươi mới chịu ra đi chỉ duy má “ giã từ vũ khí “ lúc vừa hơn sáu chục vì chịu hết nổi cuộc sống dưới chế độ của mấy thằng VC. ( Nếu má còn sống và kịp sang đây thế nào mấy cha tổng thống Mỹ cũng mời má ra làm Bộ Trưởng Kinh Tế. Nuôi nổi một gia đình hơn chục miệng ăn mà chẳng ai đi làm lụng gì ra tiền dưới sự cai trị của VC thì làm Bộ Trưởng Kinh Tế chẳng qua chỉ đơn giản như đang giỡn.
 
Đứa em gái út của tôi có nghề làm móng cứ ôm má mà khóc. Nó nói trong nước mắt “ Để con làm một bộ móng thiệt đẹp cho má đi gặp Chúa nghe má “. Mấy chị tôi thay cho má chiếc áo dài gấm chỉ mặc có mấy lần trong đám cưới anh Tư anh Năm và lần ăn mừng ba được thăng chức trong company.
 
Giờ má nằm đó đẹp như hồi thời con gái với chiếc áo dài không có dịp xử dụng từ thời kỳ VC . Em tôi điểm chút son trên đôi môi, chút phấn hồng trên gò má xanh xao, tôi thấy hình như những vết nhăn trên trán má giãn ra như trong một giấc ngủ yên bình . Dù sao má cũng ấm áp vì chung quanh đầy đủ những người thân yêu chỉ duy khóe môi hơi trễ đi như muốn khóc , nhớ đến đứa con trai thứ Tư  còn trong tù không biết ngày nào sẽ trở về.
 
Tôi chưa bao giờ được nhìn thấy một Thiên Thần nhưng chắc mấy vị đó cũng chỉ đẹp như má của tôi trong bộ áo dài gấm.  ( Bây giờ ba má đang ở Việt Nam trong một nhà thờ. Có muốn đi thăm cũng không được, đành chịu thôi )
 
Má, con viết mà cố gắng đẩy ngược những giọt nước mắt vào bên trong. Má thương yêu của con, anh hùng của con giờ đây ba má đang nắm tay nhau trên Thiên Đàng kề cận Thượng Đế . Ba má lại được yêu thương nhau như hồi xưa, ba má chờ tụi con với ,rồi đây gia đình mình sẽ lại sum họp, tụi con lại được “ Bà Năm Mắt Kiếng “ kể chuyện ma ( chỉ đổi tên nhân vật ) cho nghe và “ Ông Thầy Giáo Năm “ sẽ pha cho mấy má con mình ly cà phê sữa bự tổ chảng .
 
Mấy cháu nhỏ ơi ! có dịp nên ôm ba má mình mà hôn, mà nói những lời thương yêu. Đừng chờ  tới khi song thân khuất núi thì mọi chuyện đã quá muộn màng. Biết đâu nhờ vào những cử chỉ đó ba má sẽ vui mà sống thêm vài chục tuổi với mình.
 
Kính Thưa các U, Bầm, Đẻ, Mẹ, Má, Mạ … còn sống hay đã khuất. Các ngài là chỗ dựa, là tình yêu là tất cả đối với con cái. Nguyện cầu Chúa ,Phật, Trời ban mọi ơn lành cho các ngài để các ngài được hưởng hạnh phúc bên con cháu
 
Kính thưa các Thầy, Cậu, Bố, Cha, Ba  , Tia…xin Ơn Trên ban phúc lành cho các ngài để có đủ sức khỏe mà nắm tay các U, Bầm, Đẻ , Má,  Mẹ đi hết đường trần. Xin các ngài cũng nên lịch sự mà pha cà phê , đấm bóp, nói lời nhẹ nhàng yêu thương đối với người bạn đường để con cái noi theo.
 
Vạn tuế các bà mẹ!!

Đã xem 10332 lần

Giới thiệu từ Quán văn

  • Minh Đức Hoài Trinh – nữ sĩ tài hoa và bài ca bất tử “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”
    Người phụ nữ xinh đẹp và ăn mặc rất có gu này là Minh Đức Hoài Trinh, tác giả bài thơ “Kiếp nào có yêu nhau” mà nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ lên đó những nốt nhạc buồn man mác. Tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà là một nhân vật hiếm có. Bà thông thạo ba ngoại ngữ là Anh, Pháp, Hoa. Bà làm thơ, viết văn, viết kịch bản sân khấu, viết báo và dạy cả đàn tranh. Nhưng tất nhiên, người ta chỉ biết đến bà nhiều nhất thông qua 2 bài thơ được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc là “Kiếp nào có yêu nhau” và “Đừng bỏ em một mình”. Đây là 2 trong số hơn 10 bài mà ông Phạm Duy lấy chủ đề là “hiện sinh và cái chết”. Hoài Trinh từng thừa nhận: Nếu không có nét nhạc thần tình của Phạm Duy, thì ‘Kiếp nào có yêu nhau’ đã không có một sức sống mãnh liệt đến thế. Bài hát mở đầu với một lời nửa yêu cầu, nửa van xin, được cất lên một cách đầy thảng thốt: ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’”. Hoài Trinh không bao giờ nói quang cảnh của cuộc gặp gỡ trong bài thơ này là khi nào. Nhưng người nghe bàng bạc nhận ra nó là cõi mộng. Đó là cái cõi mà Phạm Duy từng đau khổ đến mức muốn “giết người trong mộng vẫn đi về” sau này. Bài “Kiếp nào có yêu nhau” rất đau khổ, nhưng qua giọng hát của ca sĩ Thái Thanh còn được phủ thêm một chút liêu trai. Nếu nghe thêm bản “Đừng bỏ em một mình” cũng của Hoài Trinh, nói về lời van xin, năn nỉ của một cô gái… đã nằm dưới đáy mộ, sẽ càng nhận ra: quang cảnh của cuộc gặp gỡ này khó có thể ở ngoài đời thực. Trong một đoạn sau, Hoài Trinh viết: “Kiếp nào có yêu nhau Nhớ tìm khi chưa nở Hoa xanh tận ngàn sau Tình xanh không lo sợ” Đoạn thơ ấy nghe như một lời trăn trối. Nhưng Phạm Duy còn sợ thính giả chưa hiểu, đã cẩn thận thêm vô mấy câu không có trong bài thơ gốc: “Đôi mi đã buông xuôi, môi răng đã quên cười”. Bài thơ lẫn bài hát là sự dằn vặt muôn đời của những kẻ yêu nhau. Ở đây, nỗi dằn vặt ấy lại mang một màu sắc rất phụ nữ. Nàng quay mặt đi và bảo “Anh đừng nhìn em nữa”, nhưng đến câu áp chót lại thảng thốt lần nữa: “Anh đâu, anh đâu rồi”. Bài này, nhạc sĩ Phạm Duy sửa lời nhiều, không phải vì ông không có khả năng giữ nguyên tác mà vì ông sợ người ta không thật sự cảm được tinh thần bài thơ. Bởi nếu chỉ là chuyện yêu đương bình thường, giận hờn bảo “Đừng nhìn nhau nữa” thì không có gì đặc biệt. Nhạc sĩ Phạm Duy sửa lời một vài chỗ để nổi bật sự bất lực của con người, tình yêu và thân phận trước cái chết. Những người yêu nhau có thể làm gì trước tạo hóa, trước “trăng thu gãy đôi bờ, chim bay xứ xa mờ”. Họ còn biết làm gì trước cái chết, ngoài việc “Nhắn cho ta. Hoa xanh đã bơ vơ. Đêm sâu gối ơ thờ”. Hoài Trinh là một trong những “Huế nữ” mà Phạm Duy đã gặp những ngày ở Huế khi đi theo gánh hát của Đức Huy hơn nửa thế kỷ trước. Họ gặp nhau lần thứ hai ở vùng kháng chiến. Phạm Duy kể khi nàng rời Huế để ra vùng kháng chiến đã mang theo “đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô”. Lần thứ ba tương hội là ở Paris. Họ đã nói với nhau những chuyện gì, giữa họ là một mối giao tình văn nghệ nào rất ít người biết. Chỉ biết Phạm Duy đã trổ hết tài nghệ để chấp cánh cho hai bài thơ của nàng. Trong đó, “Kiếp nào có yêu nhau” xứng đáng được gọi là một kiệt tác. Ca khúc có những đoạn chuyển rất đột ngột để diễn tả cái tột cùng của tình yêu lẫn khổ đau. Nữ trung Thái Thanh, nam trung Tuấn Ngọc. Cả hai đều đã hát bài này và đưa cái buồn lên tột đỉnh sầu. “Đừng nhìn em nữa anh ơi  Hoa xanh đã phai rồi  Hương trinh đã tan rồi Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa anh ơi  Đôi mi đã buông xuôi, môi răng đã quên cười.  Hẳn người thôi đã quên ta  Trăng Thu gẫy đôi bờ  Chim bay xứ xa mờ. Gặp người chăng, gặp người chăng, nhắn cho ta  Hoa xanh đã bơ vơ đêm sâu gối ơ thờ. Kiếp nào có yêu nhau  Thì xin tìm đến mai sau  Hoa xanh khi chưa nở  Tình xanh khi chưa lo sợ Bao giờ có yêu nhau  Thì xin gạt hết thương đau  Anh đâu anh đâu rồi?  Anh đâu anh đâu rồi? Đừng nhìn nhau nữa anh ơi  Xa nhau đã xa rồi, quên nhau đã quên rồi  Còn nhìn chi, còn nhìn chi nữa anh ơi  Nước mắt đã buông rơi theo tiếng hát qua đời  Đừng nhìn nhau nữa… anh ơi!” Nguyên tác bài thơ của Minh Đức Hoài Trinh: Anh đừng nhìn em nữa Hoa xanh đã phai rồi Còn nhìn em chi nữa Xót lòng nhau mà thôi Người đã quên ta rồi Quên ta rồi hẳn chứ Trăng mùa thu gãy đôi Chim nào bay về xứ Chim ơi có gặp người Nhắn giùm ta vẫn nhớ Hoa đời phai sắc tươi Đêm gối sầu nức nở Kiếp nào có yêu nhau Nhớ tìm khi chưa nở Hoa xanh tận nghìn sau Tình xanh không lo sợ Lệ nhoà trên gối trắng Anh đâu, anh đâu rồi Rượu yêu nồng cay đắng Sao cạn mình em thôi Nói rõ thêm mối lương duyên của nhạc sĩ Phạm Duy và nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, là người đã được nhạc sĩ nhắc tới trong bài Tình Ca nổi tiếng: Biết ái tình ở dòng sông Hương…  Năm 1943, nhạc sĩ Phạm Duy theo gánh hát Đức Huy tới Huế vào một ngày êm đẹp. Cảm xúc ngày ấy như vẫn ngọt lịm trên từng giác quan người nhạc sĩ. Ông hồi tưởng: “Ai tới Huế lần đầu tiên cũng đều cảm thấy như vừa gặp một nơi để biết ái tình ở dòng sông Hương… vì những bầy “Huế nữ” không những đẹp thôi, ăn nói lại mặn mà có duyên. Tôi may mắn được quen biết mấy chị em trong một gia đình quyền quý và được mời tới dinh thự Hương Trang ở Nam Giao chơi… Trong số đó có một cô gái rất trẻ tên là Võ Tá Hoài Trinh. Cô này còn làm thơ nữa, lấy bút danh Minh Đức Hoài Trinh… Nói rằng tôi biết ái tình ở dòng sông Hương là thế, nhưng lúc quen nhau rồi thì cũng phải xa nhau. Tôi tiếp tục sống đời giang hồ, người mới quen dần trôi vào dĩ vãng…”. Cuộc đời Phạm Duy, không ít những cuộc gặp đầy lưu luyến, song phần lớn chỉ là đôi ba khoảnh khắc ngắn ngủi rồi muôn trùng cách biệt. Trường hợp của nữ sĩ Hoài Trinh có thể gói trọn trong một chữ “duyên”. Năm 1948, nơi không gian nhỏ hẹp là khu vực của làng văn nghệ Quần Tín (tỉnh Thanh Hóa) vào thời gian mà cuộc toàn quốc kháng chiến đã gần đi vào năm thứ hai. Phạm Duy kể: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân… bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con… ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ. Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”. Minh Đức Hoài Trinh, trong ký ức của Phạm Duy là một người phụ nữ có tính cách mạnh mẽ pha chút “bạt mạng”. Thói đời thích ban cho người đàn bà đẹp cuộc sống trắc trở. Có lẽ vì thế mà đằng sau mỗi nhan sắc yêu kiều thường là tâm hồn cứng cỏi vượt lên mọi nghịch cảnh. Cuộc giao duyên thơ – nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy và nữ sĩ Hoài Trinh đã kịp cho ra đời hai bản tình: Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình. “Nhạc tình của tôi trong loại nhạc tình cảm tính, nhạc của lứa đôi, nên tôi rất chú trọng tới chữ “nhau”: Cho nhau, Đừng xa nhau… Một bài thơ cũng ở trong chữ ”nhau” của Hoài Trinh đã nói lên mối tình xanh vẫn còn lo sợ… Bài thơ nhan đề Kiếp nào có yêu nhau… Anh đừng nhìn em nữa Hoa xanh đã phai rồi Còn nhìn em chi nữa Xót lòng nhau mà thôi Cả bài thơ là một sự nức nở, nghẹn ngào, tiếc nuối… để có thể làm cho người đọc thấy trong lòng buốt giá, tái tê, chết lặng. Chắc bạn đọc cũng thấy bài thơ phổ nhạc được tôi thêm câu, thêm chữ. Phổ nhạc là chấp cánh cho thơ bay cao. Bài thơ ngắn ngủi, cô đọng này, vì có thêm chữ nên không còn tiết vần đều đều, bằng phẳng nữa. Bây giờ nó quay cuồng theo nét nhạc, câu nhạc. Giai điệu của câu “đừng nhìn em nữa anh ơi” chuyển rất đột ngột, đi từ nốt trầm lên nốt cao nhất với hai “nhẩy bực” quãng 5 để diễn tả sự tột độ của tình cảm. Cái syncope sau câu “đừng nhìn em” làm cho mọi người thấy được sự nghẹn ngào của bài thơ và bài hát… Nói thêm cho rõ: ca khúc gồm 154 chữ, dài gấp rưỡi bản gốc. Bản gốc là thơ năm chữ theo luật thi, nhịp lẻ; ca từ nhịp chẵn 6-10 theo sườn lục bát vần lưng kết hợp với vần chân; hai câu ngũ ngôn trở thành bát cú (hémistiche) cho câu 10 từ với vần giữa câu. Như vậy, chỉ về âm luật thôi, bài hát đã khác bài thơ. Những câu, những từ, những âm (đừng… đã) luyến láy tạo ý nghĩa mới cho lời thơ – chưa kể nhạc thuật phong phú, tha thiết mang chất bi kịch. Hẳn người thôi đã quên ta! Trăng thu gẫy đôi bờ, chim bay xứ xa mờ. Gặp người chăng? Gặp người chăng, nhắn cho ta Hoa xanh đã bơ vơ, đêm sâu gối ơ thờ. Về bài thơ “Đừng bỏ em một mình”. Sau khi đã thu xếp gọn gàng cuộc tình mười năm với những tình ca đôi lứa như Ngày đó chúng mình, Đừng xa nhau, Con đường tình ta đi… rồi chia tay với người yêu qua những tình ca một mình như Mùa thu chết, Tình hờ, Giết người trong mộng… tại Midway City, vào năm 1970, tôi phổ nhạc một bài thơ như gửi từ dưới mộ: Đừng bỏ em một mình Khi trăng về lạnh lẽo Khi chuông chùa u minh Chậm rãi tiếng cầu kinh Đừng bỏ em một mình Mấy ngàn năm sau nữa Ai mái tóc còn xinh Đừng bỏ em một mình Tôi còn gặp lại Minh Đức Hoài Trinh thêm một lần nữa khi chúng tôi di cư qua Mỹ, tới ngụ cư tại Midway City. Nàng cũng tới thị trấn giữa đàng và ở nhà xế cửa nhà tôi”. nhacxua.vn biên soạn Nguồn tham khảo:
    • Tác giả Hữu Thanh
    • Báo Thanh Niên

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.