Nguyễn Nhân Trí – Triết Lý Thích Ca dưới Cái Nhìn của Tôi

Các hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng chúng ta có ngày nay là sự tích lũy của các sản phẩm văn hóa và lịch sử. Con người tạo dựng lên những hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng nầy từ ngàn xưa để đáp ứng với nỗi băn khoăn tâm linh tối trọng của họ, và trong quá trình nầy họ đã trở thành nô lệ của chúng.

Nỗi băn khoăn tâm linh tối trọng của con người là “Nếu sự chết không thể tránh được thì ý nghĩa và mục đích của sự sống là gì?”

Nỗi băn khoăn nầy vẫn chưa và có lẽ sẽ không bao giờ giải tỏa được. Tuy nhiên, kiến thức và môi trường sống của con người đã thay đổi rất nhiều trong vài thế kỷ gần đây; do đó các hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng xưa cũ trên cũng cần nên thay đổi một cách thích ứng.

Một trong những triết lý cơ bản của Thích Ca cho rằng “tất cả mọi sự vật đều thay đổi, không có gì trường tồn”. Nếu còn tiếp tục bám víu vào những công thức cổ hủ của Phật giáo mà cho rằng một tôn giáo không bao giờ thay đổi là đi ngược lại với triết lý nầy. Bám víu vào các hệ thống tín ngưỡng là đi lạc hướng ra khỏi con đường Phật pháp.

Chủ trương của Thích Ca là nghi vấn. Trách nhiệm của mỗi Phật tử là nghi vấn và tiếp tục nghi vấn. Nghi vấn ở đây không có nghĩa là “hoang mang không biết làm gì” hay là vì ngu dốt. Nghi vấn ở đây có nghĩa là không chấp nhận vô điều kiện bất cứ điều gì trước khi chất vấn, khảo nghiệm tận tường.

Đây là những sự thật không di dịch, đó là “Mỗi người chúng ta sinh ra một mình và sẽ chết một mình” và “Sự chết chắc chắn sẽ xảy ra bất cứ lúc nào đến bất cứ người nào”. Bám víu vào bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào cũng không thể làm thay đổi được các sự thật đó. Nhận thức và chấp nhận được sự thật nầy là điều kiện tối cần thiết của con đường giải thoát.

Đặt niềm tin vô điều kiện vào một hệ thống tín ngưỡng (hay một tăng sư nào đó) là trốn tránh trách nhiệm với chính mình bằng cách ẩn núp sau bức màn che chở của những quan niệm và thành kiến sẵn có.

Một trong những nguyên tắc thiền định cổ điển liên quan đến 3 phần tử: mối tự tin, sự nghi vấn, và lòng dũng cảm. Đó là “Tự tin rằng mỗi người có đủ khả năng và can đảm dùng những mối nghi vấn để tự dẫn họ đến sự tỉnh thức”.

Tôi chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi triết lý đạo Phật, đồng thời tôi không chấp nhận một số khái niệm cơ bản của cái tôn giáo gọi là Phật Giáo. Thí dụ như tôi xem Phước Nghiệp, Nhân Quả, Luân Hồi, Giải Thoát chỉ là những vấn đề thứ yếu. Tôi không chú trọng vào việc chúng có thật hay không vì theo tôi thì không có bằng chứng thực tế nào cho thấy chúng có thật. Chúng chỉ có thể cung cấp một cách trả lời cho câu hỏi “chuyện gì xảy ra sau khi chết?” Tuy vậy, các câu trả lời loại nầy chỉ làm bế tắc quá trình nghi vấn cần thiết để đưa con người nhận thức được và chấp nhận sự thật.

Tôi cho rằng Thích Ca không phải là một nhân vật có huyền phép gì cả. Sự giác ngộ của ông không đem đến cho ông thần thông hay quyền lực siêu phàm. Khi giảng giải về sự giác ngộ cho các đệ tử, ông chỉ nói về sự tỉnh thức sau khi khám phá ra niềm tự do toàn hảo của trái tim và lý trí khỏi sự tham muốn. Do đó ông cho rằng không những ông mà bất cứ ai khác khi hiểu nhận được sự thật thì cũng có thể đạt đến sự giác ngộ nầy. Do đó ông cho rằng “trong mỗi người đều có Phật tính” và do đó “bất cứ ai cũng có thể trở thành Phật cả”.

Tôi cho rằng sự giác ngộ của Thích Ca đã bị các đệ tử thần thánh hóa bằng cách thêu dệt những chi tiết huyền bí vào mọi lãnh vực của cuộc đời của ông. Họ muốn và cần có một giáo chủ có khả năng cứu độ họ khi họ cầu xin khẩn nguyện. Triết lý và phương cách dẫn đến sự giác ngộ của Thích Ca dần dần được sửa đổi và hệ thống hóa thành cái gọi là Phật Giáo ngày nay.

Khi Phật Giáo càng phát triển với thời gian thì đủ mọi khái niệm huyễn hoặc như Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, cứu độ, v.v. được những người xem là thông hiểu Phật pháp pha chế và tạo dựng thêm ra.

Tôi cho rằng thần thánh hóa ý niệm và phương cách giác ngộ của Thích Ca xuất phát từ lòng tham lam và ngu muội của con người. Tham lam mong muốn có một bậc thầy đầy huyền năng, ngu muội tưởng tượng rằng sự sống sẽ tiếp tục vĩnh cửu. Và từ đó, những người tự gọi là Phật tử đã tiêu hủy chiếc cầu chính yếu trên con đường dẫn đến mục tiêu giải thoát tối hậu mà Thích Ca đã chỉ dẫn.

Theo lịch sử, Thích Ca luôn luôn từ chối trả lời các câu hỏi về thế giới siêu nhiên và khẳng định rằng ông chỉ giảng dạy về phương cách nhận diện và đoạn trừ đau khổ. Thích Ca cũng đề xướng rằng “Mỗi người cần phải theo đuổi sự phán đoán của mình cho đến hết khả năng của mình và không chấp nhận điều gì trừ khi nó được biện chứng rõ rệt”. Và “Mỗi người chịu trách nhiệm với chính họ về sự giác ngộ của mình”.

Tôi cho rằng triết lý mà Thích Ca đề xướng mang tính chất “bất khả tri”. “Bất khả tri” ở đây không có nghĩa là “con người không có đủ khả năng để nhận biết hay xác định được sự hiện hữu, hay không, của thượng đế”. Tính chất “bất khả tri” trong triết lý của Thích Ca xác định sự “Tôi không biết” và khuyến khích hành giả luôn luôn chất vấn và khảo nghiệm mọi vấn đề trong mọi lãnh vực của sự sống. Thái độ nầy cho phép hành giả chấp nhận sự hiện diện của những bí ẩn trong vũ trụ đồng thời tập trung để tìm hiểu và tận hưởng cuộc sống trong thực tế hiện tại.

Những triết lý nguyên thủy đề xướng bởi Thích Ca nầy đã bị tiêu hủy đi khi cái gọi là Phật Giáo được thành hình và càng ngày càng hệ thống hóa như chúng ta thấy ngày nay.

Cái gọi là Phật Giáo hiện nay và những lý thuyết cũng như thực hành trong nền tín ngưỡng nầy là những chòi lá mà Phật tử dừng chân lại trú ẩn giữa đường mưa gió. Những chòi lá nầy êm ấm và tiện nghi đủ để hành giả quên hẳn mục đích của họ và không thấy rằng con đường duy nhất đi đến mục đích đó vẫn còn xa lắm.

Theo tôi thì hành giả cần từ bỏ một phần rất lớn cái hệ thống tín ngưỡng trong Phật Giáo hiện nay.

Theo tôi thì mục tiêu tối hậu của Phật pháp nằm trong Tứ Diệu Đế. Hành giả cần nhận thấy rằng Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, cứu độ, v.v. chỉ là những khái niệm huyễn hoặc vô căn cứ và không cần thiết; các phương thức cúng bái, tụng niệm, nghi lễ chỉ là những hình thức rườm rà và vô ích. Chú trọng vào những khái niệm và phương thức nầy chỉ làm phân tâm hành giả trên con đường đi đến mục tiêu tối hậu của họ.

Có người cho rằng từ bỏ tín ngưỡng cũng như từ bỏ chiếc bè trước khi đi đến bờ sông bên kia. Họ cho rằng chiếc bè tín ngưỡng cung cấp một phương tiện cần thiết để những người chưa thấu hiểu Phật Giáo có cơ hội dần dần đi qua bên kia bờ sông. Nếu không thì những người nầy không có khả năng để nhảy liền một bước đến nơi họ cần đến.

Tôi không có vấn đề gì với chiếc bè. Tôi có vấn đề với sự bám víu khư khư vào chiếc bè như là cứu cánh tối hậu. Nếu không chịu, và không dám, buông bỏ chiếc bè đó ra sớm đúng lúc thì hành giả sẽ không bao giờ bước được lên bờ sông bên kia. Đời người rất ngắn ngủi, một ngày không xa nếu không chịu rời bỏ chiếc bè thì hành giả và chiếc bè sẽ trôi theo dòng thời gian ra mất giữa biển khơi.

Thích Ca chú trọng vào hiện tại và cuộc đời hiện có. Tôi cho rằng không có bằng chứng cho thấy cá thể tiếp tục hiện hữu sau khi chết. Những khái niệm như “tu hành để mai sau được vào Tây Phương Cực Lạc” là bỏ phí những gì có sẵn trong tay để ôm ấp ảo tưởng xa vời. Cơ hội bỏ phí nầy sẽ không bao giờ trở lại.

Có người cho rằng nếu không tin vào nghiệp phước, nhân quả thì hành động không còn có ý nghĩa và lý do để xảy ra nữa. Họ cho rằng nếu như vậy thì người ta không còn có lý do để làm việc thiện và việc thiện cũng không còn có ý nghĩa tốt đẹp của nó nữa.

Tôi cho rằng nếu làm việc thiện vì nghĩ đến nghiệp phước, nhân quả thì việc thiện đó không xuất phát từ lòng từ bi mà chỉ xuất phát từ lòng ích kỷ và tham lam. Nếu như vậy thì cái đáng lẽ là việc thiện sẽ không còn có ý nghĩa tốt đẹp nữa.

Có người cho rằng nếu Phật không chủ trương hay không thể cứu nạn, độ trì những đệ tử thành tâm tụng niệm cầu khẩn thì làm sao có thể cho là lòng từ bi của Phật bao la vô tận?

Tôi cho rằng đây là quan niệm ỷ lại của những người không nhận thấy được là họ phải tự có trách nhiệm ở mỗi bước chân trên con đường giải thoát của chính họ.

Có người cho rằng nếu gạt bỏ tất cả những gì trong hệ thống tín ngưỡng của Phật Giáo thì Phật Giáo không còn là Phật Giáo nữa.

Tôi cho rằng Phật Giáo có còn là cái mà chúng ta gọi là Phật Giáo hay không cũng không là điều đáng quan tâm. Điều đáng chú trọng đến là mục tiêu chính của con đường mà Thích Ca đề xướng: nhận thức được sự khổ đau trong đời sống và phương cách để tiêu diệt (hay có lẽ thực tế hơn đối với đại đa số là “làm giảm thiểu”) sự khổ đau nầy. Còn quan tâm đến việc bảo tồn cái tôn giáo gọi là Phật Giáo là còn ôm ấp chiếc bè tạm bợ mà quên mất mục tiêu chính là đi đến bờ tỉnh thức.

Có người cho rằng kiến thức và khả năng suy luận của con người rất giới hạn so với sự bao la của vũ trụ. Theo họ, hoàn toàn đề cao kinh nghiệm thực tế và gạt bỏ đức tin về siêu nhiên là thiên về chủ nghĩa vật chất và kiêu ngạo quá đáng.

Tôi xác định rằng tôi chưa bao giờ gạt bỏ sự khả dĩ của các hiện tượng siêu nhiên. Đó là vì “tôi không biết”, và điều nầy khác hẳn với “tôi phủ nhận tất cả”. Tuy nhiên, theo tôi thì hầu như tất cả những hiện tượng và những khái niệm siêu nhiên đều là sản phẩm tưởng tượng và không quan trọng ngay cả nếu chúng có thật. Đối với tôi thì cho đến khi có bằng chứng thỏa đáng để giải thích các hiện tượng “siêu nhiên” thì chỉ có khả năng nhận thức và suy luận bằng kinh nghiệm và kiến thức thực tế là có giá trị.

Trong khi các tôn giáo dựa vào các quan niệm huyễn hoặc vô căn cứ do họ tưởng tượng ra để khẳng định sự hiện hữu của những gì họ không biết rõ, tôi chỉ cho rằng cho đến khi kiến thức con người có thể chứng minh được các vấn đề nầy thì sự kiện chúng có thật hay không, và thật bao nhiêu, không quan trọng lắm. Những niềm tin trong tín ngưỡng do con người đặt ra bị giới hạn bởi kiến thức nhỏ hẹp của họ so với những bí ẩn bao la của vũ trụ và do đó vô nghĩa lý cũng như vô ích.

Có người cho rằng nếu từ bỏ khái niệm nghiệp phước mà chỉ dựa chuyện thiện ác vào sự nhận thức và trách nhiệm cá nhân thì xã hội có thể thoái hóa vào tình trạng hỗn loạn hay vô trật tự. Theo họ thì người ta phần đông chỉ chú trọng vào quyền lợi của họ, do đó xã hội cần có quy luật đạo đức rõ ràng cho mọi người cùng noi theo và phán quyết những gì là “đúng” hay “sai”.

Tôi hiểu được nỗi lo lắng bên trên. Tuy nhiên tôi cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng không phải là những phương pháp đem lại đạo đức hữu hiệu như tín đồ nghĩ, nhất là với thái độ và tư tưởng của đại đa số tín đồ chúng ta thấy ngày nay. Phần lớn người ta thấy sự kiện họ là thành viên của một tôn giáo quan trọng hơn việc tôn giáo đó sẽ đưa họ đến đâu trên con đường tìm sự tỉnh thức. Những câu nói của tín đồ như “tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ tôn giáo của tôi với bất cứ giá nào” mỗi khi có người phê phán đến tôn giáo của họ cho thấy quan điểm nầy. Hơn nữa, qua bao nhiêu ngàn năm nay con người lúc nào cũng có đủ loại tôn giáo tràn ngập trong đời sống tuy vậy mức độ “vô đạo đức” và hỗn loạn, vô trật tự trong xã hội nói chung vẫn không hề giảm sút. Tôi do đó cho rằng sự nhận thức thiện ác và trách nhiệm tự nguyện của mỗi cá nhân rất có thể sẽ hữu hiệu hơn nhiều trong phương diện nầy.

Có người cho rằng nếu không tin vào đầu thai, luân hồi thì đời sống ngắn ngủi nầy vô nghĩa quá vì như vậy thì tóm lại “con người chỉ sinh ra để đau khổ rồi chết”.

Tôi cho rằng đó là một cách nhìn của người tiêu cực và hoang phí. Lý luận của những người nầy là lý luận cho rằng nếu một sự kiện không trường tồn mãi mãi thì nó không có giá trị gì cả. Nói như họ thì những mối liên hệ tình cảm với những người thân yêu chung quanh họ, những niềm vui, những nụ cười, những tác phẩm văn hóa nghệ thuật tuyệt vời, những buổi hoàng hôn rực rỡ, v.v. xảy ra trong đời họ đều không có giá trị, không đáng được họ chú tâm tận hưởng chỉ vì chúng rồi sẽ chấm dứt. Nói như họ thì chỉ có một sự sống vĩnh cửu ở Tây Phương Cực Lạc như các kinh sách hứa hẹn mới có thể làm cuộc đời hiện tại của họ có ý nghĩa mà thôi. Theo tôi, đây là một nhân sinh quan đáng thương hại.

Theo tôi, trong khoản thời gian giữa sự sinh ra và sự chết, mỗi người có thể chinh phục phần nào được sự đau khổ và sự sợ hãi về cái chết để sống thật sự cho chính mình hơn. Đời sống quả là mong manh và ngắn ngủi nhưng nếu một người cần phải tin có đầu thai và luân hồi để thấy đời sống họ có ý nghĩa thì họ đang không sống trọn vẹn và phí phạm đời sống hiện tại của họ.

Tôi cho rằng sự giác ngộ trên có thể đạt được nếu một người chỉ cần thay đổi cách nhìn để cảm nhận sự tuyệt vời trong cái mong manh và hữu hạn của sự sống.

Đã xem 9185 lần

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

14 Comments

  1. Kiến thức giáo khoa Phật Giáo của tác giả bài này rất nông cạn và hời hợt. Lẽ dĩ nhiên đây là ý kiến của một cá nhân. Qua bài này tôi thấy trình độ tu chứng của tác giả có thể gọi là con số không. Đạo Phật là để tu chứng, không phải để bình luận hay cho ý kiến cá nhân. Cho một ý kiến cá nhân về một đề tài quá bao quát “Đạo Phật”, phổ biến cho mọi người thật là điếc không sợ súng.

    • Ông Trí Nhân có tu đâu mà bạn bảo là trình độ tu chứng là số không . Bởi vì muốn tu tức là sửa đổi cái tâm tham, sân, si và nuôi dưỡng tánh Phật của mình . mà muốn thế phải dựa trên Phật pháp nghĩa là phải hiểu phật pháp – ông ấy không hiểu phật pháp thì làm sao tu ?

    • Thế thì xin cho hỏi:
      – Ai bảo rằng “Đạo Phật là để tu chứng, không phải để bình luận hay cho ý kiến cá nhân”?
      – Không phải đó là ý kiến cá nhân của bạn à? Hay là ý kiến cá nhân của ông sư nào đó mà bạn nghe theo?
      – Phát biểu nào không phải là ý kiến cá nhân?
      – Bao nhiêu là “nông cạn và hời hợt”? (Trước khi trả lời xin tự hỏi câu trả lời bạn sắp đưa ra có phải là ý kiến cá nhân của bạn hay không?)

  2. Ông nầy viết hổn láo , cho dù ông khg cong nhận luân hồi quả báo, nhưng ông gọi trống rổng Thích ca , như một người khg giáo dục , cái tên Nguyễn nhân Trí của Ông khg thể hiên được sự hiểu biết gì cả về Giáo lý Đạo Phật , đời sống có vay có trả đây là nghiệp báo , nhân nào quả nấy. Ông sẻ gặp đừng ngạo mạn , đúng là tên ở hơi/.

    • có lẽ ông Nhân Trí theo phong cách của tây phương là khi viết về một nhân vật dù nổi tiếng đã chết thì người ta chỉ viết họ tên mà không có danh tước ( title) trước tên – như chúng ta viêt thầy( hay thiền sư ) Thích Nhất hạnh thì báo chí sách vở tây phương chỉ viết Thích Nhất hạnh . Nhưng nếu người ấy có địa vị nổi tiếng như tổng thống thì họ thêm từ ” President “. Trong các cuốn sách viêt về đức Phật của các tác giả người gốc Âu bằng tiếng Anh mà tôi đọc khá nhiều , thì chưa có viết tên ngài là Thích ca cả , mà dùng từ Buddha = Đức Phật ( chữ B viết hoa )
      Ông Nhân Trí là người Việt Nam đang viết tiếng Việt Nam mà ông cố ý quên phép tắc kính trọng, lịch sự của văn hóa dân tộc rồi. Huống hồ các học giả Âu Mỹ Úc không tiếc lời khen ngợi là ” trong kinh Phật và lời dạy của ngài không hề có một điều gì dộc ác , Đức Phật không hề có một cử chỉ , một lời nói thô lỗ dù là vô tình ” như vậy không đáng để ông Nhân Trí kính trọng hay sao? hãy tưởng tượng ông Nhân Trí được mời dự tiệc ở tòa Bạch Cung hay y gặp thủ tướng Nguyễn Phú Trọng – ông một tiếng ” này Obama” hai tiếng ” này Obama ” hay ” Trọng ơi , Trọng hỉ ” thì sao nhỉ.

    • Bạn có bao giờ đọc sách lịch sử không? Bạn có nhận thấy rằng nhân vật lịch sử không nhất thiết lúc nào cũng cần có danh tước trước tên họ không? Vào một trang wiki nầy chẳng hạn (https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Ng%E1%BB%8Dc_H%E1%BB%93i_-_%C4%90%E1%BB%91ng_%C4%90a) thì bạn sẽ thấy bao nhiêu lần những tên tuổi lịch sử như Quang Trung, Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Lê Chiêu Thống, v.v. chỉ được nhắc đến bằng tên mà thôi và không có danh tước gì đứng trước cả.

      Hơn nữa, đừng ôm ấp danh tước quá đáng như vậy. Kẻo thôi nhiều khi, trong tiếng Anh có câu “chỉ thấy cây mà không thấy rừng” 🙂

  3. Căn bản của giáo lý đạo Phật là Vô Ngã. Không hiểu được Vô Ngã là không hiểu gì cả về đạo Phật. Có nói cũng là nói láo, nói dốc thôi. Ở đây cái ngã nhỏ bé của cá nhân
    Nguyễn Trí Nhân lại được (cái tôi) lập lại rất nhiều lần. Viết không ra cái gì cả. Chỉ lòi ra cái dốt, ngu xuẫn của mình. Ếch ngồi đáy giếng thấy trới bằng vung.

  4. Mọi người đều là nạn nhân sa dính trong cái bẫy chấp Ngã của chính họ. Còn tác giả thì cứ: “Tôi cho rằng …, tôi cho rằng …, tôi cho rằng …” cũng luôn miệng nhấn mạnh cái Ta không ngớt chứ hơn gì ai đâu. Có cao đàm diệu luận thì cũng là cái Ta biện bác lòng vòng lẩn quẩn, phỏng có ích chi!

  5. ( 1) Tôi đoán rằng ông Nhân Trí chịu ảnh hưởng của thầy Nhất Hạnh . Thầy không tin vào Niết bàn tuyệt đối , lấy cớ là dức Phật từ chối không trả lời Niết Bàn tuyệt đối-( tức là sau khi Ngài rời bỏ thân ngủ uẫn )là gì . Thầy Nhất Hạnh nhấn mạnh “sống trong giây phút hiện tại ” nghĩa là đạt niết bàn tương đối . ” hiện pháp lạc trú ” có trong kinh Phật , không phải của thầy Nhất Hạnh sáng tạo . Đức Phật không trả lời vì Niết Bàn phải chứng nghiệm không thể dùng lời diễn tả được , kinh có câu ” Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng / Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn ” cảm thông tức là chứng nghiệm. Đo đó đức Phật dạy rằng đừng lầm ngón tay ta với mặt trăng ” ngón tay là phật pháp . Mặt trăng là Niết Bàn
    (2) Ông Nhân Trí viết rằng ” qua sông phải bỏ bè , bè là tín ngưỡng ” , tôi chưa đọc được cuốn sách Phật pháp nào do các đại đức , hòa thượng phái trưỡng lão người thái lan hay tây , lẫn phái đại thừa bảo thế cả . Bè là Phật pháp – là lời Phật dạy – được ví như chiếc bè đưa người từ bờ mê ( cõi ta bà ) đến bờ Giác ( Niết bàn ) hay ngón tay chỉ Mặt trăng . Từ dùng trước đây là ” đạo Phật ” đạo là con đường , gốc của nó là tiếng của Lão giáo TAO ( đọc là đạo ) để chỉ con tạo – tạo hóa – đạo là hiện thực như chính nó – vây đạo Phật là hiện thực như chinh nó được dạy bởi một người đã tỉnh thức (The awakened One ) , tỉnh thức là sự tỉnh dậy của một cái tâm chưa dược huấn luyện đang còn mê ngủ trong giấc ngủ vô minh ; Đạo Phật cũng có thể hiểu là con đường của đức Phật. Từ ” Phật giáo” dịch từ chữ Buddhism là một từ ngữ do tây Phương đặt ra vào thời kỳ mà họ chưa hiểu biết nhiều về Đức Phật , họ bảo ngài là một triết gia đáng chú ý – Và Phật giáo không phải là tôn giáo ( a religion of no religion – Alan Watt vào thế kỷ 19) , lại càng không phải là tín ngưỡng như ông Nhân nói – Trong đạo Phật có pha những yếu tố tín ngưỡng của nền văn hóa mà đạo phật du nhập .
    (3)Ông Nhân Cho rằng làm việc thiện mà nghĩ đên phước , nhân quả thì việc thiện ấy không còn tốt đẹp nữa . Tại sao không – có 3 thứ nghiệp và quả của ý , của lời và của hành động . Nếu làm việc thiện đẻ mua phước thì sẽ không có phước của ý , nhưng nhờ hành động mà người gặp khó khăn được giúp đỡ thì người làm phước được cái phước của hành động. Các thầy luôn luôn nhắc nhở phật tử là hãy cứu giúp người mà đừng nghĩ đến phước ( thi ơn bất cầu báo ) thì phước càng lớn . Nhưng do con người vốn ích kỷ , nên đưa chuyện được phước ra để khuyến khích (và có phước thiệt chứ không phải là chuyện bịa đặt ) , gọi là dùng phương tiện thiện xảo , sau khi cho ra (bô thí ) , người cho sẽ quen và lần sau sẽ giúp người mà không nghĩ đến phước ( xem kinh Kim Cang ).
    ( 4) ông NhâN Trị viết ” Một trong những triết lý cơ bản của Thích Ca cho rằng “tất cả mọi sự vật đều thay đổi, không có gì trường tồn”. Nếu còn tiếp tục bám víu vào những công thức cổ hủ của Phật giáo mà cho rằng một tôn giáo không bao giờ thay đổi là đi ngược lại với triết lý nầy. Bám víu vào các hệ thống tín ngưỡng là đi lạc hướng ra khỏi con
    đường Phật pháp. ”
    Xin lỗi ông nhân Trí ” theo cách hành văn của ông thì tôi hiểu công thức cổ hủ của Phật giáo là ” tất cả mọi vật đều thay đổi . không có gì trường tồn” ? còn nếu không phải thì cái gì là cổ hủ ?
    Những yếu tố mê tín từ văn hóa ( nhưng không gây tác hại nghiêm trọng như giết gia súc để cúng tế ) nhập vào đạo phật và các thầy tổ đã để yên vì các ngài muốn dùng phương tiện thiện xảo để truyền bá Phật pháp . Trong thời đại mà đa số mù chữ , người ta đến cầu an hay cầu siêu mà từ chối thì người ta đi tìm mấy ông thầy pháp , phù thủy , và những người này sẽ vẽ vời những chuyện không thể tưởng tượng được . Đây này , ở Ấn độ cách đây vài năm, báo có đưa tin là có một người có con bị bệnh, di hỏi ông thầy gì đó , rồi nghe lời thầy về thuê người giết một đứa trẻ để lấy một bộ phận trong cơ thể đửa trẻ này về nấu cho con bà uống để lành bệnh – còn ở một nước bên Phi Châu ,có người hiếp một bé gái mới 8 tháng để trị bệnh Sida ! Khi trong lúc hoảng sợ vì bệnh nan y , đến chùa cầu phật so ra tốt hơn nhiều phải không ? dù không lành sẽ được an ủi vì nghĩ rằng sẽ được tái sinh nơi tốt đẹp .
    Hiện nay nói chung dân trí đã cao , nên các thầy đã và đang cố gắng loại bỏ những yếu tố tín ngưỡng nhân gian này .
    Con đương tu hành lắm gian nan , dễ ngã lòng nên các thầy tổ mới bảo là có Phật Tổ hộ trì – Lòng tin rất quan trọng ,nhiều khi nó giúp con người vượt qua cảnh khổ . Ở Mỹ , vài năm khi trước đây kinh tế bị sụt lùi , có nhà tỷ phú mất hết gia sản đã bắn mình và giết cả vợ con vì ông ta không hiểu biết phật pháp . Mặt khác các thầy cũng nhấn mạnh đến nỗ lực bản thân, nhân quả , chứ không hoàn toàn dựa vào Phật , Bồ tát . Trong pháp môn niệm pHật , người niệm phải đạt chuyên tâm bất loạn chứ không phải cầu xin khơi khơi
    ( 4) Ông Nhân trí bảo rằng ” chết là hết ” nên bảo nhiều người lo nghĩ đến giải thoát mà không lo sống vui với hiện tại – người đi tu – tại gia hay xuất gia – đang tìm cách làm cho tâm mình yên bình đó chứ , tâm phải yên bình mới lên được cõi Tịnh Độ , vì đây là lời Phật dạy mà .
    Nếu chết là hêt thì tại sao sau khi đức phật đạt tứ thiền và phi tưởng phi phi tưởng xứ định của ngoại đạo rồi từ giã thầy mình , chuyển sang tu hướng khác , thành Phật rồi , và biết chết là hết thì tại sao không đi về gặp lại vợ con, thu nhập thêm cung phi mỹ nữ , hưởng đủ mọi thú vui của thế gian vì ngài là thái tử , muốn gì chẳng được ? đàng nào chết cũng hết kia mà – còn ở lại tiếp tục nhận học trò và sống đời không nhà làm chi ? Sao ngài không tuyên bô , chết là hết , hãy hưởng thụ đi , nếu muốn thêm thú vui tinh thần thì chỉ cần học thiền vài năm tùy người , đạt nhât , nhị thiền v.v. khi cần sẽ nhập thiền , hưởng cái lạc thú gấp chục ngàn lần lạc thú thường tình của thế gian . Vào thời ấy đa số học trò của ngài thuộc giai cấp quý tộc hay bà la môn có dư của cải để hưởng thụ
    (5) Tôi đọc nhiều sách Phật nhưng chuyện đề cập thần thông của ngài rất ít – không như các tôn giáo nhất thần luôn luôn ca ngợi” phép lạ của giáo chủ hay chúa trời của họ , đạo Phật là đạo của tuệ giác nên kinh sách các thầy tổ không dùng thần thông để dụ tín đồ . Tôi yêu thích phật pháp vì lời giả thích đúng như thật, có thể quan sát trong cuộc sống được, chứ không phải vì các thần thông của đức Phật
    Thần thông mà sách đề cập là lục thông và tam minh là kết quả sự chứng ngộ của ngài , chứ không phải là tài ” hô phong hoán vũ ” ” biến nước lã thành vàng ” thông đây là thông suốt , hiểu đúng như thật .
    Trong quá trình giác ngộ ngài đạt được 3 tuệ giác ( gọi là tam minh ,minh là rõ ràng ) * nhớ lại tiền kiếp của mình * tuệ giác ( insight) về cái chết và tái sinh của chúng sinh trong vũ trụ nghĩa là xác định nghệp chúng sinh sẽ quyết định chúng sinh sẽ thế nào trong vòng luân hồi và tuệ giác thứ ba về cách ngừng luân hồi – từ đây ngài nói về tính điều kiện ( this/that conditionality ) : vì có cái này mà có cái kia , cái này không có thì cái kia không có ( còn gọi là lý duyên khởi ) và từ đây có luật nhân quả mà ngài làm sáng tỏ hơn – do lý duyên khởi này mà không có ngã ( vô ngã ) , vì vô ngã nên đưa đến vô thường . con người luân hồi sinh tử vì bám và đuổi theo ngã ảo giác này . Buông ra thì hết luân lưu. Ngay sau khi giác ngô ( hay thành đạo ) ngài thốt ra ” Trong vòng sống chết vô tận / Ta chạy mãi không nghĩ ngơi . Từ bào thai này sang bào thai khác / Đuổi bắt người chủ cất ngôi nhà /chủ nhà ta bắt được mi rồi / Mi không cất nhà lại được .Kèo cột gãy hết rồi /Tâm lìa hết tạo tác / Tất cả diệt trừ xong .
    Trước đó , Bà la môn giáo chủ trương con người có hai phần ; một phần là Ãtman (= spiritual self= tiểu ngã /linh hồn ) không bao giờ bị hủy diệt , phần thứ hai là cơ thể goi là phi ngã ( not self ) – Axtman bị nhốt trong cơ thể nên hành hạ cơ thể , thậm chí nhị đói đến chết thì Ãtman sẽ được giải thóat , Brahman là bản thể của vũ trụ ( the esence of universe ) Atman chính là Brahman ! (Tôi là Ãtman / tôi là bản thể của vũ trụ! ) . Sau khi chúng ngộ đức phật bảo rằng ngã hay phi ngã đều không có thực thể , tức là vô ngã ( =no self).
    Về chuyện kiếp trước kiếp sau , ông Nhân có thể xem vài video clip về chuyện này. Tôi xem một phim chiếu trên đài truyền hình do một nhôm nghiên cứu hiện tượng lạ thường về một cậu bế 6 tuổi người Iceland nơi có truyền thống Ky tô giáo , cha mẹ không biết đạo phật là gì , bé nhớ lại kiếp trước, cha mẹ không hiểu sau phải nhờ nhóm nghiên cứu này đi điều tra , và họ tìm ra tên , nơi ở mà bé mô tả kiếp trước của mình . Phim tài liệu chiếu chứ không phải video clip trên mạng mà có thể ngụy tạo .

  6. ( tiếp theo )( 6) Ông Trí bảo ràng chủ trương của đức Phật là ” bất khả tri ” , Đức Phật không chủ trương như thế- Đây là chủ trương của Khổng giáo – nên Khổng tử không bàn luận về chuyện sau khi chết . Người Trung Hoa thời đó bị thiếu mặt này , họ tin rằng người chết sẽ tiếp tục sống ở suối vàng ( hay chín suối ) do đó khi đạo Phật đến , cho họ lời giải thích thỏa đáng, họ tiêp nhận đạo Phật rất nhanh , Chủ trương cửa đức Phật là GIẢI THOÁT , giải thoát khỏi khổ đau ( dịch từ chũ Dukkha , tuy chưa hết nghĩa của chữ này ) , ngài bảo suốt đời ta chỉ dạy một điều là sự đau khổ ( dukkha ) và thoát khổ . Giáo lý của ta chỉ có một vị là vị giải thoát ” Mà sỡ dĩ chúng sanh đau khổ là vì ở trong luân hồi , do bị vô minh – nhìn thấy đúng như thật là giác ngộ , thì ngưng luân hồi như tôi đã đề cập ở trên . Muốn giác ngộ thì phải có biện pháp đó là Bát chánh đạo hay Phật giáo nói chung – vậy mà ông Trí bảo, với với ông không còn Phật giáo cũng không quan trọng. Chữ Phật giáo- Buddhism- do các học giả tây phương đặt ra ( như đã đề cập ) với ý nghĩa là triết lý của Đức Phật . Hòa thương Tịnh kHông cho một nghĩa mới là “nền giáo dục của Phật-đà” , sao lại không cần ? hãy xem Phật giáo đã đến với Afganistan , Iran , Irak , Hy lạp , Ân Đô nhưng rồi bị Hồi giáo tiêu diêt ,Ở các nước đó phụ nữ bị áp bức cho đến hôm nay , ở Ân Độ thì thêm sự phân biệt giai câp vẫn còn nghiêt ngã , mặc dù đạo Phật đã sống lại nhưng số phật tử còn ít – tạo ra biết bao là đau khổ do người dân không biêt phật pháp. rồi những vụ giết nhau do cuồng tín mà báo chí đăng tải hàng ngày .
    ( 8) Người nào đó bảo rằng hủy bỏ mê tín trong Phật giáo ( sữa đổi Phật giáo ) thì Phật giáo không còn, là người chẳng hiểu gì về đạo Phật . Tòa nhà Phật giáo được dựng trên hai cột trụ là Dại Bi và Tuệ Giác ( theo lời đại đức Suzuki) , và tạo bởi những viên gạch thật , rắn chắc của lý duyên khởi , lý vô ngã , lý vô thường , lý tương tức , lý nhân quả v.v. mà mãi cho đên thế kỷ 20 -21 các nhà vật lý hiện đại mới nhận thức ra và không tiếc lời ca ngợi đức Phật , Họ đã tuyên bố ” KHoa học kêt thúc nơi mà đạo phật bắt đầu ” nghĩa là khoa học đến đây là bó tay , muốn tiến thêm phải dựa vào Phật pháp ” . Những viên gạch đó là thật vì các lý nói trên do đức Phật khám phá trong khi giác ngộ , chứ không do ngài dùng lý trí suy luận , tưởng tượng , chế tạo ra .
    Trong quá trình truyền đạo , do lòng từ bi , không cọng tác , khuyên khích , xúi dục các đạo binh xâm lăng để truyền đạo , nên để phù hợp với văn hóa các nước mà đạo Phật truyền đến , thầy tổ đã để những yếu tố văn hóa ấy lọt vào – có những yếu tố tốt đẹp coi như hương thơm cỏ lạ , có những yếu tố mê tín là rác rưởi . Vì những rác rưởi này do bên ngoài bay vào nên chỉ cần quét đi là tòa nhà Phật giáo càng thêm tốt đẹp , sao lại bảo là Phật giáo không còn . Ở những tôn giáo nhất thần , các viên gạch tạo bởi rác rưởi nên khi quét rác rưởi thì chúng sụp đổ , hãy thử tưởng tượng cấp lãnh đạo cao nhất của các tôn giáo này ra lệnh cho các giáo sĩ nói với tín đồ rằng không có tội tổ tông, không có A đam và Eva , không có chuộc tội , không có thiên đường vĩnh viễn ,không có Gót thì hâu quả thế nào chúng ta cũng đoán được Người quét rác rưởi chính là các nhà khoa học và đối với đạo phật là một số các nhà sư . KHi người ta hỏi Đa-lai lạt-ma rằng ngài có biết khoa học đang giêt chết tôn giáo hay không, thì ngài bảo ” tôi biết rõ lắm chứ , nhưng Phật giáo không phải là tôn giáo”.
    (7) căn cứ vào lời Phật dạy rằng mọi sự là vô thường , rồi kết luận không có kiếp sau , chết là hết tức là chấp không . Bảo rằng con người có linh hồn , sẽ tồn tại mãi mãi không bao giờ thay đổi là chấp có
    Châp không là đoạn kiến , chấp có là thường kiến ; chúng là hai tà kiến của ngoại đạo mà khi đức Phật còn sinh thời ngài đã bác bỏ . Thế giới vật chất trải qua “thành, trụ, hoại, không” . Vói chúng sinh là “sinh, lão, bệnh, tử ” . “Không” không có nghĩa là” không có gì” , cây bắp A lớn lên , ra trái rồi chết tức là thành không , nhưng hạt bắp Sẽ sẽ tiêp tục mọc lên thành cây bắp B – không hoàn toàn giống y như trước nhưng cũng không hoàn toàn khác hẳn – có đổi thay nhiều thành giống cây khác thì phải qua quá trình tiến hóa . Con người cũng thế . A chết đi , thân ngũ uẩn tan rã , nhưng chủng tử nghiệp của A trong tạng thức gặp các uản khác sẽ tạo thành B , có mang tập khí của A nhưng do môi trường sinh sống, giáo dục có thể mang những tích cách khác A nên gọi là B . Đây chỉ là tuân theo luật bảo toàn năng lượng – không có cái gì thêm vào cũng chẳng có cái gì biết mất hoàn toàn không dấu vết . Sau quá trình ” không ” của dạng thể X thì những di tich của X gặp đủ duyên sẽ tái hợp lại (gọi là sinh) thành dạng thể Y, cứ thế mãi do dó mới có thành ngữ ” từ thời vô thủy vô chung ” tức là không có cái đầu tiên ( first cause ) vì thế mà chính đức Phật bác bỏ sự hiện hữu của một THượng Đế – tạo ra rồi chỉ huy vạn vật ( xem kinh phái trưởng Lão ) .
    (8)” vạn vật vô thường” là đứng về phương diện tuyệt đối (chân đế), về phương diện tương đối (tục đế) thì vạn vật vẫn tồn tại nhưng luôn luôn thay đỏi , ngôi sao này hủy diệt thì ngôi sao khác xuất hiện – nên kinh nói ” hư không chúng sanh không cùng tận ” .

  7. Bạn nguoithichhoasim à, xin cám ơn bạn đã bỏ công viết lời phê bình rất dài. Tuy nhiên tôi có nhận xét rằng tất cả những lời phát biểu của bạn đều dựa trên những phát biểu và suy luận của người khác. Thí dụ như bạn nói “… tôi chưa đọc được cuốn sách Phật pháp nào do các đại đức , hòa thượng phái trưỡng lão người thái lan hay tây , lẫn phái đại thừa bảo thế cả “.

    Tại sao lại phải có đại đức, hòa thượng, trưởng lão nào nói điều đó thì bạn mới cho là “đúng”? Còn sự phán đoán của riêng bạn ở đâu rồi? Sao bạn không biết tự suy nghĩ cho chính mình mà lại cứ nghe theo lời người khác?

    Ngay cả Thích Ca cũng đã dạy rằng “Đừng nhắm mắt nghe theo lời ai nói ngay cả lời dạy của chính ta mà phải tự kiểm nghiệm cho chính mình” (Kinh Kalama)

    Và nói về kinh Phật thì xin mời đọc: http://damau.org/archives/36291

    Nói tóm lại, hãy sử dụng khả năng suy luận của mình 🙂

  8. Xin hỏi bạn Trí rằng : Có phải các bài viết của bạn là kết quả của sự ” tự kiểm nghiệm cho chính mình ” về Dhammcakkappavattana sutta hay như bạn gọi là Tứ Diệu Đế ?

Comments are closed.