Ông “trợ Đông”

Sau khi ông Diệm cách chức tỉnh trưởng của ông Trần Điền vì “vụ Ba Lòng”, ông “trợ Đông” ra cầm đầu tỉnh Quảng Trị.

Ông “trợ Đông” tên là Nguyễn Văn Đông, giáo viên ngạch “trợ giáo” (instituteur auxiliaire) nên người Huế thường gọi là “ông trợ Đông”, là em “Ông Cả Lễ”. Ông Lễ là chồng bà Ngô Thị Hoàng, em gái cố tổng thống Ngô Đình Diệm.

Giao tỉnh nầy cho một người “bà con”, – em chồng của chị – lại là người cùng làng – Phước Quả, lại cùng tôn giáo, đạo Thiên Chúa La Mã, dù sao, “cậu” cũng yên tâm hơn.

Đoán chừng như ông “trợ Đông” cùng tuổi với “cậu Cẩn”, học hành cũng “làng chàng” như “cậu”, giỏi lắm là qua khỏi bậc tiểu học. Thật vậy, ông Đông chỉ đậu có tiểu học, với cái bằng ấy, ông được Tây bổ làm “trợ giáo”. Rồi khi ngọn cờ nhà Ngô phất cao, ông được “cậu” mời ra làm tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, một tỉnh quan trọng là vì “địa đầu giới tuyến”.

Cậu con trai của ông, Nguyễn Văn Ngọc Xuân, nguyên là “cán bộ thông tin”, “con hơn cha, nhà có phúc”; không nghe ai nói ông nầy có tài ba gì, đậu bằng cấp gì. Hồi ấy, vô làm “cán bộ thông tin”, không cần có bằng cấp cao, không có bằng tiểu học cũng được!

Trước khi làm tỉnh trưởng, không rõ vì ông trợ Đông có làm thầu khoán như anh chị ông hay vì nhà ông làm nghề nầy nên ông cũng quen nghề. Khi giữ chức tỉnh trưởng, ông làm vài việc dân Quảng Trị cũng khoái ông. Ví dụ nhà thầu cung cấp đá lót đường cho thị xã. Đá được đổ trên lề đường để Công Chánh kiểm nhận và tiện rải đá xuống đường. Vài lần ông cầm cái thước đo để đo số lượng đá cung cấp. Ông gọi ty Công Chánh cho biết số lượng đá không đủ, cần kiểm soát lại với nhà thầu. Do đó, mấy ông Công Chánh cũng ngán ông. Không rõ các ông thầu cung cấp đá có lấp ló cửa sau dinh ông tỉnh trưởng hay không! Sau đó, không thấy “ông tỉnh” cầm thước đi đo đá nữa!

Mỗi khi tỉnh có tổ chức lễ lược, ông tỉnh trưởng tới chỗ hành lễ chủ tọa. Xuống xe, đi bộ vào nơi hành lễ, ông một mình đi trước. Ông Chánh Án Nguyễn Văn Thư, bằng cử nhân luật đàng hoàng, không được đi ngang “ông trợ” mà phải đi sau một chút. Còn như ông dân biểu Hồ Duy Tình, chưa có bằng “sơ học yếu lược”, nguyên là “thầy giáo làng” ở làng Hội Yên, thì sợ ông tỉnh trưởng lắm, bao giờ cũng ké ré như gà gặp cáo vậy. Người ta nói ông tỉnh trưởng bảo rằng ông là người “Đại diện cho tổng thống” ở tỉnh nầy. Đã là “Đại diện tổng thống” thì ai dám đi ngang hàng với ông ta?

Tuy ông “trợ Đông” tự xưng ông ta là “đại diện tổng thống” (Gọi là tổng thống thì chế độ đó là chế độ dân chủ) nhưng tác phong, suy nghĩ của ông “trợ Đông” chẳng có chút gì gọi là dân chủ cả.

Dinh tỉnh truởng, nơi ông ở và làm việc, thời thực dân là dinh Công Sứ Pháp. Dinh nằm trên đường bờ sông, ngó ra sông Thạch Hãn. Thời ông Tây mắt xanh mũi lõ hay “mẹc xà-lù” (merde salaud) dân Annamít còn ở đó, con đường bờ sông nầy, đoạn đi ngang dinh, chẳng cấm cản gì cả, ban ngày cũng như ban đêm. Cái bến nước ở đây, tên gọi là Bến Sứ (dinh Công Sứ), nước sâu và trong mát, dân chúng đến tắm tự nhiên. Thời chiến tranh, mấy ông tỉnh trưởng do Chính Phủ Quốc Gia thời Bảo Đại cắt cử ra, như ông Nguyễn Đôn Duyến, ông Trần Điền… cũng giống như thời Tây, cũng chẳng thấy treo bảng “Cấm tắm giặt ở đây”.

Đời ông “trợ Đông” làm tỉnh trưởng, chế độ dân chủ có hiến pháp đàng hoàng, nhưng con đường bờ sông đi ngang trước dinh, buổi tối cấm dân chúng qua lại. Hai đầu đường có hai cái rào cản, thường gọi là “garde barrière” không cho dân chúng đi qua, buộc dân chúng phải đi vòng đường phía trong, xa gấp ba, nên người ta “chưởi” ông trợ Đông cũng không ít.

Các ông tỉnh trưởng “đời Quốc Trưởng” là thời chiến tranh, có thể vì sợ Việt Minh tấn công, đột kích, ám sát nên các ông tỉnh trưởng thời ấy có ngăn cấm đường sá, còn dễ hiểu. Đời “trợ Đông” là đời Cộng Hòa, đã có “chiến dịch Tố Cộng” (“Tố Cộng là yêu nước”, như câu tuyên truyền của chính phủ), Việt Cộng sợ phải trốn vô rừng sâu, sắp biến thành “con xà niên” hay khỉ cả rồi, có chi mà phải cấm đường?

Bến Sứ được gắn tấm bảng “Cấm tắm giặt ở đây”!

Ông tỉnh trưởng có lập một đồn điền gần Khe Sanh, trên Quốc Lộ 9, đường từ Đông Hà sang Lào. Ông bảo rằng sau nầy về hưu ông sẽ ở tại đồn điền ấy. Một người con nuôi của chị tôi, lính Bảo An, có một thời gian bị đưa lên trên đó “làm cỏ đồn điền cho ông tỉnh”. Đồn điền trồng cà-phê là chính, giống như đồn điền “ông Tây Lá” đã có từ trước 1945. Đất ở đây trồng cà-phê tốt lắm. Cây cà-phê mới trồng, cần làm cỏ thật kỹ. Một đại đội lính Bảo An chuyên môn trách nhiệm làm cỏ cho cà-phê. Vì đồn điền lớn, khi đại đội Bảo An làm cỏ tới cuối đồn điền thì cỏ ở đầu đồn điền đã lên xanh.

Ấy đấy! “Công tư vẹn cả đôi bề”. Không biết ông có thuộc Kiều không mà hay thế! Chỉ tiếc rằng ông “trợ Đông” bị thôi tỉnh trưởng khi “đức cha” về làm việc ở Huế, bởi một vài lý do nào đó không nghe thấy ai nói rõ ràng. Ông Trung Tá (loon khi ấy) Nguyễn Quốc Quỳnh ngồi vào ghế ông “trợ Đông”.

Thay “ông trợ” bằng ông “trung tá” thì cũng vậy thôi. Một ông gốc là “trợ giáo”; một ông, nếu không phải là gốc lính “mã-tà”, thì cũng chỉ mới vô lính “ắc-ê” hồi Tây trở lại xâm lăng nước ta lần nữa, có ai thấy họ có khác nhau cái gì không? Một ông thì “thế cậu Cẩn”; một ông thì “thế đức cha”. Ông có thế ông anh mạnh hơn ông dựa thế ông em nên ông mạnh giành ghế ông yếu. Ai thấy ai tài giỏi hơn thì “tui” không biết nhưng “dân Quảng Trị tui” thấy ngay trước mặt là như thế đấy. Còn như “tài cai trị” thì đời ông trợ xây dựng trong tỉnh nhiều hơn đời ông trung tá.

Khi ông “trợ Đông” làm tỉnh trưởng, Phật Giáo, sau hiệp định Genève 1954, hòa bình phục hồi, nên cũng phục hồi mạnh. Không nghe thấy “ông trợ Đông” có trực tiếp giúp đỡ hay đàn áp gì đạo Phật không. Có lẽ ông trợ Đông không dại làm gì cho “mang tiếng” đâu. Việc kỳ thị đạo Phật, có đám “Cần Lao cao lần”, đám “Tập Đoàn Công Dân” và Công An cấu kết với mấy ông cha nhà thờ ra tay.

Thời ông trợ Đông làm tỉnh trưởng, ông Hồ Đăng Đại làm trưởng ty Công Chánh. Ông nầy là một Phật Tử nên mỗi năm mấy lần “chùa Tỉnh Hội” làm lễ, nhất là lễ Phật Đản thì ông trưởng ty Công Chánh lo “giúp đỡ” cho chùa, như cho xe ủi dọn dẹp đất đai rác rưởi khu vực bờ sông trước chùa để làm nơi hành lễ rộng rãi. Ông Đại cho công nhân của ty dựng lễ đài thật lớn với phương tiện của ty Công Chánh cho mượn, lại cho đem máy đèn xuống tăng cường, giăng giây điện, treo đèn sáng trưng. Vậy mà không nghe ai nói ông tỉnh trưởng khiển trách hay cấm cản gì ông trưởng ty cả.

Dĩ nhiên, những việc nầy tới tai “đức cha” sau khi “đức cha” về làm tổng giám mục Huế. Bấy giờ ông trung tá Nguyễn Quốc Quỳnh làm tỉnh trưởng thay ông “trợ Đông”, ông trưởng ty Công Chánh Hồ Đăng Đại qua đời, việc ty Công Chánh giúp đỡ “chùa Tỉnh Hội” vào các ngày vía như trước kia, không còn nữa!

Người ta bảo là “ông tỉnh” cấm ông trưởng ty Công Chánh không được giúp đỡ cho chùa để lập công với “đức Cha” hay “Đức Cha” ra lệnh cấm; làm sao biết được? Dĩ nhiên “Đức Cha” đi rồi thì “ông tỉnh” cũng bay chức theo.

“Kế hoạch nước lũ” (tấn công chùa chiền đêm 20 tháng 8 năm 1963) xảy ra ở Quảng Trị, là do ông trung tá tỉnh trưởng Nguyễn Quốc Quỳnh chịu trách nhiệm đấy!

Sau khi “Ngô triều” sụp đổ, mặc dù ông “trợ Đông” đã thôi làm tỉnh trưởng mấy năm rồi, cũng bị lôi ra tòa với một số tội gì đó nên ông vô nằm co ở Lao Xá Quảng Trị. Bấy giờ “cậu Cẩn” đã ra người thiên cổ, nên ông cựu tỉnh trưởng cũng sợ cho tính mạng ông.

Đầu năm 1967, Việt Cộng bất thần tấn công vô Nhà Lao Quảng Trị, tù Việt Cộng thì theo quân Cộng Sản mà đi hết. Các loại tù khác cũng bỏ nhà lao “ai về nhà nấy”. Sáng hôm sau, khi Quân đội/ VNCH tới giải tỏa thì cái nhà lao giam gần một ngàn người tù bỗng một đêm mà trống vốc, chỉ còn mỗi một mình ông trợ Đông ngồi lại đó mà thôi!

Ông không theo Việt Cộng! Ông ngồi chờ Quốc gia!

Tội nghiệp cho ông!

Ông Thanh, ông Liêm

Hai người em “Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận” là ông Thanh, ông Liêm, không thấy ai bàn tán gì lắm. Ông Thanh cưới cô Đèo Ngọc Hoa, hoa khôi “Hội Chợ Buôn Mê Thuột” (năm 1956), ông làm Cảnh Sát, “đặc cách” ngạch biên tập viên. Đúng ra, được ngạch nầy ít nhất là phải có bằng Tú Tài 2.

Người ta nói ngày 2 tháng 11, sau “Saigon đảo chánh” (ngày 1 tháng 11-1963) ông Thanh lái chiếc xe WolfsWagen màu trắng, chạy ra Đông Hà, tính theo đường số 9 mà qua Lào, nhưng đường đi không an ninh nên ông đành trở lại Huế.

Ông lái xe vô nhà ông A.N.H., giáo sư Đại Học Huế, gởi lại “hai cái vali”, nhờ giữ giùm. Dĩ nhiên, người ta đồn về “giá trị của hai cái vali” nầy rất lung tung, cũng khó biết “hồi kết cuộc” như thế nào. Dĩ nhiên, vì người ta nghĩ rằng tài sản gia đình họ Ngô nhiều lắm nên mới đồn ra như thế! Nghèo thì khổ, giàu cũng “mệt”!

Thật ra, gia đình ông Ấm có tiếng đứng đắn. Trong suốt 9 năm “Ngô triều”, gia đình nầy không mang tai tiếng gì, giám mục là người tu hành không có dư luận đã đành, mà ngay cả thân phụ thân mẫu giám mục cũng vậy.

Ông Thanh, ông Liêm, như đã nói ở trên, ông Liêm ở trong chính quyền, không ai than phiền gì, còn như ông Liêm, tôi chỉ nghe nói tới cái tên mà thôi.

Thuở “hàn vi”

-“Mụ” là tiếng người Huế thường dùng. Nó có nhiều nghĩa, thấp nhất là chỉ người ăn mày: “Một ngàn ba mươi vạn “ôông” Tây, mụ ăn mày xách cái bị đi xin.” Bọn trẻ chúng tôi, trước 1945 có hát chơi câu nầy. Tây thì gọi kính cẩn bằng “ông”, (“ôông” tiếng địa phương). Ăn mày thì chê, gọi bằng “mụ”. “Mụ” ăn mày thì nghèo đói, rách rưới, đi xin ăn… Nhưng tại sao lại “tiểu đối” giữa “mụ” với “ôông Tây”. Người đặt ra câu đồng dao nầy, có ý gián tiếp nói việc thực dân bóc lột người Việt Nam hay sao?

Nghĩa thứ hai là nói tới người “bình dân” như “mụ trợ” là vợ thấy trợ giáo, hoặc có thể mụ A, mụ B nào đó, buôn bán ở chợ, ở phố, như trên đường Trần Hưng Đạo – Huế, có tiệm “thuốc Cẩm Lệ “Mụ Thôi”, nhà nầy giàu lắm…

Kêu tới cô hay bà là thuộc hạng cao sang.

Còn như các ông bà “hoàng phái”, cũng gọi là “mụ” hay “mệ” mặc dù đàn ông. Gọi như thế là để đánh lừa ma quỷ, để chúng khỏi “bắt”, như thành ngữ “Quỷ tha ma bắt”. Ma quỉ chỉ bắt con trai, đàn ông. Vậy thì các đấng nam nhi, con các ông hoàng bà chúa, phải gọi trại là mụ, mệ, để ma quỉ tưởng lầm là “thị hĩm” mà không bắt.

Người ta gọi “Mụ Luyến” là theo cái nghĩa thứ hai, người bình dân.

Thuở “cậu” (“cậu Cẩn”, dĩ nhiên) còn hàn vi, nhà không phải nuôi người làm – còn gọi là người ở, người giúp việc -. Nhà “cậu” đã có “mụ Luyến” đảm đương công việc nầy: Nấu ăn, giặt giũ… Nhà “mụ Luyến” đối diện với nhà “cậu”, “mụ Luyến” qua lại hằng ngày để “phục vụ” cho nhà “cậu”.

Nhiều người không rõ mối quan hệ thân tộc giữa “cậu” và “mụ Luyến” như thế nào… Như ông chú họ tôi, cũng gần gũi với “cậu” nhiều lắm, mà cũng không nghe ông nói tới “vấn đề” nầy. Và cũng thuở “cậu” hàn vi, chẳng có dư luận gì về “cậu” nên cũng chẳng ai thắc mắc hai người có “bà con” như thế nào!

Với lại, “chợ Bến Ngự” gần nhà “cậu” nhất, “mụ Luyến” thường đi chợ nầy, cũng chẳng nghe ai nói gì.

Đời “cậu” lên hương, cuộc sống gia đình “mụ Luyến” cũng lên theo. Bên cạnh đó, cũng có người đồn đãi về quan hệ giữa “cậu” và “mụ Luyến” khi người ta thấy “mụ Luyến” bây giờ “ăn trắng mặc trơn”; Ân và Ái con trai “mụ” học hành không bao nhiêu mà cũng được ngạch trật to trong hàng ngũ “công bộc”, chỉ riêng “ông Luyến” âm thầm quanh quẩn trong nhà, không làm điều gì để người ta dị nghị.

Thật ra, “mụ Luyến” vẫn vậy, vẫn đi chợ Bến Ngự khi cần, vì bấy giờ “cậu” có thêm bồi bếp, nhưng dân buôn bán ở chợ cũng chẳng thấy ai bình phẩm gì về “mụ Luyến”.

Điều buồn cười là tự mấy “ông lớn”mà ra cả. Các ông “nịnh” mụ Luyến đấy:

Ông bộ trưởng, ông tướng, ông giám đốc… vô ra nhà “chầu cậu”.

Gặp “mụ Luyến”, mấy ông kính cẩn chào, hỏi thăm sức khỏe “mợ”. Gọi “cậu Cẩn” bằng “cậu” thì gọi “mụ Luyến” bằng “mợ”. Có gì lạ đâu!

Người Huế, chưa quen miệng, từng gọi “mụ Luyến” nay chuyển qua gọi “mợ Luyến” chắc cũng hơi ngượng miệng, còn như mấy ông bộ (trưởng), mấy ông tướng (lãnh), mấy ông giám (đốc), chưa từng gọi “mụ Luyến” bao giờ nay có gọi “mợ” (Luyến) thì có chi ngượng ngùng đâu. Họ có gọi “mợ” cũng là “thói thường”, họ “nịnh” đấy thôi nhé. Họ có tư cách đầy mình mà cũng “nịnh” một người như “mụ Luyến”.

Ai không tin, cứ tới T.H.Tr. ở Cali mà hỏi.

Những chuyện trên, tôi nghe “thiên hạ” nói nhiều lắm. Chuyện “Nhà họ Ngô” không ít người không nói tới. Từ xưa, nghĩa là từ đời ông Ngô Đình Khả đã có dư luận, và những năm đầu 1960, người Huế lại càng nói nhiều hơn.

Cũng những năm đó, tôi thường gặp “ông” Ái nhiều hơn. “Ông” thường hay đến tiệm sửa xe velo và chơi với ông Thùy, chủ tiệm Thùy Hoa trên đường Duy Tân. Ông Thùy cũng là bạn học hồi trẻ của tôi. Vả lại, tôi thuê nhà chung với ông. Ông sửa xe ở mặt tiền, tôi thuê ở phần nhà sau.

Tuy không thân thiết, nói chuyện với “ông” Ái nhiều lần, tôi không thấy gì đáng chê trách ở ông. Có điều, “ông” học hành chẳng bao nhiêu, lại được ngạch tham sự, làm việc ở Nha Thông Tin, Trung Phần. Hình như “ông” chẳng có việc gì phải làm, chỉ cà nhỏng chạy chơi suốt ngày.

Hồi bấy giờ xin vô làm công chức đã khó, lại được vô chính ngạch lại khó hơn. “Ông” Ái “bỗng nhiên” được cái ngạch tham sự, tương đương có bằng tú tài, ngon lành thiệt, nhưng coi như “ông” ta là cháu của “cậu”, so sánh làm sao được.

Còn như người ta có đồn Ân Ái là “con của cậu”, thì điều đó ai biết được, ấy là chưa nói chắc chi người ta đồn vậy là không có ác ý.

Sau tết Mậu Thân, tôi nhập ngũ. Có hôm lang thang trên đường Hai Bà Trưng, phía ngoài nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Saigon, tình cờ gặp Ái. “Ông” ta mừng lắm, năm lần bảy lượt biểu tôi đến nhà chơi, dáng vẻ tha thiết. Gặp “ông” ấy, người “quen” cũ, tôi cũng vui chớ, hứa sẽ đến chơi. Nhưng rồi tôi đổi về Gò Công, về miền Tây, rồi đi tuốt xuống Cà Mâu / Hà Tiên cho tới ngày 30 tháng Tư, lời hứa thì không quên nhưng không giữ được. Tuy vậy, chút cảm tình của tôi đối với Ái, tới nay tôi vẫn còn giữ được. Đó cũng là điều vui vậy.

&

-“Đảng Cụ Ngô”

Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,
Thiên hạ hà nhân bất thức quân?

(Cao Thích – Thịnh Đường)

“Đảng Cụ Ngô” là “tiền thân” của “đảng Cần Lao”. Nói cho đúng thì “đảng Cụ Ngô” có trước, đến khi “đảng Cần Lao” từ “đảng Cụ Ngô” mà sinh ra, thì “đảng Cụ Ngô” tan hàng.

Tại sao?

Tại vì những người mới vô “đảng Cần Lao” tìm cách triệt hạ “đảng Cụ Ngô”. Hai nhóm người nầy, một bên là “đảng Cụ Ngô”, một bên là “đảng Cần Lao” kỵ nhau dữ lắm, chẳng qua bản chất hai nhóm khác nhau. “Đảng Cụ Ngô” là những người yêu nước, chống Tây, còn “đảng Cần Lao”, ở Huế, số đông là những người có quá trình “theo Tây.”

Nói như thế là phải nhìn lại lịch sử Huế, ít ra là lịch sử Huế kể từ “thất thủ kinh đô”.

Đêm 4 tháng 7 năm 1885, (đêm 22 tháng năm, Ất dậu), Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết ra lệnh đánh úp Tây ở Mang Cá. Đến sáng, Tây phản công. Vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, rồi xuống “hịch Cần Vương”. Tây đưa Ưng Đăng lên ngôi, tức là vua Đồng Khánh. Tây trực tiếp nắm quyền cai trị, vua Đồng Khánh chỉ ngồi làm vì.

Người Việt Nam, từ vua quan cho tới dân chúng, ngấm ngầm hay công khai chống Tây. Phong trào chống Tây nổi lên nhiều nơi, kéo dài tới cuối thế kỷ 19 thì chìm đi.

Đầu thế kỷ 20, phong trào chống Tây lại lên. Một số quan lại đang làm quan với triều đình thì xin nghỉ, vì cho rằng tuy làm quan triều đình nhưng thực chất là “theo Tây”, làm “tay sai” cho Tây. Một số sĩ tử đi thi chỉ để nói lên cái tài giỏi của mình, để có uy tín với dân chúng, chứ không chủ trương ra làm quan. Đó là các cụ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Bá Hạp…

Cụ Phan Bội Châu, tuy đổ giải nguyên trường Nghệ, cũng không ra làm quan, nhưng lãnh đạo các phong trào chống Thực Dân, lãnh tụ “Duy Tân hội”, “Phong Trào Đông Du”, sau khi Nhật thắng Nga ở eo biển Đối Mã năm 1905.

Bấy giờ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để trốn sang Nhật, là linh hồn của “Phong Trào Đông Du”. Tình hình Huế có điểm đặc biệt là sau khi cụ Phan Bội Châu bị bắt cóc ở Thượng Hải; cuối cùng, Thực Dân Pháp – dù trước kia từng tuyên án cụ Phan “tử hình vắng mặt” – nay tuy đã bắt được cụ, cũng không dám xử tử cụ, đưa cụ về giam lỏng ở Bến Ngự. Cụ Phan trở thành thần tượng cho số thanh niên nam nữ ở Huế thời ấy. Nhiều người trong số họ vô ra nhà cụ Phan để “học Nho”.

Những người “học Nho” với cụ Phan, trở thành những người “ủng hộ” Kỳ Ngoại hầu Cường Để ở Nhật. Đồng thời, ông Ngô Đình Diệm, sau khi từ quan, được Kỳ Ngoại hầu chọn làm đại diện cho hầu ở Huế. Từ sự “đan chéo” giữa “ba nhân vật cách mạng” thời bấy giờ là Kỳ Ngoại Hầu, cụ Phan Bội Châu, và Ngô Đình Diệm. Những người “học Nho” với cụ Phan trở thành những người ủng hộ cụ Ngô bởi vì Kỳ Ngoại hầu thì ở xa, cụ Phan thì bị giam lỏng, không hoạt động gì được. Họ chỉ còn cụ Ngô là còn ít nhiều “tự do” để hoạt động. Nhìn chung, ủng hộ cụ Ngô cũng có nghĩa là “theo cụ Phan” hay Kỳ Ngoại hầu. Ba người đó, cùng chung một đường hướng chống Pháp như nhau.

Từ “Phong Trào Đông Du” do cụ Phan lãnh đạo, do Kỳ Ngoại hầu là linh hồn, do Kỳ Ngoại hầu đang lưu vong ở Nhật, thành ra, từ thời kỳ bắt đầu của “phong trào” vừa nói, người Việt Nam nói chung, có khuynh hướng thân Nhật. Thêm nữa, sau khi Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai bùng nổ, Nhật hô hào “Đại Đông Á”, “Châu Á của người Á Châu”, những người làm cách mạng ở Việt Nam, – ngoại trừ các phần tử Cộng Sản Việt Nam – có khuynh hướng dựa vào Nhật để chống Pháp càng ngày càng rõ ràng, khắp cả ba miền Trung – Nam – Bắc nước ta.

Trong viễn tượng đó, “đảng Cụ Ngô” có khuynh hướng thân Nhật, nhưng lý do đặc biệt nhất của họ, chính là vì lãnh tụ của họ: “cụ Ngô” là đại diện của “Kỳ Ngoại hầu” tại Việt Nam.

Tuy nhiên, khuynh hướng thân Nhật của họ có khác ít nhiều với các nhóm thân Nhật khác, ở Bắc hay Saigon, ngay cả với Ngô Đình Huân, con trai lớn của ông Ngô Đình Khôi. Ông Huân làm “thông ngôn” (hay thư ký?) cho Yokoyama Masayuki, Viện trưởng Viện Văn hóa Nhật Bản tại Saigon; người ta nói là ông Huân làm tình báo cho Nhật.

Sau ngày 9 tháng 3 năm 1945, “Nhật đảo chính Pháp”, một số người, – có lẽ trong đó có cả nhóm “đảng Cụ Ngô”, hy vọng và những tưởng rằng, qua “Phong Trào Đông Du” và “Kỳ Ngoại hầu” còn lưu vong ở Nhật, ông Ngô Đình Diệm sẽ được Nhật đưa lên làm thủ tướng, và Kỳ Ngoại hầu sẽ về Việt Nam, ngồi lên ngai vàng thế cho ông Bảo Đại.

Không thấy gỉ cả!

Người Nhật không làm thế.

Ông Bảo Đại vẫn làm vua, và ông Trần Trọng Kim được chọn làm thủ tướng. Dĩ nhiên, người Nhật làm gì, có lý do của họ. Tuy nhiên, “đảng Cụ Ngô” vẫn tiếp tực đứng sau lưng cụ Ngô và tiếp tục đấu tranh chống Pháp sau khi Pháp tái chiếm Huế 1947.

Nhìn chung, số người nầy không đông, không có quần chúng, chỉ là một số người có tinh thần chống Tây với nhau. Tổ chức của họ không phát triển sâu trong giới công nhân, lao động, thợ thuyền hoặc nông dân, chỉ có “tinh thần chống Pháp” là cao, cao hơn “tinh thần chống Cộng”, và mạnh nhất là chống những kẻ “theo Tây”.

Tổng số người của “nhóm” có lẽ chưa tới 20: một ít công chức thời Tây và của chế độ hiện tại, dưới quyền “Quốc trưởng Bảo Đại”, một số là hạ sĩ quan thời Pháp thuộc (lính Khố Xanh, Khố Đỏ), hiện tại là sĩ quan của “Quân Đội Quốc Gia”. Họ thường họp mặt tại nhà “cậu Cẩn” vào những ngày giỗ kỵ, hay đón tiếp Cụ Ngô ở Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế mỗi khi Cụ Ngô về nước. Ông Diệm ít khi ở lại nhà ông; ông ở tại Dòng Chúa Cứu Thế để đươc an toàn hơn. Ông Diệm cũng biết có người không ưa ông, chống ông, như các ông Phan Văn Giáo, thủ hiến và cả Việt Minh nữa.

Khi Cụ Ngô sắp về nước “chấp chánh”, nhóm nầy hoạt động tích cực nhất. Sau đó thì thôi, vì “cậu Cẩn” đã có “người mới” là “đảng Cần Lao Công Giáo theo Tây” rồi. Đây là nhóm tôi đã trình bày ở trên.

Tinh thần “đảng Cụ Ngô” nầy có tính truyền thống, có nghĩa nguồn gốc của tinh thần ấy là từ cụ Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… Điều nầy dễ thấy lắm, không những từ những hành động chống đối của họ đối với kẻ “theo Tây” mà đọc “bia chó” của cụ Phan, người ta cũng thấy rõ đấy.

“Vì có dũng, nên liều chết phấn đấu, vì có nghĩa nên trung thành với chủ. Nói thời dễ, làm thiệt khó, người còn vậy, huống gì chó. Ôi con Vá này, đủ hai đức đó, há như ai kia, mặt người lòng thú; nghĩ thế mà đau, dựng bia mộ chó. (trích bia chó của cụ Phan).

“Há như ai kia” là ám chỉ những người “theo Tây” đấy chớ ai nữa.

Người “đứng đầu” nhóm nầy là ông Võ Như Nguyện, con trai nhà cách mạng Võ Bá Hạp (đậu cử nhân Hán học năm 1900, không ra làm quan, cụ Võ Bá Hạp là con trai cụ Vũ Văn Giáp – xem “Quan hệ Ngô gia / Hồ gia” trong “Theo Dòng” của tg, do Văn Mới xuất bản).

Thời Pháp thuộc, ông Võ Như Nguyện từng bị Pháp bắt và đưa đi đày hai lần. Thời Việt Minh ông Võ Như Nguyện cũng bị bắt giam hai lần, một lần được thả nhờ có ông “Cả Khơm” (tức Nguyễn Sinh Khiêm, anh của Hồ Chí Minh can thiệp – xem sách đd)

Ông Võ Như Nguyện, vừa có lý lịch tốt về dòng dõi, vừa có trình độ học vấn cao, vừa Nho học, vừa Tây học.

Không rõ thời gian nào, trước khi “cụ Ngô” làm thủ tướng hay sau đó, ông có viết một cuốn sách, nhan đề là “Thế nước, lòng dân”, coi như một đường lối xây dựng đất nước. Tôi không được vinh hạnh đọc cuốn sách nầy, nhưng trong tất cả các tài liệu về “Chủ nghĩa Nhân Vị” của ông Ngô Đình Nhu, không thấy ông Nhu nói tới cuốn sách nầy. Có phải ông Nhu là người kiêu hãnh, chỉ nghiên cứu những sách báo bên Tây, nên không quan tâm tới sách của ông Võ Như Nguyên, hay có sự khác biệt về căn bản tư tưởng giữa ông Nhu và ông Nguyện. Chủ nghĩa Nhân vị của ông Nhu đặt căn bản trên tư tưởng Thiên Chúa Giáo mà tiêu biểu là Mounier, cộng thêm với những cái có tên là “Chủ nghĩa Duy linh”…

Người Huế có định kiến với “những tên thực dân mặc áo thầy tu”, cùng với tàu sắt súng đồng của Tây mà xâm lăng, đô hộ nước ta. Thêm vào đó, tôn giáo chính yếu của người Việt Nam trong phạm vi gia đình là “thờ phụng ông bà”, trên phạm vi quốc gia là “thờ phụng các vị anh hùng liệt nữ cứu dân giúp nước” thì những “nhân vị”, “duy linh” bắt nguồn từ trong tư tưởng – tượng trưng là hình ảnh mấy ông cố đạo mũi lõ mắt xanh, râu ria xồm xoàm – thì họ hoan nghênh, ủng hộ thế nào được?! Từ căn bản, người Huế “dị ứng” với “Chủ nghĩa Duy Linh”.

Có thể đó là nguyên nhân chia rẽ sâu xa khiến những người mới theo ông Diệm sau khi ông Diệm cầm quyền “đẩy” những người thuộc “đảng Cụ Ngô” ra xa anh em nhà họ Ngô sau cái ngày gọi là “Trưng cầu dân ý.”

Trong một lần ăn cơm, có mặt ông chú họ tôi – người tôi từng giới thiệu với độc giả rằng ông theo Cụ Ngô từ khi Cụ Ngô từ chức thượng thư (1932) -, tôi kể lại câu chuyện ngoài phố người ta đang vận động “Trưng cầu dân ý” với câu thiệu “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì” thì ông chú tôi nhăn mặt lại, mặc dù việc tiếp đón “Ngô Chí sĩ chấp chánh” hay “Trưng cầu dân ý” công sức của ông đóng góp không nhỏ.

Sau khi “cụ Ngô chấp chánh”, không rõ từ đâu, nhóm người, – ông Đỗ Mậu – gọi là “Cần lao Công giáo” tập trung chung quanh “cậu Cẩn” thật đông, lại làm lễ “vô đảng” ở Nhà thờ Phú Cam. Tại đây, trước những tín đồ đạo Thiên Chúa sắp sửa tuyên thệ, giám mục Phạm Ngọc Chi tuyên bố một câu đáng nhớ đời: “Bao giờ người da trắng còn ở đây, họ còn cần đến chúng ta”.

Đối với người tu sĩ đạo Thiên Chúa, câu nói ấy không có gì lạ, nhưng với một người là “công dân Việt Nam” thì đó là lập trường phản quốc đấy!

Tầng lớp “đảng viên mới” nầy, những người phải gọi cho đúng là “Cần lao Công giáo theo Tây”, tìm cách “đẩy những người “chống Tây” tức là những người thuộc “đảng cụ Ngô” cũ ra xa anh em nhà họ Ngô.

Độc giả nhớ kỹ cho điểm căn bản nầy: Chống Tây và Theo Tây. Lập trường “đảng Cụ Ngô” là chống Tây, những người mới theo Cụ Ngô – đúng ra là cậu Cẩn – đảng viên Cần Lao mới, trước kia là tay sai của Tây, bây giờ là đảng viên mới, nhưng bản chất vẫn là “theo Tây” là phục vụ cho người da trắng, bởi vì khi nào người da trắng còn ở đây thì họ còn cần tay sai.

Khi vừa mới làm thủ tướng, ông Ngô Đình Diệm cử ông Võ Như Nguyện làm tỉnh trưởng Bình Định. Bấy giờ, Bình Định -qua chiến dịch Atlante, mới được Quân Pháp và Quân Đội Quốc Gia chiếm lại – các tỉnh còn lại: Quảng Ngãi, Phú Yên (vùng nầy thường được gọi chung là Nam Ngãi Bình Phú), mới được Quốc Gia tiếp thu từ Việt Minh rút ra Bắc theo hiệp định Genève, tình hình an ninh rất tồi tệ.

Nhờ khả năng, tài ba, kinh nghiệm và đạo đức, ông Võ Như Nguyện ổn định được tỉnh lớn nhất trong bốn tỉnh nầy. Sau đó, ông đắc cử dân biểu “Quốc Hội Lập Hiến” là quốc hội đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa.

Thế rồi, ông Võ Như Nguyện xin từ chức để về nhà phụ vợ  buôn bán (hàng khô: cá khô, tôm khô, nước mắm và ruốc…).

Một lần, ông Võ Như Nguyện cùng với một bà là em gái bà con với ông đến thăm ông Huỳnh Hữu Hiến, mới làm nhà xong. Bà ấy có chồng người Pháp. Ít lâu sau, ông chú tôi kể lại, ở Saigon, ông Võ Như Nguyện đi phố vơi bà em gái ấy. Thế rồi đám “Cần Lao Công Giáo theo Tây” lén chụp hình hai người rồi “trình với cụ Ngô rằng ông Nguyện là người bê bối tình cảm”.

Ông Ngô Đình Diệm thì không vợ. Ông Võ Như Nguyện thì những hai vợ, nay lại có bồ (?). Không rõ ông Diệm có nói gì với ông Nguyện không mà ông Nguyện từ chức, hay ông rõ tình đời: “Hết chim bẻ ná, hết cá quăng nơm”. Một lần, tôi nghe ông chú tôi nói câu đó. Các ông theo gương Phạm Lãi sau khi Việt Câu Tiển đánh bại Ngô Phù Sai chăng?

Vậy rồi bao nhiêu người “theo chân” ông Võ Như Nguyện: Ông chú tôi, Huỳnh Hữu Hiến, ông Ngô Đình Thảng, ông Kỳ Quang Liêm, ông Phùng Ngọc Trưng, ông Nguyẽn Vinh…

Nhạc sĩ Ngô Ganh “đeo” theo “đảng” cho đến biến cố “Đài Phát Thanh 8 tháng 5 năm 1963” thì rớt cả hai chức: Quản đốc Đài phát thanh Huế và bí thư liên tỉnh ủy Cần Lao Huế / Thừa Thiên. Và ông Đỗ Mậu, trở thành nhân vật chính trong “Hội Đồng Quân nhân Cách mạng” của cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, mang tiếng bất trung với người bất trung: Ông Mậu bất trung với ông Diệm, ông Diệm bất trung với ông Bảo Đại.

Mặc dù đã xin về hưu, uy tín của ông Võ Như Nguyện với nhà Ngô còn lớn lắm. Sau vụ “Đài Phát Thanh Huế”, phong trào chống Ngô triều nổi lên nhiều nơi, khiến nhà Ngô phải “đánh phá chùa chiền” đêm 20 tháng 8 năm 1963. Ông Võ Như Nguyện, bấy giờ làm giáo sư ở Viện Hán Học Huế, cũng không tới lui gặp “cậu Cẩn” hay “đức cha” để bày tỏ ý kiến gì, mãi đến tháng 10 năm ấy, khi ông Ngô Đình Diệm về Huế, ông Võ Như Nguyện đến gặp Cụ Ngô, bày tỏ một số ý kiến về tình hình cai trị của nhà Ngô thời bấy giờ. Hai người, Cụ Ngô và ông Võ Như Nguyện nói với nhau về tình hình đất nước, như là một cách tâm sự.

Tổng thống Ngô Đình Diệm xác nhận với ông Võ Như Nguyện rằng chế độ của ông có rất nhiều tổng thống: (Tôi đã từng la rầy họ chỉ có một Tổng thống thôi. (Xem phụ lục, thư ông Võ Như Nguyện gởi cho ông Hoàng Đồng Tiếu), về những sai lầm trong anh em nhà họ Ngô, có hứa sẽ từ từ sửa chữa, nhưng chưa được bao lâu thì cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 xảy ra, ông Ngô Đình Diệm qua đời.

Đối với một số đông người Huế – tôi nói là số đông – số người ấy không ít đâu – cho đến ngày đảo chánh, vẫn còn nhiều cảm tình với ông Diệm – nhất là sau khi nghe tin Cụ Ngô bị giết, người ta càng thương xót hơn. Họ có nhận xét vô tư đấy: họ biết ai là người ác, ai không; biết ai lấy chuyện “theo đạo” ra để mua chuộc, ràng buộc, áp bức người vô tội phải “rửa tội”. Sự việc nầy không phải tình cờ hay đơn giản. Ông Võ Như Nguyện, nói cho đúng, là người lương, không phải là phật tử thuần thành. Vậy mà sau khi rủ áo ra về, làm giáo sư ở Viện Hán Học Huế, ông dẫn toàn bộ gia đình lên chùa qui y. Ông Võ Như Nguyện làm như thế là “dằn mặt” ông Cẩn, “làm nư” với ông Diệm, hay ông muốn nói chung cho anh em nhà họ Ngô biết rằng, ông là người cứng rắn, không sợ hãi trước cường quyền: “uy vũ bất năng khuất”, trong khi đó, “cậu Cẩn”, tuy cũng thuộc gia đình “trọng Nho” từ đời ông Ngô Đình Khả, lại không giữ được câu: “Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di.”

Như đã nói ở phần trước, “đảng cần Lao Công Giáo theo Tây” đẩy “đảng cụ Ngô” xa ra khỏi anh em nhà Ngô, ngoại trừ một số ít không “đẩy” ra được như các ông Nguyễn Đình Cẩn, Nguyễn Cao Thăng, Ngô Ganh, một phần cũng vì những người vừa mới nói là người “có đạo”, một phần là vì, – như ông Đỗ Mậu chẳng hạn – được ông Ngô Đình Diệm ưu ái quá đáng, nên ông Nhu, ông Cẩn, và cả “đức cha” nữa có muốn ra tay cũng không làm chi được.

“Đảng Cụ Ngô” tan rồi, “đảng Cần Lao Công Giáo theo Tây” mặc sức tung hoành, làm nhiều việc sai trái, miễn sao có lợi cho “cậu” thì thôi, như: bắt giam người, kiếm tiền và chê bai, mai mỉa những ai không có “tinh thần cách mạng”: Cứ đọc “bản cung Phan Quang Đông” thì biết ai bị bắt, ai đóng bao nhiêu tiền để được tha. Và cả ai bị giết dưới “trào cậu Cẩn”. Và chuyện anh học trò Đệ Ngũ Lê Thêm bỏ học “đi làm cách mạng” theo cách của “cậu”, nay làm tới “Thủ lãnh” Thanh Niên / Thanh Nữ Cọng Hòa Thừa Thiên Huế chê bọn học trò chúng tôi, nguyên là bạn học cũ của anh, rằng “không biết cách mạng” gì cả.

Sau 1975, tại trại tù cải tạo Z30A, tôi thấy Lê Thêm bị tù vì “can tội thượng sĩ cảnh sát đặc biệt”. Nếu không làm “cảnh sát đặc biệt”, với cấp bâc thượng sĩ, Lê Thêm đâu phải “học tập” làm chi. Tuy nhiên – là con người khéo léo của “đất Thần Kinh” – Lê Thêm được “cách mạng khoan hồng”, “tha ra khỏi trại cải tạo” khá sớm, chỉ mới hơn một năm tù.

Đám “khuyẻn mã” nầy của “cậu” đông lắm. Sau khi “cậu” đã ra người thiên cổ, họ “sống lại” trong các ngành nghề và lại giàu có, sang trọng, oai phong…

Tuy nhiên, ông Võ Như Nguyện vẫn giữ nghề cũ, nghĩa là tiếp tục dạy cho đám sinh viên thời đại mới, những chữ các thầy đồ Nho dạy cho sĩ tử ngày xưa: “Chi, hồ, giả, dã” hay nhân giả nhân giã nghĩa giả nghi giã” (nhân ấy là đạo làm người nghĩa ấy là sự làm phải vậy). Là sinh viên cũ của cụ Nguyện, không rõ ông giáo sư sử học Nguyễn Lý Tưởng có nhớ câu nầy không, khi ông viết “chứng nhân” vụ đài phát thanh Huế đêm 8 tháng 5 năm 1963 mà ông giáo sư… không có mặt ở đó.

Ngay đầu bài, tôi viết lại hai câu thơ của Cao Thích, đời Thịnh Đường. Câu nầy, lần đầu, tôi nghe giáo sư Pháp Văn của tôi, cụ Nguyễn Khán – người Huế thường gọi là “ông tham Khán” – đọc cho bọn học trò chúng tôi vào dịp tết năm 1957 – Năm ấy, vào dịp lễ Noel, trường “Trung Học Khải Định” làm lễ đổi tên thành “trường Quốc Học Ngô Đình Diệm”. Vua Khải Định băng hà (năm 1925) rồi, nay ai muốn làm gì thì làm, vua Khải Định có đội mồ dậy chống lại được đâu.

Tuy nhiên, ở đời, cái tâm lý cô đơn, dù “ham chơi” với “ham mê” cờ bạc như vua Khải Định, hay như ông Nguyễn Khán, thôi chức giám đốc nha Thông Tin Trung Việt, không theo Cụ Ngô, “về đi dạy”, hay như ông Võ Như Nguyện, thôi chức tỉnh trưởng, thôi chức dân biều, cũng “về đi dạy”.

Ngoại trừ vua Khải Định, tư cách kém, học hành kém, bị cụ Ngô Đức Kế gọi bằng tên là Bửu Đảo, “vua Khải Định” thì gọi ngay bằng “thằng” – Gọi vua bằng thằng đấy:

Ai về địa phủ hỏi Gia Long,

            Khải Định thằng nầy, phải cháu ông?

Trong khi đó, ông Huỳnh Hữu Hiến, chú họ tôi, trong một bữa cơm, tôi hỏi ông về bốn bài liên hoàn cụ Ngô Đức Kế nói về vua Khải Định và bài thơ của Cao Thích:

Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ

            Thiên hạ hà nhân bất thức quân

Ông chú tôi nghe xong, bảo rằng đó là tâm trạng “giới sĩ phu” ở Huế đấy, trong đó, dĩ nhiên có cụ Nguyễn Khán và cụ Võ Như Nguyện, sau khi hai ông “thối vi sư” vậy.

Phục lục

(Thư của Cụ Võ Như Nguyện gởi cho “đồng chí”

là ông Hoàng Đồng Tiếu. Trích lại trong “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” của ông Đỗ Mậu – chưa xin phép tác giả)

Pau ngày 24-11-1977

… Như Bác đã biết, tôi đã viết tập “Thế Nước Lòng Dân” năm 1956-57 mà anh em đã đệ trình Cụ Ngô và anh em đã ca ngợi tôi can đảm và nói thẳng công và tội của Cần Lao, của Phong Trào, của Tập Đoàn Công Dân v.v… Rồi năm 1957, như anh đã đọc tập thứ hai “Điều trần về các tổ chức có thể nguy hại đến chính thể Cộng Hòa Việt Nam”, tập này chỉ đánh máy có 6 bản gởi cho 5 anh em nhà họ Ngô. Tập này ký tên 30 người có cha Khai, Hay, Thọ, cả ông Lễ v.v… Tập này không phổ biến vì nói đến những tệ đoan lớn của ông Cẩn và Tập đoàn Công Dân và các vị Linh mục, bà Nhu v.v… Không công khai như tôi đã trình Bác lúc đó vì có hại là để cho Cộng Sản khai thác.

… Năm 1963, như Bác rõ hơn ai hết, tôi ra lời tuyên ngôn tại Huế và bị ông Cẩn ra lệnh bỏ tù. Tôi có theo Phật giáo đâu, mặc dù trong khi Tập đoàn Công Dân của ông Cẩn mạnh, tôi từ chức ngang xương Tỉnh trưởng Bình Định và đem cả gia đình, họ hàng quy y liền để cho ông Cẩn thấy. Tôi đã từng phá cửa ngỏ nhà ông Cẩn để vào nhà, đã từng đánh đập gia nô ông Cẩn trước mặt ông Cẩn và bảo rằng vào nhà này thêm nhục nhã vì vào đây không phải để mà đóng góp thật sự việc nước. Ông Cẩn lập hồ sơ Bác và tôi là gián điệp Pháp, cả Duyến nữa, bắt thằng Quế khai là bọn mình và thằng Thá gì đó (thằng nhà giàu ở đường Trần Hưng Đạo) đã liên lạc với tụi Tây… Ông Cẩn đã bắt giam Bác, cho người đến ám hại tôi… Bác Tiếu ơi, Bác rõ chuyện ấy hơn ai hết.

Tháng 9 hay 10 năm 1963, ông Cụ Ngô về Huế cho gọi tôi lúc 4 giờ chiều. Hai Cụ cháu ngồi tâm sự với nhau cho đến 10 giờ tối. Hôm ấy tùy viên là Đại úy Lê Châu Lộc đứng hầu sau lưng Cụ. (Hiện bây giờ Lê Châu Lộc ở Mỹ). Lê Châu Lộc đã nghe được câu chuyện giữa hai Cụ cháu tôi. Lê Châu Lộc lúc tiễn tôi ra cửa, hơn 10 giờ tối rồi có nói với tôi lần thứ nhất mà Lộc được nghe câu chuyện giá trị như vậy.

Hôm đó ông Cụ kể lại chuyện xưa, nhắc lại mấy tập tôi đệ trình Cụ, đề cập đến quyển “Con Đường Giải Thoát” của tôi, Phật giáo, Công giáo, chuyện trong gia đình và chuyện người Mỹ… Tóm tắt Cụ nói: chú Cẩn và thím Nhu có nhiều lỗi lầm, các vị Linh mục và cả Đức cha nữa cũng lầm lỡ, nhưng Nguyện là nho học, Nguyện có biết câu “Gia nan thiện hạ dị” không? “Chuyện nhà là vậy, khó giải quyết mau, để lần lần sửa chữa, nếu gấp, mau sẽ lâm vào cảnh “Bì oa trữ nhục” của Nguyễn Nhạc, Huệ, Lữ, tôi biết cả và cũng vì bọn làm việc chung quanh cái gì cũng chạy đến thưa trình với chú Cẩn, chú thím Nhu, Đức Cha. Tôi đã từng la rầy họ chỉ có một Tổng thống thôi như Nguyện đã biết. Cụ lại nói rằng hiện đang bị khó dễ với Mỹ vì Mỹ muốn đem quân đội sang. Nếu quân Mỹ sang thì mình mất chính nghĩa, tạo đường tuyên truyền thuận lợi cho Cộng Sản. Mỹ đưa cố vấn là đã quá rồi. Tôi sẽ không chấp nhận, dân ta có đủ quân lính để đánh Cộng Sản. Mỹ chỉ giúp khí giới, phương tiện là thắng. Ngoài Bắc, Nga-Tàu nó giúp Cộng Sản mà nó có đưa quân qua đâu? Mỹ cũng muốn giao cho họ hải cảng và phi cảng, tôi có trả lời giao và không giao cũng như nhau, trong vấn đề chống Cộng thì dùng chung. Họ không bằng lòng, chắc là sẽ xảy ra nhiều chuyện không hay. Vả lại tôi và chú Nhu có ý dù hai miền Quốc-Cộng tranh chấp nhưng đều máu mủ ruột thịt, phải có biện pháp anh em giải quyết lấy chiến tranh, đỡ tốn hao sinh mạng, tài sản rồi bên nào kéo dài chung quy sẽ bị lệ thuộc vào một cường quốc và đất nước chia rẽ vì các cường quốc có ý định chia rẽ cả”.

Võ Như Nguyện.

(Nhà họ Ngô – còn tiếp)

hoànglonghải - Nhà Họ NGÔ