“Ông Mục”

(Để tưởng nhớ “ông Thầy” kính yêu của tôi: Giáo sư Lê Hữu Mục)

Một chút về bọn học trò Huế

            Trong bài viết về “Ông Ngân” – Ông Lê Đình Ngân, nhà văn Đình Ngân, tác giả cuốn truyện ngắn “Phong Lan”, in trước năm 1945, nguyên giáo sư trường trung học Quảng Trị, – sau nầy là trường Nguyễn Hoàng, tôi tự thấy mình là một thằng “mất dạy” bởi cách gọi trổng tên thầy giáo của mình là “ông” với cái tên sau đó, mà chẳng gọi là “thầy” hay “giáo sư” như mọi người.

Trong xã hội “quân, sư, phụ”, theo phong tục của người Việt, gọi thầy như thế là vô lễ đấy. Người ta kể, cụ Phan Thanh Giản, người đầu tiên đậu tiến sĩ của vùng “Đất phương nam”, sau khi ra làm quan rồi, mỗi khi về quê, đều ghé thăm thầy. Kiệu đưa ông tới gần nhà thầy thì dừng lại để ông đi bộ tới nhà, không được ngồi “nghênh ngang” trên kiệu mà tới cổng nhà. Phong tục “tôn sự trọng đạo” của người xưa là như vậy đấy.

Hồi ấy, năm 1951, 52, gọi trổng “Ông Ngân” một cách “mất dạy” như thế, không phải chỉ một mình tôi đâu. Còn một lô mấy đứa “mất dạy” khác nữa. Tôi mồ côi cha sớm, “con không cha như nhà không nóc”, mất dạy đã đành; mấy đứa kia, con các ông lớn trong tỉnh cả đấy, “mất dạy” không thua gì tôi!

“Vô học Huế”, tôi vẫn cứ cái thói gọi trổng tên thầy. Bấy giờ thì cả đám học sinh “đệ nhị cấp” ở Quốc Học, đứa nào cũng gọi trổng tên thầy như thôi. Số nầy đông lắm, chỉ có mấy anh học trò “trong Quảng ra thi”, tức là đám học trò của trường trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng) hay Trần Quí Cáp ở Hội An, ra Huế học chung với chúng tôi – hồi ấy hai trường nầy chưa có “cấp ba”, tôi không thấy “tụi nó” gọi trổng tên thầy như chúng tôi: “Ông Mục”, “Ông Ngô”, “Ông Hai” (Hiệu trưởng)… Có thể bọn chúng nó “nghiêm túc” hơn mấy đứa học trò Huế hay chăng!?

“Ông Mục”, nhạc sĩ

            Tôi “biết” “Ông Mục” là nhạc sĩ trước khi làm học trò ông ở lớp “Đệ Nhị”, niên khóa 1956-57.

Hiện giờ thì có rất nhiều nhạc sĩ đặt bài hát về Huế, nhất là sau “biến cố Tết Mậu Thân”. Trước khi trận đánh nầy xảy ra, có một vài nguời viết bài ca về Huế, như Duy Khánh thì có “Ai ra xứ Huế”, “Tiếng Sông Hương” của Phạm Đình Chương… còn trước đó nữa, tính ra, chỉ có vài ba bài; chẳng hạn như “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước, “Hẹn Một Ngày Về” của Lê Hữu Mục và “Dạo Chơi Thành Phố Huế” của Ngô Ganh và Trần Văn Lý.

Một người thường chơi nhạc cũ như BS Thịnh của đài Hồn Việt TV 2038, dù có “tìm đỏ mắt” cũng không ra bài “Dạo Chơi Thành phố Huế” đâu: “Cùng vui bước dạo chơi, Về thăm nơi yêu thương muôn đời…” Tôi nhớ được có câu đầu.

Bài “Hẹn Một Ngày Về”, tới bây giờ, chỉ có một mình Hà Thanh hát. Bài nầy rất khó hát, hát được cũng khó hay, ngoại trừ Hà Thanh hát rất hay. Thật vậy, độc giả có “tìm đỏ mắt” cũng chẳng thấy ca sĩ nào hát đâu! Không phải bài hát không hay mà vì khó hát nên người ta ngại?!

Tôi là người mê hát, nên tôi biết “Ông Mục” là nhạc sĩ trước khi học với ông, là giáo sư.

Giới học trò Huế, chẳng mấy anh chị nào mà không biết “Ông Mục”.

Tôi rời Quảng Trị “vô Huế học” năm 1954, sau Hiệp Định Genève 1954, hai năm đầu, tôi đã nghe danh “Ông Mục” nhưng mãi đến năm tôi học lớp Đệ Nhị ở Quốc Học, ông là “giáo sư Việt Văn” của lớp tôi. Năm đó là năm thi tú tài 1, gặp “thầy hay bạn giỏi” hy vọng “qua cầu” dễ hơn. Vậy mà tôi không thâu thập được gì nhiều!

Dĩ nhiên, tôi có kỷ niệm về ông, mà lại “có nhiều” nữa.

Duy tâm hay Duy vật biện chứng

            Mấy đứa bạn học lại Đệ Nhi năm đó – học lại, sau nầy gọi là “lưu ban”, – thi không đậu tú tài 1 thì phải học lại, không lên lớp Đệ Nhất (lớp 12) được, năm ngoái cũng học Việt Văn với “ông Mục”. Năm nay cũng vậy nhưng “Ông Mục” có kinh nghiệm hơn.

“Ông Mục” đưa ra một đề tài trong tuyện Kiều, chẳng hạn như: “Đạm Tiên hiện ra là giấc mơ của Kiều hay là có thực”?

Thế rồi bọn học trò đứng về một phe, trong đó có nhiều đứa, đứng đầu là Nguyễn Hữu Châu Phan – sau nay ra Đại Học Sư Phạm Sử Địa – theo đuôi Nguyễn Bách Khoa trong “Nguyễn Du và Truyện Kiều”, thiên về Duy Vật Biện Chứng, cho rằng Kiều là con nhà tư sản, dư ăn thừa mặc, mơ màng, mộng mị mới có câu chuyện Đạm Tiên hiện về:

Vân rằng: Chị cũng nực cười,

                  Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.

 

Vương Quan cũng chê Kiều:

 

Quan rằng: Chị nói hay sao

                 Một lời là một vận vào khó nghe!

 

            Trong khi đó, về phía kia, – phía thầy giáo, chỉ  có “Ông Mục” là một phe, đứng trên lập trường “Duy Tâm”, phản bác “Duy Vật Biện Chứng”, cho rằng việc Đạm Tiên hiện ra là việc “có thật”.

Nói thật, trên bình diện lý luận văn học, “Duy Vật Biện Chứng” thường “hấp dẫn” bọn học trò chúng tôi hơn. Cứ giải thích bằng cách “Chúa bảo thế”, “Phật như thế” thì bọn tôi đâu có chịu, đâu có nghe!

Cuộc tranh luận xảy ra rất kịch liệt giữa hai phe, bỗng trở thành cuộc tranh luận giữa “Ông Mục” và Châu Phan.

Phan không nói hỗn, nhưng rất bướng, không chịu thua phe Duy Tâm của “Ông Mục” bao giờ. Cuối cùng, “Ông Mục” bực mình đuổi Phan ra khỏi lớp. Tới giờ sau, “Ông Mục” cho Phan vào lớp lại. Chưa yên chỗ, Phan lại tiếp tục tranh luận với thầy. Hết giờ, câu chuyện mới thôi.

“Rút kinh nghiệm” năm trước, năm nay, “Ông Mục” chia học trò thành hai phe: Phen có thực và phe mộng mị – đại khái là như vậy, còn ông đứng giữa làm “trọng tài”.

Hết giờ học, bọn tôi cải nhau cũng chưa xong. Học hành gì đâu!

Chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị hồi đó chỉ có truyện Kiều là chính. Các tác phẩm khác như “Cung Oán”, “Hoa Tiên” chỉ học qua. Vì vậy năm đó học với “Ông Mục” chán lắm. Năm sau, 1958, khi tôi học Đệ Nhất, Bộ Giáo Dục sửa đổi lại, thường gọi là “Chương trình 12 tháng Tám/ 1958”, ngày ban hành, chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị thêm vào các tác giả của Tự Lực Văn Đoàn.

Mấy năm sau, khi tôi “làm báo” Rạng Đông với “Ông Mục”, có lần tôi đến nhà ông, ông cho tôi xem một bức hình khá to, một người đã đứng tuổi, hỏi tôi: “Biết ai đây không?”

Quả thật, tôi không biết, lắc đầu. “Ông Mục” nói: “Hoàng Đạo đấy”. Tấm hình nầy do nhà xuất bản nào đó ở Saigon gởi cho ông vì ông đang cho xuất bản nhiều cuốn sách giáo khoa viết về Tự Lực Văn Đoàn.

Sau khi chương trình giáo dục thay đổi như nói ở trên, các tác giả của Tự Lực Văn Đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam… đề được đưa vào chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị. Các giáo sư ở Saigon đua nhau viết sách về các tác giả nầy để làm sách giáo khoa, để bán… Bấy giờ, “thời Ngô Đình Diệm”, công việc giáo dục phát triển mạnh, học sinh đông, thi cử trở thành quan trọng, là nấc thang tiến thân cho thanh niên, nên những sách về “luyện thi tú tài 1” bán rất chạy.

“Ông Mục” soạn sách để dạy cho học trò ông đã đành, mà các nhà xuất bản ở Saigon cũng “commend” sách của ông, vì so ra với với các giáo sư có sách in ở trong đó, không sách nào hay như sách của ông. Một phần, các giáo sư đó bằng cấp chưa tới, có người chưa đậu cử nhơn, có nguời đậu cử nhơn luật, có người không chuyên viết về sách giáo khoa như ông, nên các nhà xuất bản ở Saigon hướng về ông là vì vậy.

Có một điều cần lưu ý ở đây. Thời kỳ cuối thập niên 1950, sau thời kỳ “Nhân Văn, Giai Phẩm”, chương trình giáo dục “môn Văn” (nói theo cách ngoài đó), chỉ hướng trọng tâm vào “vô sản”, nghĩa là học sinh chỉ học các tác giả mới, trưởng thành trong thời kỳ “Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất”, hoặc các tác giả tiền chiến có khuynh hướng xã hội, đã phá “phong kiến” như “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố, “Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng, nhưng chỉ ở cấp đại học mà thôi, còn ở cấp trung học chỉ là nhồi nhét các tác phẩm ca ngợi nông dân vô sản mà thôi.

Trong ý nghĩa đó, trong văn học và giáo dục, chính phủ Đệ Nhất VNCH chủ trương lấy “Tư Sản chống Vô Sản”. Đây là một bình diện chống Cộng căn bản mà ít người làm giáo sư văn chương hay hoạt động tronh lĩnh vực văn học ít lưu tâm tới mà thôi.

Bấy giờ tôi cũng đã đi dạy, mà lại dạy cùng một trường với ông, và cũng đang “làm báo” với ông, nên có dịp nói với ông về đề tài nầy. Nghe tôi nói xong, ông cười, nói với tôi: “Cậu đúng là một người chống Cộng. Một người như thế mới có cai nhìn sâu sắc như thế!” Tôi cũng chỉ cười lại với ông mà thôi.

Có hai lý do tôi “hốt” hết sách ông viết về “Tự Lực Văn Đoàn” đem về đọc. Một là vì tôi cũng dạy Việt Văn, thứ nữa, việc viết văn làm báo của tôi, thời kỳ “mầm non văn nghệ”, tôi cộng tác với tuần báo Mùa Lúa Mới ở Huế, mà sau khi tôi “vào” tờ báo nầy không bao lâu, “Ông Mục” làm chủ bút tờ báo nầy.

Năm sau, khi tôi học lớp Đệ Nhứt, “Ông Mục” lại dạy chúng tôi, không phải môn Việt Văn – năm Đệ Nhứt không học Việt Văn mà học Triết – “Ông Mục” dạy Sử Địa.

Học Sử Địa với “Ông Mục” thì cũng khỏe. Ông dùng sách Tăng Xuân An.

Nói thật, học sách Tăng Xuân An còn khỏe hơn học sử địa với “Ông Mục”. Nằm nhà, chổng cẳng ra, cầm sách mà đọc, còn hơn phải tới lớp, ngồi nghiêm chỉnh nghe thầy “giảng bài trong sách”. Thậm chí, vài khi, tên mấy ông chính trị gia, tướng tá…nhất là những “cái tên Liên Xô”, “Ông Mục” vừa viết lên bảng, vừa nhìn vào sách để khỏi sai, khiến bọn học trò chúng tôi nhìn nhau cười.

Tuy nhiên, ông vẫn nghiêm chỉnh khi giảng bài. Có lần, Nguyẽn Thanh Trầm, – sau nầy ra đại học sư phạm sử địa – đi thi “Trung Học Toàn Quốc” về môn nầy, trả lời “Ông Mục” khi ông hỏi về đề tài thi, Trầm nói: “Thưa thầy hỏi về Xít-Ta-Lin”. “Ông Mục” bực mình nói: đọc là Stalin. Sao lại Xít-Ta-Lin! Học sinh tú tài rồi mà!”

Học sử địa với “Ông Mục” một năm, tôi nhớ mãi một câu chuyện, một câu chuyện bên Tây có “vận” vào tình hình miền Nam vào tháng Tư/ 1975.

Hôm ấy, có lẽ khi giảng về việc thống chế Pétain đầu hàng Đức, “Ông Mục” kể: Ngày nay, khi đứng trên tháp Eiffel, nhìn quang cảnh thủ đô Paris huy hoàng, tráng lệ, người ta thầm cám ơn ông Pétain. Nhiều người muốn đặt lại một vấn đề lịch sử, cần xét lại công trạng của ông thống chế nầy, – vị anh hùng Verdun – vì nếu không có ông đứng ra làm “Lê Lai liều mình cứu chúa”, thì Hitler đã cho Paris thành bình địa, đâu còn như bây giờ.

Gần cuối tháng Tư 1975, Cộng Sản Bắc Việt đe dọa san bằng thành phố Saigon nếu Saigon “ngoan cố chống cự”. Để cứu Saigon, đại tướng Dương Văn Minh đã làm công việc như ông Pétain đã làm 35 năm trước. Lịch sử nước Pháp sẽ định công tội ông Pétain. Lịch sử Việt Nam cũng sẽ làm công việc ấy với việc ông Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng hồi trưa ngày 30 tháng Tư/ 1975. Ngoài lịch sử, không ai làm công việc đó được. Khẳng định là như thế!

Năm đó, thi tú tài 2, tôi “vào vấn đáp” với ông Lê Khắc Phò. Ông Phò đậu cử nhơn luật từ bên Tây về, dạy sử địa, nổi tiếng giỏi và khó khi hỏi vấn đáp. Thí sinh rất sợ. Tôi cũng vậy!

Ông Phò hỏi tôi về “Mặt trận Châu Âu” trong Thế giới Chiến tranh Thứ Hai. Tôi trình bày xong, ông hỏi tôi: “Nói về mặt trận Châu Á được không?” Tôi trả lời: “Thưa thầy được!” Sau đó, tôi nói miên man về đề tài nầy. Ông Phò ngồi nghe, không ngắt lời. Tôi nhấn mạnh tới câu nói của ông tướng Mỹ Mc Arthur “I shall returne” khi ông tướng nầy bị Nhật tấn công, phải bỏ Phi chạy xuống Úc và tôi nói luôn tới việc ông tướng Mc Arther là tư lệnh lực lượng Đồng Minh trong “Chiến Tranh Triều Tiên”.

Xong, ông Phò hỏi tôi học sử địa với ai. Tôi trả lời “giáo sư Lê Hữu Mục”. Ông Phò nhướng mắt tỏ ý ngạc nhiên.

Khi tôi xuống lớp, ngồi bên cạnh L.T.K.D. và Th.Tr.T.D, hai cô bạn cùng lớp, hai người nầy mừng tôi “qua cầu” bình an. Họ nghĩ tôi thoát đươc ông Phò, còn hai cô ấy thì đang lo tới phiên của mình.

Thật ra, những điều tôi có được và trả lời trong cuộc thi vấn đáp nầy, không phải tôi học ở “Ông Mục”, mà do tôi “mê sách”: Tôi đọc gần hết những sách “Le Livre de poche” mua ở nhà sách Ưng Hạ và “ngốn” hết các bài viết về đề tài nầy trong nguyệt san “Phụng Sự” do Quân Đội Quốc Gia xuất bản. (Tới thời VNCH, tờ báo nầy ngưng hoạt động).

Lễ kỷ niệm sáu mươi năm trường Quốc Học

            Ngày 26 tháng 12 năm 1956 là ngày lễ kỷ niệm sáu mươi năm Trường Quốc Học được thành lập. Về văn nghệ, công lao đóng góp của “Ông Mục” không nhỏ. Chuyện ấy nói sau.

Hồi ấy, “trào nhà Ngô”, cái gì đóng góp cho Dân Tộc và Đất Nước cũng được tuyên truyền là công lao nhà họ Ngô. Có nhiều cái sai, ví như việc thành lập trường Quốc Học chẳng hạn.

Vua Thành Thái là người có tư tưởng tiến bộ, “khoái” cái “văn minh Tây phương”. Ngoại trừ mấy ông Tây thực dân, cũng như vài ông “cha cố”, vua Thành Thái là người Việt Nam đầu tiên ở Huế có xe hơi “chạy chơi” và có canô để du ngoạn trên sông Hương. Ông có những mấy chục bà phi, thỉnh thoảng, ông bỏ một bà phi ngồi trên xe hơi chạy quanh thành phố Huế chơi. Trần Văn Trạch hát “trên thi ô-tô dưới thì ca nô, nằm giường lèo…” chính là cái chơi của ông vua nổi tiếng “ăn chơi”.

Ngoài lòng ngưỡng mộ “văn minh Tây phương”, vua Thành Thái còn “kỵ” mấy thầy thông ngôn. Trước hết là việc ông Bửu Lân (tên vua Thành Thái) được ngồi lên ngai vàng là do ông thông ngôn Diệp Văn Cương cố ý “dịch bậy”. Chuyện nầy tôi có kể rồi. Thứ hai, bấy giờ ở các tỉnh, các quan tổng đốc, tuần vũ, án sát… mù tịt tiếng Tây nên các thầy thông ngôn của ông công sứ “múa gậy vườn hoang” dữ lắm, muốn dịch sao thì dịch nên quyền của các thầy thông ngôn chỉ dưới công sứ mà thôi. Ông Trần Đình Mai, hàng xóm của tôi hồi tôi còn làm học trò ở Quảng Trị, là cháu nội ông Trần Đình Túc, làm quan triều Tự Đức. Thân phụ ông Mai làm thông ngôn cho công sứ Quảng Trị. Ông Mai khoe với tôi: “Trên là công sứ, dưới là cha tui. Tui sống như ông hoàng.”

Tình hình ấy khiến vua Thành Thái muốn các quan Nam Triều phải “biết tiếng Tây”. Vua sai ông Ngô Đình Khả, bấy giờ đang giữ chức “Thương biện Viện Cơ Mật” xin với Khâm Sứ Pháp cho dùng Trại Lính Thủy của triều đình đang bị bỏ hoang để mở “Pháp Tự Học Đường”, dạy tiếng Tây cho các quan “hậu bổ” – chờ bổ dụng.

Tuy nhiên, “mấy ông nhà Ngô” cứ cho việc mở “trường Quốc Học” là công của ông Khả.

Mấy ông ở Huế “theo cụ Ngô” từ khi cụ “từ chức” như ông Võ Như Nguyện, ông chú tôi là Huỳnh Hữu Hiến, ông nhạc sĩ Ngô Ganh… nhân dịp “kỷ niệm” nầy muốn đặt tên trường là “Trường Quốc Học Ngô Đình Khả”.

Hiệu trưởng bấy giờ là ông Nguyễn Văn Hai, muốn chống lại việc ấy nhưng biết chống không lại, bèn dùng “mẹo”, “tâu” với “cậu Cẩn” nên đặt tên là “Trường Quốc Học Ngô Đình Diệm” vì thời đại bây giờ là thời đại mới, văn minh, hiện đại, cách mạng nên đặt tên như ông đề nghị thì hay hơn.

“Cậu” nghe bùi tai nên “ừ”. Các ông nói trên làm gì được.

Ý ông Hai đoán chừng cụ Diệm không đồng ý đặt tên như thế. Người Tây thường cử lấy tên người sống mà làm kỷ niệm!

Sáng ngày 26 tháng 12 năm 1956, tổng thống Ngô Đình Diệm tới trường chủ tọa lễ kỷ niệm. Vào khỏi cổng, thấy có tấm banderole đề mấy chữ lớn “Trường Quốc Học Ngô Đình Diệm”, tổng thống nói với ông Hai đang đi bên cạnh: “Tui còn sống răng lấy tên tui mà đặt cho trường”. Ông Hai “dạ”, sẽ bỏ tên “cụ” ra, nhưng không dám bỏ, ông “sợ đủ thứ” của triều đại nhà Ngô. Mãi đến khi Ngô triều sụp đổ, trường mới chỉ còn mấy chữ “Trường Quốc Học”.

Trở lại chuyện công lao của “Ông Mục”. Trước hết, ông đặt một bài hát cho học sinh của trường, hình như tên bài hát là “Học sinh Quốc Học Ngô Đình Diệm hành khúc”. Bài hát chỉ có mấy câu:

Học sinh trường Ngô Đình Diệm

                    Đem sách đèn sáng soi sơn hà

                    Vùng lên! Đi sáng đời ta

                    Thề tranh đấu cho đời tự do.

            Nhạc sĩ Lê Yên, giáo sư âm nhạc của trường, tập trung toàn thể học sinh ở préau để tập bài nầy. “Ông Mục” với ông Hai đứng bên cạnh ông Lê Yên, trên sân khấu.

Thấy ông Lê Yên tập hát cho chúng tôi gì mà nghe rền rền, yếu xìu, nhất là mấy chữ “vùng lên”, “tranh đấu” nghe như vừa hát vừa ngủ gật, “Ông Mục” liền “ra tay”, giành micro để tập cho chúng tôi bảo. Ông bảo chúng tôi hát mạnh mẽ mấy chữ nói ở trên. Vùng lên hay “tranh đấu”, nghe rất… hết buồn ngủ. Ông Hai đứng bên cạnh gật đầu thích thú, vỗ vai “Ông Mục”.

“Ông Mục” thành lập một ban đại hợp xướng, gồm khoảng một trăm học sinh nam nữ để hát bài “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình Chương. Lần đầu tiên một ban đại hợp xướng hát bài nầy rất thành công. Tôi không rõ “hòa âm” do “Ông Mục” tự soạn hay có ai góp tay vào, hay là của ai soạn sẳn.

Văn hóa và báo chí.

Năm học Đệ Nhị, tôi đã có bài đăng trên tuần báo Mùa Lúa Mới và lai rai có tiền nhuận bút… xài chơi.

Hình như trước 1945, Huế có vài nhà in tư nhân. Đầu cầu Trường Tiền, kế Nha Thông Tin và Pharmacy Trường Tiền của ông dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, trên một vách tường cao, tôi thấy có mấy chữ viết khá to, tuy đã bị xóa nhưng còn đọc được: “Nhà in Ngô Tử Hạ”. Nhà in thì không còn. Hình như ông chủ nhà in Ngô Tử Hạ đã tản cư ra Thanh Hóa. Năm 1949, 50, khi ông anh cả tôi chủ trương báo “Ý Dân” thì báo của “ảnh” in ở nhà in Viễn Đệ, gần chợ Bến Ngự, trên đường Phan Đình Phùng, con đường chạy dọc theo “sông An Cựu nắng đục mưa trong”. Nhà in nầy sau cũng bị chính quyền của thủ hiến Phan Văn Giáo tịch thu.

“Nha Thông Tin Trung Việt” cũng có một máy in typo lớn, in được khổ nhật báo. Máy in nầy tịch thu của nhà in Ngô Tử Hạ hay Viễn Đệ, tôi không nhớ. Ông chủ sự coi nhà in là ông Nguyễn Hòa Phẩm, nổi tiếng với câu nói, khi bị ông thủ hiến Phan Văn Giáo khiển trách: “Dạ thưa ông thủ hiến, lỗi tại nhơn viên của tui, không phải tại tui.”

Máy in nầy chỉ in tài liệu của Nha Thông Tin, không in gì khác. Nhưng năm “cụ Ngô về chấp chánh”, dân chúng nhiều nơi cần hình “cụ Ngô” để treo, máy in nầy phải chạy suốt đêm để có đủ “hình cụ” mà phát không cho dân chúng.

Năm 1956, khi ông Võ Thu Tịnh làm giám đốc Nha Thông Tin, ông chủ trương xuất bản tuần báo văn nghệ Mùa Lúa Mới, đặt tòa soạn ở ngôi nhà bên cạnh trụ sở Nha, và xử dụng máy in của nha Thông Tin để in báo. Tờ báo có một số người tham gia, phần đông là những người từ “vùng kháng chiến” về, vùng mới được Quốc Gia tiếp thu như nhà thơ Đỗ Tấn (Đỗ Tấn Xuân), dân Bình Định, làm tổng thư ký. Kỳ Quang (Lê Mạnh Kỳ) cũng dân Bình Định, thư ký. Quang Đạo (Hoàng Hữu Pha), dân Bích Khê, Quảng Trị, mới từ Thanh Hóa về. Nhà văn Phan Du, tổng thư ký tuần báo “Ý Dân” của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia. Nhà văn Phan Du quê ở Quế Sơn, Quảng Nam. Trung sĩ Nguyễn Đình Hòe, tổng thư ký báo “Lửa Thiêng” của Đệ Nhị Quân Khu (Quân Đội, tên hồi bấy giờ). Nhà Văn Nguyễn Phúc, giáo sư trường Nguyễn Du; ông hiện có truyện dài “Đôi Lứa” đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong Saigon, báo của “phe Cần Lao” mới “ra lò”. Nhà thơ Trần Thanh Nguyên, người Huế, nhân viên nha Thông Tin, mới ở vùng Việt Minh về.

Một vài người nổi tiếng khác như nhà thơ Vân Sơn Phan Mỹ Trúc – tác giả tập thơ “Tiếng Nói của Dân Nghèo”, nhà thơ Trụ Vũ, nhà thơ Trần Gia Thoại, sinh hoạt tự do, không quan hệ gì tới nhóm Mùa Lúa Mới cả.

Tôi đang là “mầm non văn nghệ” của tuần báo nầy, có truyện dài “Mưa qua khung cửa” và các truyện ngắn đăng ở báo nầy, có tiền nhuận bút đủ may quần áo và xài chơi… đủ “cứu trợ” cho cậu “học trò nghèo” xa xứ tới Huế cầu học, nối tiếp con đường của anh “học trò cá gỗ” xứ Nghệ mấy trăm năm trước vậy.

Năm sau, ông Võ Thu Tịnh rời chức giám đốc, về bộ Thông tin ở Saigon. Tôi nghe “mấy ông” trong tòa soạn “kháo” với nhau vì ông Tịnh gốc là Việt Quốc, không ngồi ghế giám đốc lâu được. Không rõ từ trong “nội bộ Cần Lao” của “cậu Cẩn” hay đông lực nào, “Ông Mục” làm chủ bút thay ông Tịnh.

Một hôm, gặp “Ông Mục” ở tòa soạn, ông đưa cho tôi xem một cái note của ông Lê Hoàng Hoa viết cho “Ông Mục” nói về chuyện vẽ bìa cho tờ báo đổi in khổ lớn hơn. Cái note có mấy chữ làm cho tôi kinh ngạc:

“Dear Mục,

            ………

Cái anh chàng Lê Hoàng Hoa nầy, học hành láng cháng, ai không biết là tay ba gai, mất tư cách mà dám gọi ông thầy của tôi, giáo sư cử nhân đàng hoàng bằng “Dear Mục”!

Khoảng 1948 hay 49 gì đó, Lê Hoàng Hoa đậu tiểu học. Không tiếp tục học trung học ở “Khải Định nhỏ”, anh ta học nghề chụp hình và làm công cho “Tăng Vinh photo” trên đường Trần Hưng Đạo, phía ngoài cửa Thượng Tứ.

Bấy giờ ca sĩ Hương Thủy, học sinh trường Đồng Khánh, nổi tiếng hát hay và đẹp của Đài Phát Thanh Huế, cùng thời với học sinh /ca sĩ Tôn Thất Niệm. Cô Hương Thủy là con gái cụ Vân Bình Tôn Thất Luơng. Cụ dạy Việt Văn ở trường Đồng Khánh, xuất bản cuốn sách chú giải và phê bình cuốn Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn Thị Điểm.

Nghịch ngợm một cách “mất dạy”, Lê Hoàng Hoa lấy phần cái đầu cô Hương Thủy ghép với hình một con đầm ở truồng cho khớp với nhau, rồi chụp lại, thành ra “hình cô Hương Thủy ở truồng”, đem dán ở cổng trường Đồng Khánh.

Dĩ nhiên, giới phụ huynh và học sinh nam nữ (bấy giờ nam nữ học sinh Đồng Khánh và “Khải Định lớn” học chung một khuôn viên) náo động lên vì câu chuyện nầy. Ai cũng cho rằng Lê Hoàng Hoa là “tác giả”. Phải là người “có tài” như Lê Hoàng Hoa mới làm được việc nầy.

Năm 1951, Phòng Thông Tin Hoa Kỳ mở ra trên đường Gia Hội (sau nầy là đường Chi Lăng). Lê Hoàng Hoa vô làm phóng viên chụp hình cho cơ quan nầy. Hình ảnh anh ta chụp được in trong tờ báo ảnh “Thế Giới Tự Do”. Rồi anh “du học” Mỹ, mấy năm sau tốt nghiệp đạo diễn, về làm việc trở lại cho phòng Thông Tin Hoa Kỳ ở Huế, và nổi tiếng là “Mỹ con”, với cái tên Tony hay Johny gì đấy – cách ăn mặc cũng như tác phong giống như “cao bồi tếch-xa”, vai vế coi như “ngang hàng” với “Ông Mục”. Ít lâu sau, Lê Hoàng Hoa đi Saigon và càng nổi tiếng hơn.

Bỏ Huế mà đi cũng phải! Đây là “vùng đất chìm”, hoàng đế, cung phi, mỹ nữ, quan cách, ngai vàng, điện ngọc đang chìm dần xuống đáy sông Hương, đâu phải là nơi để người ta có thể phát triển tài năng.

Người Huế cũng quên dần câu chuyện “ghép hình cô Hương Thủy ở truồng”. Chỉ còn tôi tò mò và… nhớ lâu.

Huế bây giờ cũng “phục hồi” sinh hoạt văn hóa, nên “Hội Văn Hóa thành phố Huế” ra đời. Hội thường tổ chức nhiều buổi nói chuyện (diễn thuyết) tại rạp Ciné Morin (Lúc nầy Morin chưa thuộc Đại Học Huế chưa hình thành). Susane Labin, nghe nói là bạn thân của ông cố vấn Ngô Đình Nhu, từ Saigon ra thuyết trình về “Chủ Nghĩa Nhân Vị”. Lên diễn đàn, bà ấy chỉ cầm theo một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay, vậy mà nói hàng giờ không ngừng, trơn tru,  bình tĩnh, không vấp váp, không ì à như nhiều nhà bình luận bây giờ nói trên các đài TV Cali!

Dù đồng ý với quan điểm của bà hay không, không ai là không phục tài năng của bà.

Tôi đi nghe mà chẳng hiểu bao nhiêu. Tôi vừa “dốt” Pháp Văn, lại không đủ trình độ hiểu biết về triết học để thu nhận những gì bà ấy nói ra. Cũng đỡ hơn bây giờ, nhiều nhà bình luận nói tiếng Việt mà “văn hoa” quá nên tôi không hiểu họ nói cái chi!

Hội Văn Hóa Thành Phố Huế tổ chức các buổi diễn thuyết nhân dịp “kỷ niệm Nguyễn Du”, “kỷ niệm Phan Bội Châu”, “kỷ niệm Hàn Mặc Tử”. Diển giả, dĩ nhiên, không khi nào vắng mặt “Ông Mục”. Cũng tùy theo đề tài, có khi còn có thêm các ông thi sĩ Quách Tấn, bạn thân với Hàn Mặc Tử, người làm thất lạc nhiều di cảo của Hàn Mặc Tử giao cho ông vì chiến tranh – như lời ông thú nhận; thi sĩ Hoàng Diệp, người giới thiệu “cô em gái của mình” cho Hàn Mặc Tử khi Hàn sắp vào Nhà Thương Phung ở Qui Hòa, là “nhân vật chính” trong bài thơ “Gởi nhạn” của thi sĩ Hàn viết tặng “cô” ấy. (1)

Hôm tôi đi nghe diễn thuyết về Hàn Mặc Tử về, gặp lúc ông Nguyễn Khán, – đang là giáo sư Pháp Văn của tôi, nguyên là giám đốc Nha Thông Tin Trung Việt, dịch giả cuốn sách “Tâm Lý Quần Chúng” – tôi không nhớ tên tác giả là một ông Tây – đến ăn giỗ ở nhà tôi, ông Huỳnh Hữu Hiến, tôi gọi bằng chú, – gọi tôi lên hỏi tôi “nghe cái gì?”. Tôi trả lời nghe các diễn giả khen bài thơ “Ave Maria” ghê lắm. Ông Khán cười ruồi, nói với ông chú tôi: “Anh thấy không – Phục hồi đạo Thiên Chúa. Không làm tay sai cho Tây thì làm tay sai cho đế quốc La Mã, cũng là cái bản chất tay sai thôi!”

Thú thật, khi nghe câu ấy, tôi chẳng hiểu gì ý của ông thầy. Sau nầy, khi ông Ngô Đình Thục về làm tổng giám mục Huế và sau vụ “Đài Phát Thanh Huế” đêm 8 tháng 5 năm 1963, tôi thấy rõ hơn cái mục đích sâu xa của “Hội Văn Hóa thành phố Huế”. Hội nầy cũng “tự động tan hang” sau khi nhà Ngô sụp đổ.

Thật ra, không khí “văn hóa” lúc ấy ở Huế cũng khá sôi nổi và… vui. Hôm “kỷ niệm Nguyễn Du”, bác sĩ Lê Khắc Quyến lên nói một chuyện cũng khá buồn cười.

Ông kể làm bác sĩ nhiều khi rất mệt. Đôi khi cũng muốn thư giản nghỉ ngơi một chút bèn lấy truyện Kiều ra đọc. Nhưng rồi trí óc có yên được đâu bởi vì việc “Từ Hải chết đứng” có phản khoa học không? Và ông giải thích sự kiện gọi là lạ ấy, nhưng theo y học, không có gì lạ cả. Đó cũng là việc thông thường, không phải linh ứng gì để đến khi Kiều sụp lạy thì “Từ liền ngã ra!”

Thế rồi hội bầu ban chấp hành nhiệm kỳ mới.

Mấy người bạn học nói với tôi, trong chương trình “văn nghệ tạp lục”, “Ông Mục” “ca mầy” trên Đài Phát Thanh Huế ngon lành lắm.” Tôi không nghe được chương trình ấy, nhưng một hôm, đang ở trong lớp, “Ông Mục” đến chỗ tôi đưa cho tôi một phong bì có thư mời đi họp để bầu ban chấp hành nhiệm kỳ mới, tại Phòng Đọc Sách của Chi Thông Tin thành phố Huế đóng ở Morin.

Dĩ nhiên, tôi “khoái chí” với cái thư mời nầy và hăng hái đi họp. Tôi còn “nhóc tì” mà họp hành với mấy “văn giới đàn anh”, “nhà văn nhà veo” cả mà không vinh dự sao được!

Vào phòng họp, tôi được biết kỳ nầy “Ông Mục” sẽ ứng cử chức chủ tịch hội và tôi cũng nghĩ “Ông Mục” sẽ thua, mà không chừng lại thua đậm nữa.

Buổi họp có nhiều nhóm tham gia. Không có nhóm nào “Ông Mục” sẽ thu được nhiều phiếu. Ngay nhóm “Mùa Lúa Mới” cũng không hẳn họ sẽ bỏ phiếu mặc dù ông là chủ bút tuần báo của họ, nói chi tới nhóm “Ý Dân – Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia” của ông Phan Du, nhóm “Lửa Thiêng” của ông Nguyễn Đình Hòe, cũng như các ông không thuộc nhóm nào. Nhóm báo “Lành Mạnh” của bác sĩ Lê Khắc Quyến thì không tham gia hội, cũng như nhà thơ Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, Trụ Vũ, Trần Gia Thoại… Chắc chắn “Ông Mục” có ba phiếu: Phiếu của ông, của ông Võ Long Tê và tôi. Không lý tôi không bỏ phiếu cho ông thầy của tôi. Ông Võ Long Tê mới ở Pháp về. Nghe nói ông đại sứ VNCH Phạm Duy Khiêm ở Paris khoái ông Tê vì người ta đồn ông viết Pháp Văn hay lắm. Không hiểu vì lý do gì mà ông bỏ Paris về, dạy lại ở trường Nguyễn Tri Phương, nhiệm sở cũ của ông.

Vậy mà “Ông Mục” thua rất sít sao một ông nào đấy, hình như là nhạc sĩ Ngô Ganh, nguyên là thầy giáo dạy hát cho thiếu nhi ở các trường tiểu học. Ông Ngô Ganh là người “theo cụ” từ lâu, và đảng viên Cần Lao. Hồi vụ đàn áp ở Đài Phát Thanh Huế xảy ra đêm 8 tháng 5 năm 1963, ông đang là bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế, quản đốc của đài phát thanh nầy. Sau vụ đó, đời ông “chìm” luôn cho đến ngày ông qua đời trong cảnh nghèo khổ, sau năm 1975.

Tại sao “Ông Mục” thua, trong khi đó ông là người nổi nhất: bằng cấp cao nhất, ngang với linh mục Cao Văn Luận, – cố vấn của hội – “Ông Mục” bấy giờ cũng nổi tiếng giỏi. Giới giáo chức và học sinh biết tiếng tăm của ông. Học trò mà được học với “Ông Mục” thì khoái lắm!

Tôi sẽ giải thích thêm ở phần sau.

Sau khi ông Võ Thu Tịnh vô nam rồi, tuần báo Mùa Lúa Mới sống èo uột, chưa được bao lâu thì đóng cửa.

Niên khóa 1958-59, tôi học Dự Bi Văn Khoa. “Ông Mục” dạy văn học sử ở lớp nầy. Có lần, tan lớp, ông ta gọi tôi tới, bảo đến nhà ông.

Tới nhà gặp thầy, tưởng chuyện học, ai ngờ chuyện làm báo. Ông bảo ông đứng làm chủ nhiệm chủ bút một tuần báo mới sắp ra mắt: tờ “Rạng Đông”. Ông bảo tôi “cộng tác” với ông. Tôi “dạ”. Ông nói, bực dọc: “Đỗ Tấn nói gọi mỉa tờ báo của tôi là “Kèn Rạng Đông.”

Mấy ngày sau, tôi biết cớ sự.

Cái máy in của Nha Thông Tin và ngay chính Nha Thông Tin Trung Việt là chỗ “dựa lưng” của tuần báo “Mùa Lúa Mới” trước kia, cũng như tờ “Rạng Đông” sau đó, giống như tờ “Văn Nghệ Tiền Phong” và “Bách Khoa” ở Saigon là của trung ương Cần Lao. Đây thuộc địa phương, địa phương thì thuộc quyền “cậu”.

Nhóm “Mùa Lúa Mới” cũ muốn nắm “đặc ân” nầy: Báo có chỗ in (máy in của Nha Thông Tin), có người mua (cơ quan chính phủ). Tài chánh tự trị, cũng “khỏe” chán. Tôi không hiểu sao, “Ông Mục” bưng trúng cái hủ gạo nầy. Sau đó, tôi có viết bài cho Rạng Đông kiếm tiền nhuận bút. Cô Hiền (Nguyễn Thị Hiền, phu nhân giáo sư Lê Hữu Mục) chi tiền. Một năm sau, “Ông Mục” mua xe hơi ngon lành. Có phải vì làm báo mà có tiền mua xe hơi không thì tôi không rành.

Tôi biết “Ông Mục” thương tôi vì tiền nhuận bút ông trả cho tôi bao giờ cũng cao, cao hơn tờ Múa Lúa Mới trước kia. Việc nầy, cũng bởi một câu chuyện.

Mấy năm học trung học, tôi làm preceptuer “kiếm cơm ăn học”. Nay lên được đại học rồi, phải vừa đi học, vừa đi dạy, kiếm tiền nuôi thân và nuôi hai đứa em tôi phải mang theo, nghĩa là hai đứa cùng vào học ở Huế, không học ở Quảng Trị được nữa.

Tôi có nhờ “Ông Mục” kiếm cho tôi ít giờ ở một trường trung học nào đó. Ông bảo tôi tới trường Bình Minh – hồi đó trường sở ở gần cống Thanh Long – gặp ông. Ông đưa tôi vào gặp cha Lập – Nguyễn Văn Lập, cũng gốc Quảng Trị. Cha Lập từ chối, không có giờ. Thấy tôi tần ngần chưa cáo lui với Thầy, ông hỏi tôi: “Nhà cậu có bao nhiêu anh em?” Tôi thưa: “Tám, bốn trai bốn gái. Cha tôi qua đời ở chiến khu Ba Lòng khi theo Kháng Chiến. Chị cả qua đời khi tản cư. Anh cả qua đời khi làm báo, bị Tây thủ tiêu. Một ông anh đang ở lính. Tôi là con trai thứ ba mà phải nuôi em.”

Ông bảo: “Nhà con đông thì nghèo. Tôi có những 11 anh chị em.” Có lẽ đó là “câu tâm sự” duy nhất của ông nói với tôi.

May mắn, sau đó, không lâu, tôi được ông Nguyễn Văn Hai, giám đốc Học Chánh kiêm hiệu trưởng trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế gọi tôi vào dạy mấy lớp Việt Văn, có đủ tiền sinh sống cho cả ba anh em. Câu chuyện cũng khá buồn cười.

Học trò khai giảng rồi mà tôi chưa tìm ra nơi kiếm sống, bèn làm gan làm một cái đơn kể tình trạng khó khăn của mình, đem nộp ở văn phòng trường Bán Công Huế, cầu âu, biết đâu “cò ỉa miệng ve”. Ít bữa sau, ông Hai gọi tôi tới cho giờ dạy. Anh bạn học “văn nghệ” Lê Phú Lư nói: “Ông Hai biết mi là nhà văn nên ông cho mi dạy chớ gì!” Tôi không trả lời được. Nhận việc một thời gian, tôi mới rõ cớ sự: Nhà văn nhà veo gì đâu! Ông Hai là người rất thương mẹ. Mẹ ông là người Quảng Trị, tôi cũng là dân Quảng Trị. Ông Hai cám cảnh dân Quảng Trị nghèo khổ mà cùng quê với mẹ ông nên ông chiếu cố đến tôi. Chỉ có thế thôi. Có lần ông nói với tôi: “Cậu phải biết thương dân Quảng Trị của cậu. Xứ nghèo khổ mà lại vùng giới tuyến, bị chia cắt!”

Té ra là vậy!

Quả tình, tôi cám ơn ông Hai ít hơn là việc tôi kính trọng lòng thương mẹ của ông. Thương mẹ và thương luôn người cùng xứ với mẹ thì cái lòng thương mẹ đó lớn lắm. Có lẽ chỉ có người Việt Nam mới vậy hay chăng?!

&

Các “cây viết cũ” của “Mùa Lúa Mới” chẳng ai tham gia viết cho tờ Rạng Đông. Những “cộng tác viên đắc lực” cũ như ông Nguyễn Đình Hòe, nhà văn Phan Du, ông Nguyễn Phúc, dạy ở trường Nguyễn Du cũng “lặn” luôn. “Ông Mục” phải cáng đáng nhiều mục trong tờ báo. Ông Võ Long Tê giữ chuyên mục “Nắng Xiên Khoai”.

Tôi đến nhà “Ông Mục” vào một buổi sáng, sau cơn bão nhẹ tháng vừa qua. Sân trước nhà ông có một cây trứng cá bị gió thổi nghiêng. Vì cái cây nghiêng nầy mà “Ông Mục” viết một truyện ngắn nhan đề là “Cây Trứng Cá”, ký tên là Quốc Sĩ.

“Ông Mục” nói với tôi: “Tôi lấy tên là Quốc Sĩ mà mấy tay trong Nam nói là tôi muốn mượn danh ông Doãn Quốc Sĩ để đánh lận con đen.”

Tôi nói: “Giới văn nghệ Saigon phe nhóm dữ lắm. Ông Võ Phiến ở đây nổi tiếng vậy mà vô nam mấy năm rồi chưa ngóc đầu lên nổi, bị đè chết ngộp luôn”.

-“Ai nói với cậu thế?” “Ông Mục hỏi.

-“Đỗ Tấn chớ ai!” Tôi trả lời. “Hai người nầy hẹn với nhau một người sẽ “lên ngôi vua” bên văn, một người bên thơ. Vây mà có ai nổi đình đám gì đâu!”

“Ông Mục” vẫn cố cãi: “Sách tôi xuất bản ở Saigon có gặp khó khăn gì đâu!”

Tôi cười: “Sách của thầy là sách giáo khoa. Mấy ai viết được về Tự Lực Văn Đoàn như thầy, nên họ “nằm im”. Thầy thử làm nhà văn đi coi. Tụi Saigon nó đè cho cây trứng cá của thầy trốc gốc luôn.”

Nghe tôi ví đùa như thế, “Ông Mục” cười, rồi đi vào nhà. Tôi đi theo.

Sau đó, tôi thấy một bài viết tên tác giả là Lê Huy Oanh xuất hiện trên tờ “Rạng Đông”. Hôm tôi đến lấy báo đọc chơi, “Ông Mục” bảo: “Phê bình là phải viết như anh nầy. Anh ta mới ở Saigon về chơi, đưa tôi bài nầy.” Tôi xem đầu đề xong cuộn tay cầm đi, đoán chừng Lê Huy Oanh là học trò cũ của “Ông Mục” đâu chừng mấy năm trước, nay đã đổ cử nhơn. Chắc ông nầy giỏi. “Ông Mục” cũng có khi khen người khác, nhưng hiếm. Ổng mà khen ai có lẽ người đó giỏi lắm. Sau nầy, vài lần tôi có đọc Lê Huy Oanh, ngay cả khi ra hải ngoại, nhưng ông nầy viết không nhiều, nên cũng chẳng rõ về ông ta lắm.

“Ông Mục” làm tờ “Rạng Đông” cũng không lâu, khoảng vài chục số rồi ngưng. Tôi không rõ lý do. Nhưng sau đó, nhà in của Nha Thông Tin giao lại cho ông luật sư Lê Trọng Quát, “đệ tử của cậu”. Ông luật sư Quát ra tờ “Công Dân”, lập một nhóm mới, không có liên hệ gì tới các người đang hoạt động trong giới văn nghệ sĩ cũ ở địa phương cả. Hình như những người trong nhóm của ông Quát sau nầy có liên hệ đến đảng Đại Việt, như ông Lê Ngân, cháu ông Việt Cộng Lê Đức Anh. Ông Đoàn Công Lập, tôi có quen biết, giữ mục “thể thao” cho tờ báo của ông Quát.

Bấy giờ thì tôi xa rời “văn nghệ văn gừng” rồi. Câu chuyện như thế nầy.

Khi “Ông Mục” làm tờ Rạng Đông, ông có dạy thêm Việt Văn ở trường Trung Học Đệ Nhi Cấp Bán Công Huế, lớp “Đệ Nhị học lại”. Học sinh không đậu tú tài 1, cần “học lại” để thi năm sau. Học sinh nam lớp nầy hầu hết “nhứt quỷ nhì ma”, mà lại “ma cũ”, phá giữ lắm. Trong số nữ sinh có Trần Thị Lục Hà (ca sĩ Hà Thanh), và mấy giai nhân như Vĩnh Thành, Nguyễn Cửu Thị Thi. Nam sinh nào qua năm sau cũng “tiếp tục hỏng” thì sau đó họ “đi Thủ Đức”, phần đông theo khóa 12. Hồi năm 1989, cùng vượt biên đến Mã Lai, tôi gặp lại ông Cao Dai, cựu học sinh lớp nầy. Khi đó ông Dai là “cựu thiếu tá”, còn tôi thì “cựu đại úy”, học trò hơn thầy một “lon”.

Ông hiệu trưởng Nguyễn Văn Hai mời “Ông Mục” dạy Việt Văn lớp học lại nầy. Phải có uy tín như “Ông Mục” mới “trị” được đám tinh ma nầy. Tôi làm giáo sư hướng dẫn chưa được một tháng thì xin thôi. Ông Hai cười bảo tôi: “Tụi nó phá quá, cậu sợ chớ gì!” Tôi chỉ cười trừ. Tôi mới hơn hai mươi tuổi, còn “con nít” mà!

Bấy giờ, tôi vừa đi học, vừa đi dạy, vừa viết báo. Một hôm, mấy giáo sư trẻ của trường kéo nhau đi ăn “Bún bò Lạc Sơn” – trước cửa Bắc chợ Đông Ba. Ăn xong, đang uống cà phê, tôi nói với mấy người bạn cùng bàn: “Thôi tau về, tau viết bài cho “Ông Mục”. Ng. Th. Hg… nói: “Viết chi? Ngồi chơi đã. Đừng háo danh, “bỏ đi tám!?” Anh H.V.Xg cũng nói: “Bao nhiêu tiền mà viết cho mệt. Cậu ngồi lại cho vui.” Tôi cũng “ham vui” với bạn bè.

Tôi cũng ngạc nhiên mấy chữ “háo danh” mà Ng. Th. Hg mắng tôi. Thiệt là tôi háo danh sao? Viết văn mà để bị người ta chê thì viết làm chi mất công? Vậy là tôi bỏ viết luôn, mãi đến mấy chục năm, qua tới Mỹ, “ức” Việt Cộng nên mới viết lại chơi.

Có lần dạy xong, gặp “Ông Mục” ở “Phòng Giáo Sư”, ông hỏi tôi: “Cậu dạy môn gì?”

Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại: “Thầy dịch cuốn “Lĩnh Nam trích quái” rồi phải không? Khi nào in xong, cho em một cuốn”.

Một lúc, tôi nói tiếp: “Em dạy “Văn Chương Bình Dân” cho mấy lớp Đệ Tam, dùng sách của ông Thanh Lãng, Thuần Phong, Hoàng Trọng Miên (2). Không sách nào nói đủ.

“Ông Mục” nói: “Lĩnh Nam trích quái” đầy đủ hơn phải không?”

Tôi trả lời: “Về truyện thần thoại, cổ tích không cuốn nào đủ đâu. Nhưng em cần “Tứ bất tử”.

-“Tứ bất tử là truyện thần núi Tản Viên, “Phù Đổng Thiên Vương”… Rồi ông bỏ lửng, không nói nữa.

Tôi nói tiếp: “Em dạy cho học trò “Tứ bất tử” là tôn giáo nguyên thủy của người Việt Nam, trước cả đạo Nho, đạo Phật, đạo Thiên Chúa. Người Việt Nam tin vào đa thần, không tin độc thần, thờ rất nhiều thần, nhưng có ý nghĩa nhứt là “Tứ bất tử”.

“Ông Mục” hỏi, như là “tra bài” học sinh: “Ý nghĩa thần núi Tản Viên là thần gì?”

-“Thần dựng nước. Tức là chuyện “Sơn tinh dựng nước.”

-“Gì nữa?” “Ông Mục lại hỏi.

-“Phù Đổng Thiên Vương” là thần giữ nước. Rồi tôi nói tiếp: “Chữ Đồng Tử / Tiên Dung là thần xây dựng đất nước. “Bà Chúa Liễu Hạnh” là “Người Mẹ Dân tộc”.

-“Những điều nầy cậu cũng lấy trong sách Thanh Lãng?” Ông Mục hỏi.

-“Không thầy. Sách ông Thanh Lãng có ý hướng về độc thần, nên có chỗ ngụy biện.” Tôi trả lời.

Một lúc sau, lâu lắm, “Ông Mục mới nói với tôi: “Tình hình bây giờ mà cậu dạy như thế là phải cẩn thận đấy!” Nói xong, ông bảo: “Tôi về!”

“Ông Mục” là người viết rất cẩn thận. Ông chưa từng rầy tôi, nhưng tôi biết ông chê tôi viết ẩu. Có lần ở tòa soạn báo Mùa Lúa Mới, tôi thấy một cái note của ông gởi cho Đỗ Tấn về tập truyện dài của tôi đang sắp chữ: “Còn một nửa nữa, tôi đang nhuận sắc.” Tôi chú ý hai chữ nửa (nữa): Một chữ dấu hỏi, một chữ dấu ngã, các dấu viết rất rõ ràng.

Hồi đó, trong không khí chống Cộng, “Ông Mục” có xuất bản cuốn sách “Chủ Nghĩa Duy Linh”. Quả tình, tôi không đọc cuốn nầy, tôi không khoái loại sách nầy, nhưng cũng nghĩ rằng cũng phải có một chủ nghĩa để chống lại chủ nghĩa Cộng Sản ở ngoài kia. “Một chủ nghĩa chống một chủ nghĩa”. Đó là “nguyên tắc chống Cộng.”

Lại  cũng một hôm, đang ở Phòng Giáo Sư, tôi nghe ông Hai, hiệu trưởng, nói to: “Ông Thường, ông Mục bây giờ cũng đi lễ ở “nhà thờ Nhà Nuớc”. (nhà thờ Tây để lại). Bấy giờ giám mục Ngô Đình Thục về “cầm quyền” (theo cả hai nghĩa “thần quyền” lẫn “thế quyền”). Vậy mà sau nầy, có chuyện gì với ông Thục mà “ông Thầy của tôi” phải bỏ Huế mà dời đi Saigon.

Mười năm dạy học, tôi có soạn một số sách giáo khoa, luyện thi. Tôi cũng có soạn cuốn “Văn Chương Bình Dân” nhưng không nói rõ về “Tứ bất tử”. Việc xung khắc tôn giáo ở miền Nam trước đây khá nặng nề. Nói ra thêm… phiền lòng.

Mãi lâu về sau, tôi mới nghe “Ông Mục” lấy được bằng tiến sĩ văn chương. Tôi tự hỏi: Sao lâu thế? Tại vì Đại Học Saigon chưa có bằng nầy hay sao? Với công trình văn học và giáo dục như “Ông Mục”, ông phải có bằng tiến sĩ từ thuở nảo thuở nào kia mới phải.

Sau khi đi tù cải tạo về, tôi có tới 142 Nguyễn Thị Minh Khai (?) để tìm ông Ảnh, nguyên là thanh tra bộ Lao Động, cử nhân Hán Việt nhờ ông chấm tử vi cho đứa con gái út, tình cờ gặp “Ông Mục” ở đó. Tôi vui mừng chào thầy. Ông bắt tay tôi chặt lắm, rồi bỏ đi, “Không nói một lời”. Tôi hiểu ý “ông Thầy”.

Khi tôi ở trại tỵ nạn Mã Lai, phải chờ “thanh lọc” mới được đi định cư. Sợ tôi “hỏng thanh lọc”, “Ông Mục” gởi cho tôi một giấy chứng nhận, để phòng khi ra gặp phái đoàn Liên Hiệp Quốc phỏng vấn thì đưa cho họ. Tôi rất cảm động về lòng ưu ái của ông dành cho tôi. (3)

&

Giáo sư Lê Hữu Mục qua đời đã nửa năm nay. Tuần nào – nói ngày nào thì hơi quá – tôi cũng có lần băn khoăn, buồn nữa là khác, vì chưa viết “một vài điều gì đó” về ông Thầy mà tôi rất kính trọng và thương mến, như một số đông học trò cũ của ông ở Huế vậy.

            Sau 1968, tôi đi lính, rồi đi nhiều nơi, coi như “khắp bốn vùng chiến thuật”, lâu nhứt là “về miền Tây”: Gò Công, Bến Tre, Cần Thơ, Cái Sắn; đến ngày 30 tháng Tư thì giám đốc cũng như mấy kỷ sư Nhà Máy Xi-Măng Kiên Lương (Kiên Giang) năn nỉ tôi: “Ông Hải chạy đi đâu cho tôi theo với”. Việt Cộng trong “Mật Khu Trà Tiên” sẽ không “tha tội chết” cho tôi vì quá nhiều “nợ máu Quốc Cộng”. Về phần L.H.Ph. giám đốc nhà máy cũng lo lắm. 412 nhân viên của ông, biết người nào không phải là “Việt Cộng nằm vùng”?

            Gần mười năm ấy, tôi cầm súng mà không cầm viết hay phấn bảng, nên hình ảnh “Ông Mục” cũng “xa dần”.

            Vậy rồi qua tới Mỹ, tôi thấy ông Thầy “gần hơn”, qua sách vở vào báo chí. Hồi xưa, khi còn ở Huế, tôi không rõ ông đậu cử nhơn văn chương hay cử nhân Việt Hán, nhưng tôi biết ông dịch nhiều sách cổ. Do đó, khi đọc “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký” của ông Thầy tôi khoái chí vô cùng.

            Mấy năm tù cải tạo, cũng như sau khi “được tha”, tôi ngán tới lỗ mũi sách của nhiều nhà văn hóa, phê bình văn học ngoài Bắc… toàn “bốc thơm bác Hồ”. Đó là bọn “bồi bút”. Nay có một nhà phê bình văn học, một giáo sư đại học, một học giả… – gọi “Ông Mục” bằng cách gì xứng hết -, lật tẩy “bác Hồ là tên ăn cắp thơ”, mà lật tẩy một cách tỉ mỉ, cẩn thận, phân tích có lý có tình, có đầu có đuôi, một cách rất khoa học, rất trí thức, rất chữ nghĩa… thì không riêng chi tôi mà những ai yêu thích văn học đều thích thú cả.

            Tôi vẫn thường nghĩ tới thời gian tôi còn trẻ, ông còn là thầy giáo và là “ông chủ báo” của tôi, mà đôi khi nghĩ xa xôi, nghĩ “tào lao” về ông Thầy, mà tưởng như ông có “xa gần” ít nhiều đến cuộc đời lưu lạc mười lăm năm của cô Kiều trong tác phẩm truyện Kiều ông đã dạy cho chúng tôi.

            Tôi không biết vì lý do gì mà ông đến “lập nghiệp” ở Huế, nơi ông không được may mắn. Thật đấy, ông không may mắn trong thời gian ông ở Huế. Này nhé.

            Khi tôi vào học lớp Đệ Tam ở Quốc Học thì ông Nguyễn Văn Hai làm hiệu trưởng trường nầy đã được một năm. Ông Nguyễn Văn Hai là “giáo sư cử nhân”, hàng chữ in dưới tên ông, dưới chữ ký của ông trong tất cả các giấy tờ của trường, cũng như trong thẻ học sinh của chúng tôi.

            Chúng tôi có không ít đứa “mất dạy”, bèn chê ông hiệu trưởng ưa khoe bằng với hàng chữ “giáo sư cử nhân” như nói ở trên.

            Ông Hai có khoe bằng cấp hay không thì tôi không rõ, nhưng thời kỳ ấy, không riêng gì ở Quốc Học mà toàn thành phố Huế, người có bằng cử nhơn đếm chưa đủ 5 đầu ngón tay. Xin kể: Ông Nguyễn Văn Hai, ông Lê Hữu Mục, ông Nguyễn Hữu Thứ, Ông Trần Như Diệu, kỹ sư công chánh, ông Lê Khắc Quyến, bác sĩ (một số bác sĩ khác nguyên là “Medecin Indochinois”, vài dược sĩ như Nguyễn Duy Hân, Nguyễn Duy Huề, Phạm Doãn Điềm. Nguyễn Cao Thăng và linh mục Cao Văn Luận… Ngay cả mấy ông từng làm hiệu trưởng trường Khải Định – tên cũ trường Quốc Học, chỉ có ông Nguyễn Hữu Thứ là có bằng chử nhơn luật.

            Được hơn một năm, ông Nguyễn Văn Hai lên làm giám đốc Nha Học Chánh (sau đổi là Nha Đại Diện Giáo Dục), Ông Nguyễn Đình Hàm thay chức ông Hai. Ông Hàm làm hiệu trưởng chưa được một năm thì thôi chức, giao cái ghế hiệu trưởng lại cho ông Đinh Qui. Ông Hàm là giáo sư giỏi, đạo đức, nhưng ông chưa tốt nghiệp cử nhân, không phải giáo sư chính ngạch, còn ông Đinh Qui thì tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm. Ông Nguyễn Đình Hàm gốc gác ở Quảng Trị, ông Qui gốc Huế.

            “Ông Mục” là giáo sư dạy giỏi, có uy tín với hàng ngũ giáo sư và học sinh, khi ấy ông đã xuất bản một số sách giáo khoa, cũng giáo sư hợp đồng như ông Hàm, lại người “có công” trong “Lễ Kỷ Niệm Sáu mươi năm trường Quốc Học” tại sao ông không được làm hiệu trưởng, bởi vì không có ai “trình lên với “cậu”, không ai đề bạt vì ông là… người Bắc?

            Xin nhìn lại tình hình ở Huế khi “cậu” làm “lãnh chúa miền Trung” (như báo chí từng nói như thế) là như thế nầy:

            Khi nắm quyền, “cậu” chọn và quyết định các chức vụ tỉnh trưởng, quận trưởng, trưởng ty Công An… Riêng về các ngành chuyên môn như giáo dục, công chánh, y tế, canh nông, ngư nghiệp… “cậu” chỉ chọn người làm giám đốc. Các chức vụ trưởng ty, hiệu trưởng, trưởng phòng… “cậu” để giám đốc chọn lựa và trình lên cậu xem xét và chuẩn y mà thôi. Miễn sao, như ông Nguyễn Văn Hai từng nói với chúng tôi: Phải tổ chức cho được “Phong trào Cách Mạng Quốc Gia”trong nội bộ của mình, ngăn ngừa những hành động chống lại Ngô Tổng Thống. Ngược lại “cậu” cũng tôn trọng quyền hạn các ông giám đốc trong nội bộ, không xen lấn vào.

            Trong ý nghĩa đó, hầu hết giáo chức ở miền Trung là dân Huế, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi… nên “Ông Mục” là “người cô đơn”, không làm gì to hơn ngoài cái “chức giáo sư”, mặc dù, theo tôi nghĩ, “Ông Mục” là người yêu Huế, “phục vụ” cho ngành giáo dục ở đây, lại còn có cả những “hoạt động văn nghệ” cho xứ nầy, mà có lẽ ông coi như nơi đây là “quê hương thứ hai” của ông.

            Việc “kỳ thị” cũng giải thích thêm sự việc tạ sao “Ông Mục” không “trúng cử” chức “Chủ Tịch Hội Văn Hóa Tp Huế”.

            Mấy năm sau, khi ông Hai du học bên Tây, theo ông Hai cho biết, ông đề nghị với “cậu” đưa ông Đinh Qui thay chức giám đốc Nha Đại Diện. Tuy nhiên, nhờ ông Nguyễn Quang Ngọc gõ trúng cửa bên Tòa Tổng Giám Mục mà ông Tôn Thất Tắc nắm được cái ghế nầy (4)      

            Về phía “Chính trị”, “Ông Mục” cũng có vài tác phẩm, đầu tiên là cuốn “Chủ Nghĩa Duy Linh”. Vậy mà không ai tán dương cả, ngay cả những người lãnh đạo chính trị và tôn giáo ở miền Trung, như “cậu cố” hay Đức Cha. Ông có “được lòng” Đức Cha không?

            Riểng về cô Hiền (phu nhân giáo sư Lê Hữu Mục), cũng người Bắc, có phải vì may mắn nên cô làm hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Mê Linh, hay vì lúc đó, về hàng ngũ nữ giáo sư ở Huế, chỉ một mình cô Hiền có bằng chử nhân, mà ông giám đốc Nguyễn Văb Hai cũng như “cậu” cần có một người có bằng cấp làm hiệu trưởng để gây úy tín cho trường.

            Nhìn chung, “Ông Mục” không gặp may khi ông sinh sống ở xứ nầy. Tôi thường nghĩ tới điều nầy và thấy thương ông Thầy là vì vậy. Đời ông có “lên hương” là khi ông “vô Saigon”, không còn là “giáo sư của Huế” nữa. 

            Khi xa Huế rồi, không biết ông có “xa để mà nhớ, không phai ở để mà thương” như bà Nhã Ca đã nói (?).

            “Chén vàng, chén ngọc chìm dưới đáy sông sâu!”

            Đất không đãi người!

            hoànglonghải

  • Gởi nhạn

Hàn Mặc Tử

Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây?
Ch
ầm chậm cho mình giữ mối giây!
V
ề đến thần kinh khoan nghĩ đã,
Ghé mi
ền Gia Hội tỏ tình ngay!
Su
ốt năm canh mộng hồn mê mỏi,
Chỉ một lòng son mu
ốn giải bày.
Này nh
ạn, ta còn quên chút nữa:
Trái tim non n
ớt tặng ai đây?

Ghi chú: Người em gái của thi sĩ Hoàng Diệp tên là HTKC (xin dấu tên), bà hiện là giáo sư môn gia chánh tại trường Đồng Khánh. Theo Hoàng Diệp, ý của ông không phải là muốn kết hợp duyên nợ giữa hai người. Bấy giờ bệnh của Hàn Mặc Tử đã nặng, ông giới hiệu cô em gái với Hàn, như là một sự an ủi cho nỗi cô đơn của nhà thơ mà thôi.

(2)-Linh Mục Thanh Lãng soạn cuốn “Văn Chương Bình Dân”. Thuần Phong Ngô Văn Phát soạn cuốn “Ca dao giảng luận”. Hoàng Trọng Miên chỉ soạn được có cuốn 1 “Việt Nam Văn Học Toàn Thư” rồi thôi.

(3)-Giấy chứng nhận của giao sư Lê Hữu Mục.

(4)- Khi ông Nguyễn Văn Hai làm giám đốc Nha Học Chánh, ông cử ông Nguyễn Quang Ngọc, mới từ Thanh Hóa về làm hiệu trưởng trường trung học Phan Chu Trinh Đà Nẵng, ông Hồ Vinh, mới từ chiến khu về, làm giáo sư.

Chưa được bao lâu, ông Nguyễn Quang Ngọc từ Đà Nẵng ra “cầu cứu” ông Nguyễn Văn Hai: Công An từ Huế vào bắt ông Hồ Vinh, và đang truy tầm ông Ngọc. Nghe nói là Công An Huế vào bắt ông Vinh, ông Hai gặp ông tỉnh trưởng kiêm thị trưởng Thừa Thiên Huế Hà Thúc Luyện để tìm hiểu. Ông tỉnh trưởng không được Công An báo cáo gì hết. Ông Hai lên “xin hỏi cậu”. Cậu gọi điẹn hỏi Công An. Công An xác nhận có vào Đà Nẵng để bắt ông Hồ Vinh và ông Ngọc. Ông Nguyễn Quang Ngọc thì đã bỏ trốn, còn ông Hồ Vinh thì “nhảy xuống giếng tự tử”. Ông Hai “thưa” với cậu: “Câu hứa nếu có bắt ai trong giáo chức thì cho (tui) biết. Bây giờ họ giết ông Hồ Vinh mà (tui) không biết chi cả.” “Cậu” ra lệnh cho Công An “giải tỏa” việc nầy. Sau đó, ông Ngọc được ông Hai khuyến khích, mới trở lại làm việc ở trường Phan Chu Trinh.

Sau đó, ông Ngọc về nhận việc ở đại học Huế, được tổng giám mục Ngô Đình Thục “chiếu cố”, nên ông Ngọc vận động cho ông Tôn Thất Tắc nắm chức giám đốc Nha Đại Diện Giáo Dục, mặc dù ông Tắc chưa có bằng cử nhơn.

Do sự việc nầy, người Huế có dư luận chê rằng ông Tắc là một “phật tử thuần thành”, nhưng sau khi nắm được chức giám dốc, phải “kín đáo rửa tội. Đây chỉ là tin đồn!!!

(Câu chuyện nầy tác giả nghe ông Nguyễn Văn Hai kể lại).

Đã xem 4940 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

1 Comment

  1. Anh Hải ơi,
    Cám ơn Anh đã gởi cho đọc bài viết mới (?).
    Có điều tôi biết được là giáo sư âm nhạc của trường QH. hồi đó không phải là Lê Yên, vị này là họa sỹ, tốt nghiệp CĐMT. Hà nội, thông gia với Thầy Ngô đốc Khánh, (giáo sư Pháp văn), bố vợ của ông Ngô anh Tuấn, giáo sư pháp văn ở TH. Đệ I cấp Nguyễn tri Phương. Thầy dạy nhạc ở QH. bấy giờ là Thầy Thùy (lâu quá tôi không còn nhớ rõ), vị này nghe nói không bằng biếu chi cả, chỉ ở trong ban quân nhạc, nhưng quen với Cậu thì phải ( đó là hs. chào xáo với nhau, tôi không biết chắc ).
    Lúc kỹ niệm 60năm tôi đang học đệ ngũ , dãy nhà trệt bên hông, sát đường, cạnh trường ĐK. từ trường NTP chuyển lên, khi Khải Định bắt đầu lập lại THĐIC.
    Trong bài hát hs,trường QHNĐD, tôi còn nhớ lõm bõm:

    học sinh trường NĐD, đem sách đèn sáng soi sơn hà, vùng lên đi sống đời ta, thề tranh đấu cho nền tự do, ………..chí làm trai, gắng công học phục hưng tổ quốc, gương anh hùng sáng trong tâm hồn, cùng đắp xây ngày mai.

    Trong đó Thầy Mục đã nâng bi Cụ bằng câu gương anh hùng sáng trong tâm hồn

    Thân ái
    Minh Vo

Leave a Reply

Your email address will not be published.