XII- SÀIGÒN THẤT THỦ

1/- NGÀY NHỤC NHÃ

        Ngày 8.4.1949, Hiệp ước Élysée công nhận Chính phủ Quốc gia Việt Nam nằm trong Liên Hiệp Pháp, một niềm mơ ước mà Hồ Chí Minh đã không đạt được, khi ông ta và phái đoàn Việt Minh qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau năm 1946, xin xỏ Pháp.

        Ngày 13.4.1949, Nghị định Quốc phòng của Chính phủ Quốc gia Việt Nam ban hành nghị định thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam, với tên gọi “Vệ binh Quốc gia”. Ngày 11.5.1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Vệ binh Quốc Gia Việt Nam, với quân số 60,000 người, bao gồm các lực lượng địa phương: Bảo chính đoàn Bắc Việt (1948), Việt binh đoàn Trung Việt (1947), và Vệ binh Nam Việt (1946).

        Năm 1955 khi Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế, Thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành Tổng Thống, tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa, Quân đội Quốc gia Việt Nam được cải danh thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Sau cuộc đảo chính năm 1963, Quân đội Việt Nam Cộng hòa (Republic Of Vietnam Military Forces – RVNMF) lại chính thức mang tên mới là Quân lực Việt nam Cộng hòa (có tên gọi bằng Anh ngữ là “Republic Of Vietnam Armed Forces – RVNAF”.

        QLVNCH thời kỳ phôi thai, chỉ có 60,000 người. Từ một quân đội phụ lực cho Quân đội Liên Hiệp Pháp trong cùng chiến tuyến chống cộng sản, đã trở thành lực lượng chính chống cộng sản, với quân số có lúc lên đến hơn một triệu tay súng phục vụ dưới cờ, được xếp lớn mạnh vào hàng thứ Tư trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Cộng. Quân lực đó có những cấp chỉ huy tài ba, được liệt vào hàng danh tướng của thế giới, đó là các Tướng Đổ Cao Trí, Ngô Quang Trưởng. Tướng Trí với Quân đoàn III của ông, năm 1970, 1971, suýt đã tiêu diệt toàn bộ quân CSBV trên chiến trường Kampuchia, đã đuổi Trung ương cục Cộng đảng Miền Nam đến tận Kratié. Nhưng ông đã bị tai nạn máy bay trực thăng khi trên đường bay đi thị sát mặt trận. CSBV đã gặp một dịp may hiếm có. Tướng Ngô Quang Trưởng thì được Tướng Mỹ H. Norman Schwarzkopf, cựu tư lệnh Vùng Vịnh trong chiến dịch “Bão Sa Mạc”, xem là bậc thầy.

         QLVNCH từ dân mà ra, chiến đấu cho dân, và bảo vệ dân. Với châm ngôn: “Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm”, người lính QLVNCH sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân trong tình thần Trách nhiệm cao độ. Trong hơn 20 năm ròng rã chiến đấu bảo vệ quê hương, họ đã chiến đấu anh dũng, quyết chiến quyết thắng, trước một kẻ thù hung bạo. Họ đã tạo nên những chiến tích lẫy lừng, khiến kẻ thù khiếp sợ,  đồng minh nễ phục, và đồng bào tin yêu. Họ đã đánh thắng trên khắp các mặt trận: Trị – Thiên quật khởi, Kontum kiêu hùng, Bình Long Anh dũng. Nhưng cuối cùng đành phải buông súng tan hàng. Chính Kissinger, vị Ngoại trưởng Mỹ vô lương tâm đã đi đêm với cộng sản, bây giờ phải thú nhận: “Sự thảm bại của Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chứ không phải do VNCH”.

      Chúng ta không thua trận, nhưng chúng ta đã thua cuộc chiến, do những người điều khiển cuộc chiến kém khả năng, và do sự phản bội của đồng minh.

       “Người lính (QLVNCH) không chết mà chỉ mờ dần”, như hình ảnh người lính trong điệp khúc của một ballad nổi tiếng, được Tướng MacArthur nhắc đến trong bài diễn văn từ giả binh nghiệp, đọc trước lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ ngày 19.4.1951: “Old Soldiers Never Die; They Just Fade Away”.

       Người xưa có nói: “Không lấy thành bại để luận anh hùng”. QLVNCH đã phải buông súng và tan hàng ngày 30.4.1975, nhưng đó là một quân lực anh hùng. Chính kẻ thắng trong cuộc chiến năm 1975 là hèn nhác, đã “cúp đuôi” trước kẻ thù phưng Bắc.

      QLVNCH thắng trận Xuân Lộc, nhưng VNCH thua cuộc chiến. Dư luận quần chúng cho rằng nếu có thêm vài Xuân Lộc nữa, hoặc nếu có đủ số ngòi nổ cho 27 trái bom BLU-82 mà Bộ TTM/QLVNCH đã có trong kho, đem ném lên đầu 5 cánh quân CSBV tiến vào Sài Gòn, thì sẽ không có ngày 30.4.75.

1

      Ngày 30 tháng Tư năm 1975, chiếc xe tăng T-54 do Nga Xô chế tạo, tiến vào, đã húc đổ cánh cửa chính của Dinh Độc Lập. Thật ra theo lệnh của Dương Văn Minh, cánh cửa đã được mở sẵn để chờ “người anh em phía bên kia” đến bàn giao. Nhưng khi chiếc T-54 đến cổng, xe ngừng lại, vài tên bộ đội nhảy xuống, khép vội hai cánh cửa đã mở sẵn. Tên phóng viên bộ đội mang máy chụp hình chuẩn bị. Và tình cờ có vài phóng viên ngoại quốc có mặt. Chiếc xe T-54 rồ máy, húc mạnh vào cánh cửa. Các phóng viên vội bấm máy. Những tấm hình chụp cảnh chiếc xe tăng quân CSBV húc cánh cửa Dinh Độc Lập đã trở thành những tấm hình lịch sử! Lúc đó là 11 giờ 10 phút sáng. Thật ra đây chỉ là một vở kịch được dàn dựng để ghi hình.

“Khoảng 11 giờ 30 sáng, chiếc tăng đầu tiên loại T-54…xuất hiện từ đầu kia đại lộ Thống Nhất, phía Thảo cầm viên. Tổng thống Minh và các thành viên chính phủ cùng một số dân biểu nghị sĩ, ra đứng tại tiền đình của Dinh Độc Lập để chuẩn bị cuộc đón tiếp…

1

     Sau này các tài liệu viết rằng chiếc tăng đi đầu đã ủi sập cửa sắt ở cánh cổng còn đóng của Dinh Độc Lập. Vậy là lính gác ở dinh không chấp hành lệnh chăng? Vì tôi nhớ rất rõ ông Minh đã ra lệnh cho lính gác ở dinh mở sẵn cổng chính trước rồi.”

(Hồi ký Lý Quý Chung, Tổng trưởng Bộ Thông Tin)

2/- BẦY QUẠ ĐEN RỈA XÁC CHẾT

Quân đoàn 4/CSBV tiến vào Sàigòn từ hướng Đông, được phân công cắm cờ Dinh Độc Lập, nhưng thực tế, Quân đoàn 2 đã vào cắm cờ trước.

“Tôi ở bộ phận đi đầu nên đã vào Dinh Độc Lập, lúc đó DVM nói rằng chúng tôi đã sẵn sàng để bàn giao chính quyền. Nhưng tôi và anh Bùi Tín (Báo QĐND) nói ngay: Chính quyền của ông còn gì nữa mà bàn giao, phải đầu hàng. DVM chấp nhận”.

(Phạm Xuân Thệ thuật lại năm 2005)

Lúc 11 giờ 30 phút sáng ngày 30.4.1975, lá cờ giặc nửa xanh nửa đỏ với ngôi sao vàng của cái gọi là “Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” do tên bộ đội CSBV kéo lên trên sân thượng.

“Một người bộ đội…nói với Tổng thống Minh: ‘Anh chỉ cho tôi đường đi lên để hạ cờ…’ Ông Minh quay sang tôi đang đứng bên cạnh: ‘Chung, toa hướng dẫn cho người này lên sân thượng’”. (Hồi ký Lý Quý Chung)

Theo Trần Văn Trà, tổ Đặc công do tên Phạm Duy Đô chỉ huy (thuộc Trung đoàn 116 Đặc công), theo chiếc tăng T-54 để chỉ đường. Khi xe vào sân, chúng liền nhảy xuống tiến vào phòng họp bên cánh phải của Dinh, nơi toàn bộ Nội Các của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ngồi quanh chiếc bàn bầu dục. Tên Đô chỉa súng AK hô:

“Các ông đã bị bao vây. Ai có súng bỏ xuống. Đầu hàng.”

Tổng thống Dương Văn Minh ngồi ở đầu bàn phía trong, vội đứng dậy, nói:

“Chúng tôi chờ các ông đến để bàn giao”

Tên Tùng, Chính ủy ra lệnh:

“Các ông không còn gì để mà bàn giao. Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Mời các ông ra tuyên bố ở Đài Phát Thanh: ‘Xin đầu hàng vô điều kiện’”.

Theo Hồi ức của Thượng tướng Nguyễn Hữu An, lúc đó là Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 2: “Cùng lúc đó Đại đội trưởng Bùi Quang Thận cán bộ xe 843 cùng Tiểu đội phó Trần Đức Tình trèo lên tòa nhà lớn treo lá cờ mặt trận giải phóng. Lá cờ sao vàng nửa đỏ nửa xanh tung bay trên nóc dinh độc lập lúc 11 giờ 30 phút…

Tôi…cùng với anh Công Trạng lên trên gác. Một cán bộ bảo vệ dẫn chúng tôi tới nơi tập trung nội các ngụy…không thấy Dương Văn Minh, tôi hỏi anh cán bộ bảo vệ, anh cho biết: Phạm Xuân Thệ…và Bùi Văn Tùng…đã dẫn Minh đến đài phát thanh…Công Trạng sợ sổng mất Dương Văn Minh, anh nổi nóng hỏi: ‘Ai giao cho các cậu làm việc đó?’”                                                                    

Nhưng theo Búi Tín: “Tối mịt tướng An tư lệnh quân đoàn mới vào…Tướng đầu tiên vào là tướng Nam Long, phái viên của Bộ Tổng tham mưu đến lúc chừng 4 giờ chiều…” (Bùi Tín trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 29.4.2005)

       Bùi Tín được hai Trung tá Hân và Tùng hai lần nói ông ra nhận sự đầu hàng, vì ông mang hàm Đại tá, thuộc hàng cán bộ cao cấp có mặt tại Dinh lúc đó. Tổng thống Dương Văn Minh đứng chấp tay phía trước, và tiến lên một bước, bên cạnh là Phó TT Nguyễn Văn Huyền, nói:

“Chúng tôi đợi quý ông từ sáng, đặng chuyển giao chính quyền”.

Bùi Tín cướp lời:

“Các ông còn gì nữa mà bàn giao. Người ta không thể chuyển cái gì không có trong tay”.

       Thật ra Bùi Tín đã nói sai. Chính quyền VNCH lúc đó còn có cả vùng đồng bằng sông Cữu Long trù phú, với vựa lúa nuôi sống người dân cả nước. Quân đoàn IV Quân khu 4 dưới quyền Tư lệnh của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, một danh tướng của QLVNCH vẫn còn nguyên vẹn. Các Sư đoàn 7, 9, 21, các Tiểu đoàn BĐQ, Lực lượng ĐPQ và NQ Vùng 4, Sư đoàn 4 Không quân và Quân chủng Hải quân vẫn chưa sức mẻ.

       Sau khi có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, vì tuân lệnh, những người lính Quân đoàn IV Quân khu 4 phải buông súng. Nhưng một số đơn vị vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến ngày 2 tháng 5 thì tự động tan hàng do bị xao động bởi lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh.

       Nếu Trung tướng Vĩnh Lộc, vị Tổng Tham Mưu Trưởng BTTM/QLVNCH cuối cùng, làm tròn trách nhiệm được giao phó, không “lủi trốn như chuột giống như Tổng Thống Thiệu” như Nhật lệnh ông ban cho quân sĩ ngay sau khi nhận lãnh trách nhiệm, không tìm cách bỏ nhiệm sở để tìm tàu di tản vào lúc 6 giờ sáng ngày 30.4, mà lo kế hoạch đưa Chính phủ về Miền Tây, với Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, cùng lo giữ nước và cứu nước.

       Nếu cựu Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (tên tướng bị VC móc nối) không được Dương Văn Minh gọi trở lại quân ngũ, cho làm Phụ tá TTMT, để rồi lợi dụng lúc “boss” của mình rời bỏ nhiệm sở, nhân danh TTMT, đã ban lệnh cho quân đội với hậu ý “rước giặc vào nhà”.

       Nếu Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn IV Nguyễn Khoa Nam bất tuân lệnh của Dương Văn Minh, vẫn tiếp tục chiến đấu, thì chuyện gì sẽ xảy ra?

       Ngay trong giờ phút nghiêm trọng đó, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo tìm cách gặp riêng Bùi Tín, mật báo việc anh ta giữ lại 16 tấn vàng, không để cho ông Thiệu mang đi. Nhưng CSVN tuyên truyền rằng: “Thiệu bỏ chạy, mang theo 16 tấn vàng”. Do tuyên truyền đầu độc của CSVN, người Việt Quốc gia vẫn có lắm kẻ tin. Hai ngày sau, chuyến máy bay IL. 18 từ Hànội vào nhận. Bộ chính trị Cộng đảng gồm 13 tên, đứng đầu là Lê Duẩn đã chia chát nhau 16 tấn vàng này! Hay là 16 tấn vàng này chúng đã đem trả nợ Tàu cộng.

       Tâm tư người dân Sàigòn tháng Tư năm 1975 cũng giống như tâm tư người dân Hànội tháng 7 năm 1954. Ai ai cũng hoang mang, sợ hãi, sống trong phập phồng lo âu. Rồi những ngày sau đó, cảnh đấu tố đã nhanh chóng được du nhập vào từ Miền Bắc. Vợ chồng tố cáo nhau. Con cái tố cáo cha mẹ, học trò tố thầy giáo. Tình nhân loại, nghĩa đồng bào không còn tồn tại trong chế độ Cộng sản. Cuộc sống không có tương lai. Tương lai thật mịt mờ. Nhà nhà phá bỏ bàn thờ, thay vào đó là bức hình tên đại gian đại ác Hồ Chí Minh. Lá cờ của Mặt trận côn đồ phá hoại Miền Nam, nửa xanh nửa đỏ với ngôi sao vàng được treo cùng khắp. Nhưng không lâu sau đó, đã bị thay thế bằng lá cờ máu. Sàigòn thất thủ, khắp nơi  tràn ngập cờ máu:

“Tôi bước đi

không thấy phố

không thấy nhà,

chỉ thấy mưa sa

trên màu cờ đỏ”.

(Trần Dần – Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm)

            “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam” và “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” đã không kèn không trống tự giải thể. Trong buổi lễ long trọng tổ chức tại Sài Gòn để mừng ngày “Giải phóng”, Trương Như Tảng, Bộ trưởng Tư Pháp, khi thấy các đoàn quân diễn binh chỉ toàn là bộ đội Bắc Việt, đã hỏi Văn Tiến Dũng ngồi kế bên: “Thế các sư đoàn quân giải phóng đâu cả?” Dũng chỉ mĩm cười mà không trả lời.

3/- HẬU QUẢ CỦA SỰ PHẢN BỘI

       Hoa Kỳ tham chiến để giúp người dân Miền Nam tự vệ chống lại cuộc xâm lăng của CSBV. Sau khi bật đèn xanh cho nhóm tướng tá bất mãn (Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, Đổ Mậu), nhóm tướng tá tham vọng (Tôn Thất Đính), và nhóm tướng tá cơ hội (Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ) làm cuộc chính biến, lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người chủ trương không chấp nhận quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến (vì như thế sẽ làm mất chính nghĩa của cuộc chiến tự vệ của Quân và Dân VNCH), người Mỹ đã nhảy vào Việt Nam (1965) giành lấy quyền chủ động điều khiển cuộc chiến, với hy vọng sẽ đập tan VC trong vài năm. Nhưng cuộc chiến cứ kéo dài. Ta không thể dùng cái búa tạ để đập con ruồi. Thế rồi người Mỹ mệt mỏi, và tìm cách rút ra trong danh dự. Khi người Mỹ hiện diện ở Việt Nam với hơn nửa triệu quân, được trang bị vũ khí hiện đại với quân viện trên dưới 2 tỷ dollars mỗi năm, đã không đập tan được bọn dép râu nón cối khôn ngoan luồn lách. Thời gian dài ra, người Mỹ càng mệt mỏi. Cuối cùng người Mỹ đành phản bội người đồng minh thân tín, đã bỏ cuộc, tìm cách rút ra trong danh dự, không những thế, còn cắt mọi viện trợ cần thiết, khi quân CSBV ồ ạt tấn công VNCH đầu năm 1975, Tổng Thống Thiệu xin viện trợ khẩn cấp 300 triệu dollars, Quốc hội Mỹ cũng không thuận, đã đưa đến sự sụp đổ của VNCH ngày 30.4.1975. Thống tướng Westmoreland, một thời là Tư lệnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam đã chính thức nói lên lời xin lỗi:

 “Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với QLVNCH. Thay mặt cho Quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân lục Miền Nam Việt Nam, vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn” (On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys).

       Sau nhiều năm im lặng, cuối cùng Kissinger, tên Ngoại trưởng Hoa Kỳ bất lương đã bán đứng người bạn đồng minh của mình là VNCH cho Tàu cộng và CSBV, đã phải thú nhận: “Sự thảm bại tại Việt Nam năm 1975 là do Hoa Kỳ chứ không phải do VNCH”.

Nhà văn Dương Thu Hương, từng là một “chiến sĩ gái” vượt Trường Sơn trong đoàn quân xâm lăng Miền Nam, buổi trưa ngày 30.4 tại bùng binh chợ Bến Thành, ngồi bệt bên vệ đường, đã khóc khi nhìn thấy cảnh phồn vinh của Miền Nam, khác với những gì mà y thị đã bị lừa dối rằng Miền Nam bị Mỹ Ngụy kềm kẹp, đồng bào ruột thịt bị thiếu ăn, thiếu mặc, cần phải được giải phóng. Ý thức được hành động sai lầm của mình, và thế hệ thanh niên Miền Bắc bị “Bác và Đảng” lừa dối trong bao nhiêu năm, ngưới “chiến sĩ gái trong đoàn quân giải phóng” đã thốt lên: “Nền văn minh đã thua chế độ man rợ”.

       Ý đồ xâm lăng của CSBV đã bắt đầu tiến hành từ Tháng 5 năm 1959, khi Cộng đảng BV cho Tướng Trần Độ thành lập đoàn công tác, là Đoàn 559 (5 là tháng 5 và 59 là năm 1959). Đoàn công tác của Trần Độ rời Hànội từ tháng 5, men theo con đường mòn Trường sơn đã có sẵn từ thời kháng chiến chống Pháp. Đoàn khảo sát địa thế,  mở rộng con đường mòn, đặt tên Hồ Chí Minh, để đưa người và vận chuyển chiến cụ vào Nam (cùng với chiến cụ được chúng cất dấu trước khi tập kết ra Bắc tháng 7 năm 1954) chuẩn bị chiến tranh xâm lược. Ngay sau khi vừa ký Hiệp định Đình chiến Genève, chúng đã có kế hoạch thôn tính Miền Nam. Tháng 12 năm 1960, Cộng đảng BV cho dựng lên một công cụ xâm lăng tại Miền Nam là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam VN”, để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược. Chúng dựng lên nhân vật Nguyễn Hữu Thọ, một Luật sư, một trí thức Miền Nam, nhưng rất ngu muội! hay thông minh nhưng có nhiều tham vọng! Rất nhiều người không hiểu rõ căn nguyên của cuộc chiến. Thậm chí một nhà sư được sự ưu đãi của Chính phủ VNCH, Thượng tọa Thích Nhất Hạnh, thường gọi là Thiền sư Nhất Hạnh, trong một Hội nghị Quốc tế tại Tokyo năm 1960, khi được hỏi làm sao để chấm dứt chiến tranh Việt Nam, để có hòa bình, nhà sư đã trả lời rằng muốn có hòa bình ở VN, quân đội VNCH phải giải giới, chính phủ VNCH phải giải thể! Nhà sư này đã không phân biệt được đâu là nguyên nhân của cuộc chiến. Có thể do đầu óc ngu muội về chính trị, hay do đầu óc của nhà sư lệch về phía tả. Người dân Hoa Kỳ thì bị các vị dân cử của họ trong Quốc Hội phản bội. Chính thành phần đa số của Quốc hội đã phản bội một Quốc gia đồng minh nhỏ bé là VNCH, đã phản bội sự hy sinh cao cả của gần 60 ngàn quân nhân Quân lực Hoa Kỳ để bảo vệ lý tưởng Tự Do – Dân Chủ của người dân Miền Nam Việt Nam. Con người dù có trình độ dân trí cao, sống trong chế độ Tự do – Dân chủ như Hoa Kỳ, cũng dễ trở thành “bầy cừu của Panurge”, khi bị khích động bởi giới truyền thông vô lương tâm đầu độc dư luận, và bọn phản chiến hèn nhác như John Kerry khuấy động. Phong trào đòi Hòa bình của “bầy cừu Panurge” đã áp lực Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết đạo luật cấm Tổng Thống chi tiền viện trợ Quân sự cho Chính phủ VNCH. Trong lúc đó cả khối CS Đệ tam Quốc tế, đứng đầu là Liên bang Xô viết và Trung cộng đã dồn tất cả mọi nổ lực giúp CSBV trong âm mưu thôn tính Miền Nam Việt Nam. Với lời lẽ dối trá, sau khi vừa chiếm được Miền Nam VN, Lê Duẩn, Bí thư Thứ nhất Cộng đảng VN tuyên bố: “Chúng ta sẽ biến nhà tù thành trường học”. Nhưng thực tế, CSVN đã biến nhà trường thành nhà tù! Chúng lùa hàng trăm ngàn Quân – Dân – Cán – Chính VNCH vào các Nhà tù với những từ ngữ mị dân là “Tập trung Học tập Cải tạo”. Cộng đảng VN đã cai trị người dân bằng bạo lực và khủng bố. Sự sợ hãi tràn lan. Người dân trở nên dối trá, không còn ai tin ai, kể cả vợ với chồng, con cái với cha mẹ, thầy giáo với học trò.

       Hậu quả của sự phản bội là người dân Miền Nam đã sống những ngày nhục nhã nhất sau khi Sàigòn thất thủ. Người dân Miền Nam muốn sống một cuộc sống xứng đáng là cuộc sống của một con người thì phải bỏ nước ra đi, phải vượt biên, vượt biển. Theo Giáo sư R. J. Rummel, đã có 400 ngàn người chết ngoài biển hay trong rừng sâu núi thẳm trên đường tìm Tự do. Giáo sư Lewis Sorley thì cho rằng có chừng 250 ngàn quân nhân và viên chức VNCH đã chết trong các “Trại Cải tạo”, khoảng 1 triệu rưởi người dân Miền Nam bị đầy đi các vùng “Kinh Tế Mới”, và đã có lối 48 ngàn đã chết tại nơi rừng thiêng nước độc. (Theo tài liệu thuyết trình của Robert F. Turner tại cuộc Hội Luận Kỷ niệm 35 năm Lưu vong tại Westminster, Cali. ngày 28.4.2010).

  • TUYẾN THÉP XUÂN LỘC (9 tháng Tư - 20 tháng Tư, 1975)

    Sau khi trình bày diễn tiến trận đánh cho các phóng viên báo chí, ông Tướng nói tiếng Anh theo yêu cầu của một số…

  • TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT

    TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT A/- PHƯỚC LONG: TRẬN ĐÁNH THĂM DÒ Vào đầu tháng 1 năm 1975, sau gần một tuần lễ mở cuộc tấn…

  • TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU: MẶT TRẬN ĐỊNH QUÁN

    III.    TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU: MẶT TRẬN ĐỊNH QUÁN         A/- TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG 1/- Địch: Trung đoàn 812/QK6. Sư đoàn 7/QĐ4, gồm các Trung…

  • MẶT TRẬN PHÍA TÂY: NGÃ BA DẦU GIÂY

    V- MẶT TRẬN PHÍA TÂY: NGÃ BA DẦU GIÂY        1/- PHÒNG TUYẾN CHIẾN ĐOÀN 52: Chiến đoàn 52 do Đại tá Ngô Kỳ Dũng chỉ…

  • LUI BINH

    VII- LUI BINH “Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết Như một vành tang bịt đất trời! Chân theo quân rút, hồn ta ở Sông…

  • NHẬN XÉT

    VIII- NHẬN XÉT         1/- LINH HỒN TRẬN CHIẾN XUÂN LỘC Có người nói, “mạnh quân, mạnh chi tướng”. Đúng. Chiến thắng Xuân Lộc là chiến…

  • DƯ LUẬN VỀ TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG XUÂN LỘC

    IX- DƯ LUẬN VỀ TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG XUÂN LỘC             Chiến trận Xuân Lộc bùng nổ với tương quan lực lượng của hai bên…

  • TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN XUÂN LỘC

    X- TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN XUÂN LỘC 1/. ĐIỆN BIÊN PHỦ        Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tại lòng chảo Điện Biên Phủ,…

  • SỰ TRẢ THÙ MAN RỢ

    XI- SỰ TRẢ THÙ MAN RỢ        Bộ đội của cái gọi là “Quân Đội Nhân Dân” phải học thuộc nằm lòng câu: “Quân đội…

  • SÀIGÒN THẤT THỦ

    XII- SÀIGÒN THẤT THỦ 1/- NGÀY NHỤC NHÃ         Ngày 8.4.1949, Hiệp ước Élysée công nhận Chính phủ Quốc gia Việt Nam nằm trong Liên…

  • KẾT

    XIII- KẾT             Ngày 11 tháng Ba năm 1945,  Quân phiệt Nhật đảo chính thực dân Pháp, lợi dụng tình thế,  Hoàng đế Bảo Đại…

Nguyễn Hữu Chế – TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG