Tạ Dzu – VẤN ĐỀ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

“Bốn chữ tự nhiên kinh tế mâu thuẫn lẫn nhau, vì kinh tế bao giờ cũng bao hàm một thủ đoạn nhân vi trái ngược với hai chữ tự nhiên”.

(Lý Đông A)

Tổng Bí thư đảng CSVN, ông Nguyễn Phú Trọng, năm 2013, trong lần tham dự bàn về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã phát biểu rằng “…Đổi mới chỉ là giai đoạn, còn xây dựng Chủ nghĩa Xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”.

Người ta có thể tin rằng ông nói điều đó thật lòng vì ông từng là tiến sĩ chính trị học, chuyên ngành xây dựng đảng và đã nắm giữ các chức vụ quan trọng. Từ 1987 – 1989, ông là trưởng ban xây dựng đảng; rồi 1991-1996 là tổng biên tập tạp chí Cộng Sản. Dù biết rằng cho đến cuối thế kỷ 21 chưa chắc đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam, nhưng vì tin tưởng hoàn toàn vào những điều căn bản làm nền tảng xây dựng chủ thuyết cộng sản, như xã hội cộng sản nguyên thuỷ, kinh tế tự nhiên, động lực làm lăn bánh xe lịch sử, những quy luật biện chứng, tính quyết định của vật chất v.v… nên ông và Đảng CSVN vẫn kiên định đưa đất nước tiến lên XHCN.

Những điều căn bản đó có đúng hoặc có bám sát thực tại hay không? Nếu không, ông và các đồng chí của ông vẫn lú lẫn tin vào, thì thay vì đi lên Xã Hội Chủ Nghĩa, lại như dân gian thường nói, Xuống Hố Cả Nước.

Nhận định sai dẫn đến tư duy sai rồi hành động sai. Chính sách xây dựng quốc gia, do đó, càng sai.

Xã hội cộng sản nguyên thuỷ

Vì nhu cầu của cuộc sống, người tinh khôn (homo sapiens) đã biết quây quần tổ chức thành thị tộc, khởi đầu bằng tập thể nhỏ một vài chục người, có quan hệ huyết thống gần gũi với nhau. Nhu cầu vật chất của họ rất giới hạn, chỉ nhằm thoả mãn các nhu yếu căn bản như đói ăn, khát uống, ngủ nghỉ mà thôi.

Họ sống chủ yếu nhờ vào hái lượm và săn bắt. Công việc săn bắt cần sự phối hợp của số đông bầy đoàn như cùng lùa con thú vào bẫy hay vực thẳm rồi ném đá, phóng cây cho đến chết.

Họ săn chung, hưởng chung, ăn lông ở lỗ không khác mấy với loài thú. Ý thức tư hữu cá nhân chưa xuất hiện, nhưng tư hữu thị tộc thì có. Mỗi thị tộc chiếm cứ một khu vực riêng, bất khả xâm phạm, giống với rừng nào cọp nấy.

Một nhóm nhỏ sơ khai sinh sống đơn giản, chưa có mô hình tổ chức xã hội, không có điều kiện khách quan để phân chia giai cấp, hay đúng hơn, các giai tầng xã hội.

Cái xã hội nguyên thủy đó, Mác và Ăng ghen cho là xã hội đầu tiên của con người, có nhiều điều nên được phát huy để xây dựng một xã hội tốt đẹp, mà ông gọi là xã hội cộng sản trong tương lai. Nhưng với bản tính “tự nhiên” của lối sống bầy đoàn đó, thời kỳ nguyên thủy này đã thật sự là giai đoạn đầu tiên của xã hội loài người chưa, hay vẫn còn là giai đoạn mà loài người sống như tự nhiên, chưa thoát khỏi tự nhiên giới? Chúng ta hãy theo dõi xem nhân chủng học và nguyên-thủy-sử học khám phá ra như thế nào.

Cho đến khoảng 4000 năm trước công nguyên, con người phát hiện ra đồng nguyên chất, rất mềm, chủ yếu làm đồ trang sức. Họ tìm cách pha chì và thiếc cho đồng cứng hơn, tạo ra các loại rìu, cuốc, thương, giáo, mũi tên… và cả trống đồng.

Nhờ công cụ lao động bằng kim loại, con người đã có thể gia tăng năng suất, khai khẩn đất hoang tăng, sản phẩm ngày càng nhiều. Một số người nhờ lao động giỏi hơn người khác, hoặc lợi dụng uy tín để chiếm đoạt sản phẩm của người khác mà trở nên khá giả. Thời kỳ hái lượm, săn bắt chung, hưởng chung của xã hội nguyên thuỷ dần tan vỡ, mở đầu cho một xã hội có nhiều giai tầng mang tính đa nguyên đầu tiên xuất hiện.

Đó là quy luật phát triển khách quan của xã hội loài người.

Sai lầm căn bản của Mác là không thấy được khả năng đặc biệt của con người là có thể tu chỉnh lại tự nhiên. Như Lý Đông A đã thấy: “…loài người thành tựu được là bởi sự tu chỉnh tự nhiên, nó là cuộc cách mạng tối sơ của loài người, nó là động cơ tiến hóa không dứt…”. Nhờ đó mà loài người tiến hóa không ngừng, từ thời nguyên thủy tới nay và mãi mãi không dứt, khác hẳn với tự nhiên và với động vật khác. Khoa học đã và đang tiếp tục khám phá các giai đoạn phát triển khác nhau của loài người kể từ thời nguyên thủy thô sơ cách đây vài triệu năm, khởi đi và căn bản là “tu chỉnh tự nhiên”. Nếu chỉ sống theo hay như tự nhiên thì không có tiến hóa, không có loài người như hôm nay.

Mác và những người cộng sản cũng không thấy được rằng trong quá trình tu chỉnh tự nhiên, con người phát huy các khả năng và sự sáng tạo đa dạng, tùy cá nhân, nhu cầu và môi trường sống khác nhau. Đây là những khả năng và động lực phát triển khác nữa của con người. Sự đa dạng khác biệt này cần được điều phối để không gây ra mâu thuẫn, xung khắc. Triệt tiêu tính đa dạng tức là triệt tiêu động lực và khả năng tiến hóa của loài người. Đó là sai lầm tai hại của những người Mác-xít. Họ tìm cách áp đặt nguyên tắc vô giai cấp của thời kỳ xã hội nguyên thuỷ sơ khai, cho đó là lý tưởng nhằm triệt tiêu các giai tầng xã hội và cào bằng cho mọi người vô sản như nhau, ai cũng suy nghĩ giống nhau. Càng về sau họ càng phải chỉnh sửa nhiều nhưng trên căn bản vẫn giữ các nguyên tắc ban đầu của chủ nghĩa Mác.

Họ không thấy được tính đa nguyên khách quan khi xã hội phát triển. Vì không bám sát thực tại như vậy nên không biết cách tôn trọng đa nguyên tính, thản nhiên hô hào giai tầng công nhân vùng lên lật đổ giai tầng tư sản, thương gia, trí thức để tạo nên xã hội không giai cấp. Giai cấp này dùng bạo lực tiêu diệt giai cấp khác là cách giải quyết của tự nhiên, của thế giới động vật, mạnh được yếu thua, không phải cách thức giải quyết của con người.

Mỗi người, mỗi nhóm là mỗi đơn vị xã hội, có giá trị nội tại của nó, cần được phát huy cũng như cạnh tranh ôn hòa cùng tồn tại để xã hội được phát triển nhiều mặt, phong phú và không ngừng tiến hóa. Một trong những trách nhiệm trọng yếu của nhà nước hiện đại là tạo mọi điều kiện thuận lợi để mỗi đơn vị, mỗi “tế bào xã hội” đó phát huy hết tính đặc thù và sức sáng tạo của mình thông qua giáo dục, định chế và luật pháp. Đồng thời tạo môi trường và điều kiện để điều phối những dị biệt, giảm thiểu tối đa mâu thuẫn và xung khắc dẫn đến tan vỡ xã hội, nhờ đó mang lại cuộc sống hài hòa lợi ích cho mọi thành phần dân chúng.

Cộng sản thường hô hào ổn định để phát triển. Ổn định theo cách nhìn của cộng sản là làm mọi cách, sử dụng mọi phương tiện để trói buộc tính đa nguyên của xã hội vào độc nguyên – nguyên cộng sản. Cả sinh lực của đảng dành cho việc níu kéo độc nguyên nhằm gìn giữ ổn định. Nhưng càng níu kéo trói buộc lại càng bị tính đa nguyên tìm cách bung phá, càng có nhiều tổ chức ra đời dù bị cấm đoán, đấu tranh ôn hòa hay bạo động để đòi đảng phải chấp nhận sự xuất hiện của họ và đòi chia sẻ quyền lực chính trị trong ôn hoà bằng bầu cử dân chủ thực sự. Cứ nhìn xã hội dân sự đang ra đời ở Việt Nam và đông đảo những người không cộng sản tự ứng cử vào quốc hội thì thấy rõ tính đa nguyên bung phá đó.

Vấn đề ở đây là làm thế nào, chính sách nào cho đa nguyên phát triển trong thống nhất (unity in diversity) chứ không phải dồn ép đa nguyên vào một rọ độc nguyên. Làm sao để biết được tính thống nhất? Đó chính là văn hoá và những giá trị chung (core values) đã được đãi lọc qua thời gian và được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận. Lỗi lầm lớn nhất của đảng CSVN là đã huỷ diệt văn hoá ngàn đời của cha ông để lại, chỉ vì những nhận định sai khớp với lịch sử.

Đảng CSVN đi ngược quy luật phát triển khách quan đa nguyên của xã hội nên chỉ còn biết sử dụng côn đồ, bạo lực để giữ ổn định giả dối tạm thời. Ông Nguyễn Phú Trọng chỉ còn biết nói, không để lọt vào quốc hội những phần tử “thế này thế khác”. Ông nói thế vì ông thầy Các Mác của ông không hiểu rằng “thế này thế khác” chính là đa nguyên xã hội, luôn cần thiết để xã hội loài người phát triển được.

Trong thời chiến, người ta cần sự đoàn kết, trên dưới một lòng để đạt được hiệu quả đấu tranh cao. Ngược lại, trong thời bình, muốn phát triển phải biết tôn trọng tính đa nguyên để mọi người, mọi giới, cộng sản hay không cộng sản, đều có thể đóng góp tài sức của mình một cách bình đẳng và được hưởng thành quả một cách hợp lý.

Kinh tế tự nhiên

Kinh tế tự nhiên theo cộng sản, được hiểu là kinh tế tự cung tự cấp, có nghĩa sản phẩm tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất. Ngành sản xuất chính là săn bắt, hái lượm và nông nghiệp thô sơ (gộp nông nghiệp vào với săn bắt hái lượm là điều sai lầm sẽ nói ở đoạn sau). Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất giai đoạn này rất thấp và phải phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực cá nhân, gia đình.

Kinh tế sản xuất phát triển đi tiếp liền với kinh tế thị trường. Để tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa cần có chợ búa, thị trường trao đổi, thoả mãn nhu cầu của đông đảo khách hàng. Người cộng sản chọn áp dụng nguyên tắc tự cung cấp và phân phối lấy nên phải đặt kế hoạch mỗi năm năm, gọi là kinh tế kế hoạch hay kinh tế chỉ huy.

Trong nền kinh tế kế hoạch, nhà nước hoàn toàn kiểm soát và toàn quyền sử dụng các yếu tố sản xuất (vốn, nhân lực và tài nguyên thiên nhiên), đồng thời tự quyết định việc phân phối thu nhập với yếu tố bình quân là quan trọng. Nhà nước cũng quyết định mặt hàng nào với khối lượng bao nhiêu sẽ được sản xuất, trái với kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá phi kế hoạch, dựa chủ yếu trên cung và cầu của thị trường.

Ví dụ: Mỗi người cần hai thước vải một năm, dân số 30 triệu, kế hoạch đặt ra là phải có 60 triệu mét vải. Cứ thế mà sản xuất cho đủ chỉ tiêu. Ai cũng được hai mét vải bình quân như nhau, không có sự giầu nghèo bóc lột nhau ở đâu hết!

Điểm rất cần lưu ý ở đây là trong nền kinh tế chỉ huy, yếu tố con người không được coi trọng, ý kiến người dân không cần thiết vì tất cả đã được đảng và nhà nước lên kế hoạch giùm. Đạt yêu cầu, đạt chỉ tiêu sản xuất vật chất mới quan trọng. Cả xã hội làm việc cứ như đàn ong đàn kiến, không cần cạnh tranh và sáng kiến nên sản phẩm kém phẩm chất, đơn điệu, nghèo nàn; đời sống xã hội cũng kém đa dạng và phong phú.

So với sản xuất tự cung cấp thì sản xuất hàng hoá dựa trên cung cầu của kinh tế thị trường có ưu thế vượt trội.

  1. Sản xuất hàng hoá dựa trên chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động hợp lý bởi thị trường nhân dụng nên khai thác được những lợi thế của tự nhiên, khả năng của từng cá nhân, cơ sở, từng địa phương và của toàn xã hội.
  2. Việc khai thác những lợi thế trên tác động trở lại thị trường làm cho phân công lao động ngày càng hợp lý hơn, khiến cho mỗi người phát huy hết khả năng đặc thù và sáng kiến, hết mình với chức năng công việc (được gọi là phân mệnh). Qua chuyên môn hoá sản xuất, mỗi cá nhân nắm giữ phần vụ tuỳ khả năng ngày càng cao (phân công), thu nhập vì thế càng nhiều (phân lợi). Quan hệ giữa các ngành nghề và vùng miền (quốc gia) hay với khu vực (quốc tế) ngày càng mở rộng ở cả bề mặt lẫn bề sâu.
  3. Quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực của mỗi cá nhân, gia đình hay mỗi vùng mà mở rộng ra, dựa trên nhu cầu và nguồn lực của cả xã hội, tạo điều kiện cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất gia tăng để chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn.
  4. Kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển sẽ tiến sang khu vực dịch vụ và kinh tế tri thức, vốn là hai mặt yếu kém của kinh tế chỉ huy.

Điều cần lưu ý là việc đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng rất quan trọng. Để tồn tại và có lời, nhà sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá và giảm chi phí sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động.

Nói khác đi, yếu tố con người trong việc tổ chức sinh hoạt kinh tế và xã hội là then chốt. Phản hồi của khách hàng trong quá trình phân phối và tiêu thụ ngày càng mang tính quyết định trong nền kinh tế thị trường. Kinh tế kế hoạch không có các yếu tố nhân bản này nên không phù hợp với con người và không giúp xã hội phát triển được.

Khi nói đến kinh tế, người ta nói đến toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông, lao động, tài chánh và các hoạt động liên quan. Nói khác đi, hoạt động kinh tế mang tính nhân vi, do con người chủ động.

Tự nhiên, còn được gọi là vũ trụ và thế giới tự nhiên, là tất cả những gì bên ngoài con người, tồn tại dù có sự xuất hiện của con người hay không.

Người tinh khôn ở giai đoạn xã hội nguyên thuỷ dù đã đứng thẳng nhưng vẫn còn ăn lông ở lỗ, chưa có ý thức tư hữu, vẫn còn là một phần của tự nhiên, chưa nhận ra mình khác với tự nhiên giới. Chung quanh thiên nhiên có cái gì thì con người thụ hưởng cái đó. Họ săn bắt hái lượm những thứ có sẵn trong thiên nhiên, không phải tự cung tự cấp lấy. Đây là lối sống tự nhiên của muôn loài, chưa phải là hoạt động kinh tế. Chỉ có con người mới có hoạt động kinh tế. Và chỉ khi con người bắt đầu làm kinh tế, nghĩa là tu chỉnh lại cách sinh sản của tự nhiên (như hạt trái cây rơi xuống đất, may rủi nẩy mầm thành cây. Chỉ con người mới chủ động đem hạt đi trồng cây mới) thì lúc đó mới có đời sống và xã hội con người.

Mác đánh đồng giai đoạn nông nghiệp thô sơ vào thời kỳ săn bắt hái lượm tồn tại rất lâu dài trước đó là một kết hợp gượng ép, vì ở thời kỳ đầu nông nghiệp dù còn thô sơ, con người đã biết mình khác với tự nhiên giới, khác với các động vật khác (làm thế nào vượn người thành người sẽ được bàn đến ở bài khác, không phải như Mác nghĩ). Do đó, kinh tế và tự nhiên phủ định lẫn nhau. Không thể có cái gọi là kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp để phóng chiếu xây dựng CNXH với nền kinh tế kế hoạch.

Những người Mác-xít đã sai lầm từ nhận định và những khái niệm căn bản.

Động lực của lịch sử

Những người cộng sản luôn coi đấu tranh giai cấp là động lực làm lăn bánh xe lịch sử. Họ không nhận ra tính tự động điều chỉnh được hướng dẫn bởi nhân đạo, vì họ đặt trọng tâm trên tiền đề vật chất, giành giật quyền lợi vật chất và phương tiện sản xuất chứ không đặt tiền đề triết học trên con người.

Con người phải là trọng tâm trong tất cả các chương trình thiết kế xã hội.

Đành rằng tư bản thời hoang dã là thối nát bất công, chẳng ai muốn thời kỳ đó tái hiện. Nhưng với tính tự động điều chỉnh của nhân đạo – tức đời sống người, lối sống người – chứ không phải của thần linh (duy tâm) hay tự nhiên (duy vật), xã hội tư bản ngày càng hoàn thiện, ngày càng “người” hơn, hơn hẳn các xã hội tự xưng cộng sản hay đang trên đường tiến đến CNXH.

Nhân đạo –do con người và cho con người – chính là động lực đẩy bánh xe lịch sử chuyển động rồi lăn đi, tiến mãi. Đấu tranh giai cấp không phải là cách giải quyết vấn đề đa nguyên khách quan của con người. Đó là cách giải quyết của tự nhiên, là tình trạng bệnh thái chứ không phải thường thái, xẩy ra khi khoa học kỹ thuật và phương tiện sản xuất phát triển quá nhanh mà xã hội chưa kịp thời điều chỉnh.

Trong thời kỳ tư bản hoang dã, không ai chối cãi tính cách bóc lột của giới chủ nhân. Nhưng với lối sống người, không chỉ giai tầng công nhân mà các giai tầng khác đều tham gia đấu tranh, buộc chính quyền phải can thiệp, bảo vệ thợ thuyền và người dân nói chung bằng các đạo luật về tài chính, thuế khoá, phúc lợi công cộng để giảm thiểu chênh lệch giầu nghèo; ưu đãi những nhóm thua kém và thiểu số để giảm thiểu bất công.

Xã hội với nền kinh tế tư bản có thể điều chỉnh được các khiếm khuyết không phù hợp với nhân bản là nhờ thể chế chính trị dân chủ, một thành quả tiến hóa khác của loài người. Không có chế độ dân chủ, khả năng tự điều chỉnh của con người không phát huy được. Kinh tế thị trường tự do và thể chế chính trị dân chủ tạo điều kiện cho đa nguyên phát triển. Qua đó, chế độ tư bản mở ra cơ hội cho mọi người mọi giới, cộng sản hay không cộng sản, tham gia vào tiến trình điều chỉnh những sai trái của chế độ trong ôn hoà và tôn trọng lẫn nhau.

Ở những chế độ độc tài như cộng sản thì hoàn toàn không thể.

Đâu là yếu tố quyết định đời sống con người?

Tâm thức, hay còn gọi tắt là tâm, chỉ chung các khía cạnh của trí tuệ và ý thức, thuộc tinh thần, không thuộc về vật chất. Tâm thức bao gồm các quá trình có ý thức của não bộ như tư tưởng, trí nhớ, trí tưởng tượng, ý muốn, cảm xúc v.v…

Duy Tâm là trường phái khẳng định rằng chỉ duy yếu tố tinh thần vô hình, sản sinh ra mọi hiện tượng sống. Yếu tố vô hình trừu tượng này có trước vật chất và tồn tại độc lập với thế giới thực tại, thường được trường phái Duy Tâm dùng để giải thích cho thượng đế hiện hữu từ vô thuỷ vô chung. Xuất phát tối sơ là sự phát sinh và cứu cánh của thần. Phương pháp luận thường được sử dụng là phép tam đoạn luận. Đến thế kỷ 19, Hegel tu chỉnh lại, đặt ra duy tâm biện chứng pháp, lý giải mọi biến đổi đều tuỳ thuộc vào tinh thần tuyệt đối.

Trái lại, nhân vật nổi tiếng của trường phái Duy Vật cận đại là Các Mác, cho rằng vật chất là bản chất của mọi thực tại, và rằng vật chất tạo ra tư tưởng chứ không phải ngược lại.Tư tưởng và mọi thứ xuất phát từ tư tưởng như nghệ thuật, luật pháp, chính trị, đạo đức v.v… đều là sản phẩm của bộ não, xuất hiện từ một trạng thái nhất định của sự phát triển vật chất sống. Do đó, đạo đức, tôn giáo, siêu hình học không còn giữ vẻ độc lập được nữa. Chúng không có sự phát triển nào cả, mà là con người trong quá trình phát triển nền sản xuất vật chất và những mối liên hệ nội tại vật chất giữa họ với nhau, cho họ thấy rằng đời sống không phải được quyết định bởi ý thức, mà là ý thức được quyết định bởi đời sống vật chất.

Nhà duy vật không đi tìm lời giải thích cho các hiện tượng sống từ tư tưởng mà từ bản thân những hiện tượng vật chất, dưới dạng nguyên vật chất chứ không phải từ sự can thiệp phi tự nhiên như thượng đế. Nói khác đi, thuyết Duy Vật cho rằng chỉ duy yếu tố vật chất sản sinh ra mọi hiện tượng sống.

Với phương pháp diễn dịch (deductive) trong việc thiết lập lý thuyết cổ điển, các triết gia đưa ra một thực thể quan trọng nhất, gọi là đối tượng tối cao, là đầu mối của tất cả mọi sự, rồi từ đó suy niệm ra mọi quy luật, gọi là xuất phát tối sơ.

Thế nào là vật chất? Nguyên tử, điện tử, lượng tử…, những thứ cực nhỏ hay vũ trụ cực lớn? Cả hai thái cực từ cực tiểu đến cực đại, lấy gì làm đối tượng tối cao để quyết định tính tuyệt đối của vật chất?

Công cuộc nghiên cứu vật chất đi vào giai đoạn mới,phát hiện ra nhiều điều mới lạ vào thập niên 1920 của thế kỷ 20 với môn Lượng Tử (Quantum Mechanics) và sự chế tạo các loại máy gia tốc. Người ta khám phá ra các hạt hadron, trong đó có proton và neutron được cấu tạo bởi các vi tử cơ bản gọi là quark. Ngoài ra, vật chất còn gồm hai loại hạt khác nữa,leptongauge particle. Thuyết tương đối chứng minh vật chất và năng lượng tương đương với nhau, đặc biệt là huỷ bỏ tính chất tuyệt đối của không gian, thời gian, khối lượng và chứng minh sự thống nhất giữa không gian và thời gian (thời-không thống nhất). Vật chất không còn là một thực thể đơn giản như ở thế kỷ 19.

Bằng con mắt khoa học, người ta có thể nhận thấy rằng từ những nguyên tử nhỏ bé cho đến vũ trụ to lớn đều tồn tại cả phần hữu hình lẫn vô hình. Nguyên tử là đơn vị cơ bản của vật chất, gồm hạt nhân ở giữa và bao quanh bởi electron mang điện tích âm. Hạt nhân là một kết hợp giữa các proton mang điện tích dương và các neutron trung hoà không điện tích. Hạt nhân có mật độ vật chất đậm đặc cực lớn, đến 100 triệu tấn trên một centimet khối. Đó là phần hữu hình. Một nguyên tử sẽ không được hình thành nếu thiếu các phần vật chất này. Đâu là phần vô hình? Đó chính là trật tự xoay vần giữa chúng. Phá vỡ trật tự này, nguyên tử sẽ nổ. Trật tự xoay vần giữa các hành tinh chung quanh mặt trời, rồi Thái Dương hệ trong dải Ngân Hà, rộng ra tới toàn thể vũ trụ chính là phần vô hình. Nguyên tử và các hành tinh đâu phải như bộ não người, qua lao động mà phát sinh ra trật tự quân bình vô hình kia? Chúng hiện hữu ngay từ lúc vũ trụ được hình thành.

Khoa học cho thấy sự sống con người cũng không khác, cần có cả hai yếu tố tinh thần vô hình và vật chất hữu hình. Quan sát những người bị tình trạng hôn mê, từ vài ngày đến vài tuần hoặc vài tháng, có khi nhiều năm, người ta thấy một số dần tỉnh lại, số khác chết đi, số còn lại vẫn sống nhưng không còn biết hay cảm nhận được gì nữa. Thân thể, phần vật chất vẫn sống nhưng đã mất đi đời sống tinh thần. Người ta gọi đó là cuộc sống thực vật, không còn là con người bình thường.

Duy Vật là cách nhìn thiên nhiên dưới dạng bản thể của vật chất.

Duy Tâm là cách nhìn thiên nhiên dưới dạng các suy nghĩ qua trí óc của con người.

Hai cách nhìn này thay vì phải bổ túc cho nhau để có một tầm nhìn tròn đầy hơn về con người, lại bị một số người chọn làm công cụ lý luận siêu việt nhằm tiến hành cách mạng, gây chiến tranh, đau thương và đổ nát cho cả nhân loại trong thế kỷ vừa qua mà Việt Nam bất hạnh là lò lửa nóng nhất trong cuộc chiến tranh lạnh thế giới. Đó là những cái nhìn phiến diện, chưa nêu ra được bản chất đặc thù của phạm trù “người”.

Chủ thuyết Duy Sinh mà Tôn Dật Tiên và các đệ tử của ông muốn khai triển qua chủ nghĩa Tam Dân là triết phái trung dung, tìm cách dung hoà Duy Vật và Duy Tâm. Duy Sinh chủ trương rằng con người do sinh lý phát triển tạo ra sinh hoạt, được duy trì bằng sinh nguyên (tế bào sống của hữu cơ sinh vật) mà phát sinh vũ trụ và xã hội. Tiền đề tối định là sinh tồn vận động. Xuất phát tối sơ là sinh thể. Duy Sinh chú trọng đến hiện tượng sinh hoạt vật chất trong vũ trụ. Điều kiện hoạt động nhân chủng trong xã hội bị siêu hình hoá thành vũ trụ quan. Thực ra Duy Sinh chưa thành một hệ thống tư tưởng, vẫn còn dò tìm manh mối để bổ túc cho chủ thuyết. Do căn cứ vào sinh thể, sinh nguyên và sinh tồn vận động, họ dễ rơi vào chủ trương chủng tộc siêu việt, tiêu diệt hoặc nô lệ hoá các dân tộc nhỏ yếu.

Mỗi triết thuyết chỉ phản ảnh được một phần của đời sống, không thấy rằng con người là một tổng hợp bao gồm cả ba yếu tố Tâm, Vật, Sinh. Không có con người, vũ trụ cứ vô tình quay mãi. Có cũng như không. Con người tạo ra ý nghĩa cho đời sống. Chỉ ‘duy’ một yếu tố tâm, vật hay sinh, không thể tạo lập hiện tượng sống. Không thể có cuộc sống thuần vật chất, thuần tinh thần hay thuần cầu sinh.

Trời đất có đó, thời tiết vẫn đều đặn thay đổi, nhưng chỉ khi con người xuất hiện mới biết phân định thời gian trước sau, đặt tên bốn mùa, tạo ra lịch, ăn mừng ngày khởi đầu mùa Xuân, rồi cứ thế tiến hoá. Con người “lập tâm cho trời đất, lập mệnh cho nhân sinh” (Lý Đông A) trong ý nghĩa như thế.

Người chính là nguồn gốc hiện tượng sống của con người mà các chủ thuyết đã bỏ quên hoặc chỉ nhìn thấy một phần, như những kẻ sờ voi. Cần phải đặt lại vấn đề: chính con người, qua dòng lịch sử tiến hóa của mình, từ thời nguyên thủy đến ngày nay và mai sau, là nguyên nhân lẫn động lực tiến hóa cho chính đời sống của con người toàn diện, từ thân thể đến tâm lý và xã hội.

Vậy khi nào con người là người? Do yếu tố nào mà vượn người hay tinh tinh thành người?

Từ lúc nào người thành người?

Theo các nhà nhân chủng học và thuyết Rời Khỏi Châu Phi (Out Of Africa) thì khoảng hai triệu năm trước, loài Homo habilis có hai chân, có khả năng làm những dụng cụ thô sơ bằng đá, dung lượng não cao hơn tinh tinh (chimpanzee) nhưng thấp hơn người hiện đại, đã tiến hoá thành giống người Homo erectus đi đứng thẳng lưng. Chính họ là giống rời khỏi châu Phi đi tản mạn khắp nơi trên thế giới. Cho đến cách nay khoảng 500 ngàn năm, giống người đứng thẳng tiến hoá thành người thông minh Homo Sapiens, bộ não có hình dạng và dung lượng giống với người hiện đại.

Vẫn theo nhân chủng học, cách đây 10 triệu năm, có ít nhất hai giống khỉ ở châu Phi, một là tổ tiên của loài khỉ đột ngày nay, và một là tổ tiên chung của tinh tinh và con người.Nhưng sau đó khoảng 4-5 triệu năm, tổ tiên của loài tinh tinh và tổ tiên loài người tách rời thành hai giống khác nhau. Các nhà khoa học chưa biết rõ tại sao, đưa ra giả thuyết rằng có thể do phóng xạ mà con người chỉ có 23 cặp nhiễm sắc thể, trong khi loài tinh tinh có 24 cặp. Đây vẫn còn là một thách đố lớn cho giới nhân chủng và khoa học gia, rằng có phải tổ tiên của cả tinh tinh và loài người tách ra làm hai, hay người là một giống hoàn toàn khác biệt với tinh tinh?

Dựa theo thuyết tiến hoá của Darwin, Mác và Ăng ghen cho rằng nhờ lao động mà bộ óc con người phát triển, biết suy nghĩ và có tư tưởng. Ăng ghen viết trong tác phẩm “Vai trò của lao động trong sự biến đổi từ vượn sang người” năm 1876 như sau:

“Trước tiên là lao động, sau đó là cùng với khả năng nói – đó là hai yếu tố kích thích cốt yếu nhất mà dưới ảnh hưởng của chúng bộ não của vượn đã dần biến đổi thành bộ não người, chúng có hầu hết những điểm tương tự nhau nhưng não người lớn và hoàn thiện hơn rất nhiều. Cùng song hành với sự phát triển của bộ não là sự phát triển của những công cụ trung gian quan trọng nhất của nó – các giác quan.”

Việc phát hiện một cách khoa học rằng con người tách khỏi loài tinh tinh, với hệ thống nhiễm sắc thể hoàn toàn khác, đã đủ chứng minh không phải loài vượn hay tinh tinh thông qua lao động mà tiến hoá thành người. Trong thực tế, cho đến nay không có loài vượn hay tinh tinh nào tiếp tục lao động để tiến hoá thành người được nữa.

Vậy loài người tách ra khỏi giống tinh tinh và thành người như thế nào? Trước hết, rõ ràng là nếu loài người chỉ sống như tự nhiên, tức vẫn hái lượm và săn bắt như bao loài thú khác, thì con người không thành người. Con người là người từ lúc biết tìm cách sống khác với các loài động vật. Cái “biết” chủ quan của người làm cho người khác với các thú vật khác từ  khi khám phá ra lửa, biết ăn chín, giữ vệ sinh và biết tu chỉnh tự nhiên để phục vụ cho chính con người.

Hạt cây rơi xuống đất hay do chim ăn rồi thả xuống vùng nào đó thì chỉ trông chờ vào may rủi mưa nắng của đất trời mà mọc lên. Con người thì khác. Họ chủ động đem hạt đi trồng cây mới, tức tu chỉnh tự nhiên để phục vụ chính mình và cộng đồng; khả năng thuần hoá súc vật cũng mang ý nghĩa tương tự. Nói theo nhà tư tưởng Việt là Lý Đông A (1920-1946?) thì con người “tái sinh sản” (sản xuất) cách sinh sản (sản xuất) của tự nhiên và “tái hiệu suất, hiệu suất của lịch sử” (Lý Đông A, Duy Nhân Cương Thường, 1943).

Từ đó mới có đời sống và xã hội người.

Không như Mác nghĩ, ông cho rằng ngay từ trong xã hội nguyên thuỷ – con người còn ăn lông ở lỗ, đực cái giao phối lẫn lộn như động vật, săn bắt hái lượm như loài thú – đã bắt đầu đời sống người.

Dòng đời cứ trôi đi, con người tiếp tục sống. Nhưng lịch sử loài người khác hẳn, càng ngày càng văn minh tiến bộ, càng ngày càng “người” hơn theo cái biết dựa trên lập trường nhân đạo của người, chứ không phải của tự nhiên để giành giật phương tiện sản xuất, bỏ tù đồng bào, giết hại đồng loại không gớm tay. Các loài vật khác cả triệu năm qua vẫn sống như thế.

Mác nhận thấy mâu thuẫn giữa người và tự nhiên phải một mất, một còn như các loài thú khác, nên người cộng sản áp dụng trực tiếp quy luật mâu thuẫn đối kháng vào xã hội, hô hào các giai cấp tiêu diệt nhau. Khi đưa quy luật tự nhiên vào xã hội người, con người phải điều chỉnh lại để mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn huỷ diệt trở thành quy luật đối lập thống nhất, có khác biệt nhưng đều cùng cần tồn tại, cần dung hòa, không triệt tiêu nhau: đối lập thống nhất giữa tự nhiên và xã hội; đối lập thống nhất giữa nhà nước và nhân dân; giữa cá thể và tập thể.

Nhờ sự tự điều chỉnh theo hướng nhân đạo (đời sống người) đó mà loài người ngày nay biết hô hào bảo vệ, lành mạnh hóa môi trường sống; biết ‘go green’; biết chống đối lãnh đạo Hà Nội đốn bỏ cây xanh; biết lên tiếng trên báo chí ‘lề dân’ phản đối công ty Formosa ở Vũng Áng thải chất độc làm hại thiên nhiên và con người.

Cái nhìn một chiều đặt nặng vật chất là vạn năng, vật chất quyết định tất cả gây nguy hiểm cho đời sống muôn loài như thế. Sống nương nhờ vào Mẹ Tự Nhiên (Mother Nature) thì cũng phải biết ‘hòa’ cùng Mẹ Tự Nhiên, bảo vệ Mẹ Tự Nhiên. Mẹ Tự Nhiên chết đi thì con người cũng chẳng thể sống.

Hãy sống cuộc sống tự nhiên hòa. Đừng để bị vật chất hóa, tự nhiên hóa như quan điểm cộng sản. Không thể xây dựng được một đời sống tiến bộ và an bình nếu không vừa tu chỉnh, vừa bảo vệ được môi trường sống tự nhiên chung quanh con người.

Duy Vật biện chứng có hai nguyên lý cơ bản là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gồm sáu cặp phạm trù, ít được nói tới và nguyên lý về sự phát triển, thường được đề cập tới hơn.

Nguyên lý về sự phát triển bao gồm ba quy luật:

Quy luật mâu thuẫn nói về nguồn gốc của sự phát triển.

Quy luật lượng – chất chỉ ra hình thức của sự phát triển.

Quy luật phủ định cho biết khuynh hướng của sự phát triển.

Quy luật mâu thuẫn

Quy luật mâu thuẫn là quy luật quan trọng nhất của biện chứng duy vật, theo đó nguồn gốc của sự phát triển chính là mâu thuẫn và là việc giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật hay hiện tượng nào đó.

Biện chứng duy vật phát biểu rằng sở dĩ sự vật mâu thuẫn là vì trong sự vật có những yếu tố đối lập mang đặc điểm hay thuộc tính có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Ví dụ trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong sinh vật có sự đồng hóa và dị hóa; trong thị trường có cung và cầu, hàng và tiền. Hai mặt đối lập tồn tại trong sự thống nhất với nhau, nương tựa và không tách rời nhau nên giữa chúng có những nhân tố giống nhau, gọi là sự ‘đồng nhất’. Các mặt đối lập không chỉ đồng nhất mà còn đấu tranh với nhau bằng tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau qua các hình thức đa dạng, phong phú tuỳ thuộc vào tính chất và mối quan hệ giữa các mặt đối lập và các điều kiện cụ thể.

Dù nhận ra sự đồng nhất giữa các mặt đối lập trong một hiện tượng hay sự vật, Mác và Ăng ghen qua cái nhìn duy vật, nhận thấy chúng giải quyết mâu thuẫn bằng cách bài trừ và phủ định nhau như trong thế giới tự nhiên; do đó, những người cộng sản không hề ngần ngại sử dụng luật mâu thuẫn hủy diệt, cá lớn nuốt cá bé đối với mối tương quan giữa các dân tộc và giữa các giai tầng xã hội. Họ không thấy rằng với sự hiểu biết, con người khác tự nhiên giới, có khả năng loại bỏ thú tính và phát huy nhân tính, biến mâu thuẫn đối kháng thành đối lập thống nhất để mọi người có thể chung sống thân thiện với nhau.

Nếu không có quy luật đối lập thống nhất giữa nam và nữ sẽ không có gia đình; không biết áp dụng luật đối lập thống nhất giữa cá nhân và tập thể sẽ không có hài hòa xã hội; giữa bảo thủ và cấp tiến sẽ không có tiến bộ; và nếu không có đối lập thống nhất giữa tự nhiên và con người thì loài người chỉ biết khai thác tự nhiên một cách triệt để mà không biết cách bảo vệ môi trường sống, cuộc sống của con người sẽ, hoặc bị tự nhiên hóa, hoặc làm thoái hóa tự nhiên, thay vì sống cuộc sống hòa cùng tự nhiên.

Quy luật mâu thuẫn đối kháng dẫn đến tiêu diệt lẫn nhau trong tự nhiên không thể áp dụng một cách thẳng tuột máy móc vào xã hội con người mà cần điều chỉnh lại thành quy luật “đối lập thống nhất”, để mọi khác biệt được hóa giải trong hòa bình ổn định. Đây chính là nguyên tắc “unity in diversity” (thống nhất trong đa dạng) mà ASEAN đã lấy làm nguyên tắc chỉ đạo cho hoạt động của mình.

Quy luật lượng – chất

Theo quan điểm Duy Vật, bất cứ sự vật hay hiện tượng nào cũng bao gồm hai mặt chất và lượng. Chúng hữu cơ thống nhất với nhau.

Chất là phạm trù triết học để chỉ tính khách quan của sự vật hay hiện tượng, quy định bởi những thuộc tính và yếu tố cấu thành. Nhưng chỉ những thuộc tính cơ bản tổng hợp lại mới thành chất của sự vật. Những thuộc tính cơ bản quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật; chỉ khi chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi. Chất, biểu hiện trạng thái khá ổn định của sự vật. Các thuộc tính kết hợp với nhau tương đối trọn vẹn, hoàn chỉnh và bền vững làm cho sự vật này không trộn lẫn với sự vật khác mà tách biệt cái này với cái khác. Chất luôn gắn liền với lượng của sự vật hay hiện tượng.

Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định về số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính và các yếu tố cấu thành. Lượng không phụ thuộc vào ý chí hay ý thức của con người. Lượng biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm.

Mỗi sự vật hay hiện tượng bao gồm một thể thống nhất giữa chất và lượng. Chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi. Lượng biến đổi đến một mức độ và điều kiện nhất định nào đó sẽ phá vỡ chất cũ, chất mới được hình thành. Quá trình tác động lẫn nhau giữa chất và lượng tạo ra sự vận động liên tục, từ biến đổi dần dần đến nhảy vọt, rồi lại biến đổi dần để chuẩn bị cho bước nhảy vọt kế tiếp. Quá trình động, biện chứng giữa chất và lượng tạo ra cách thức vận động và phát triển của sự vật hay hiện tượng. Chất mới không chỉ biến đổi một cách thụ động mà tác động trở lại lượng để tạo ra lượng mới, phù hợp trong thể thống nhất chất và lượng mới.

Vì đặt tiền đề triết học trên vật chất nên Mác dễ thấy trong tự nhiên khi lượng đổi thì chất đổi. Hình ảnh nồi nước sôi thường được dùng làm ví dụ. Sự thay đổi về lượng (tăng nhiệt độ) đến một mức nào đó sẽ làm cho nước bốc hơi, tức thay đổi về chất. Những người Mác-xít lập luận rằng trong sự vận động và phát triển của sự vật, thay đổi bao giờ cũng bắt đầu từ lượng. Cộng sản thường dùng quy luật này để lý giải cho những cuộc ‘cách mạng’ bằng bạo lực gây đổ máu chết chóc để cướp cho được chính quyền của họ.

Trên thực tế, không phải luôn luôn cứ lượng đổi thì chất đổi. Có nhiều trường hợp chất đổi khiến lượng đổi theo, có khi đổi cả chất. Trong những năm hạn hán, cây cối thường cho ra ít trái hay trái vừa chua vừa èo oặt, thậm chí cây có thể chết. Nhưng những năm ‘mưa thuận gió hòa’ (thay đổi về chất), cây được chăm bón khiến cho cành trái sum xuê ngon ngọt (thay đổi về lượng và chất). Tại các quốc gia người dân thực sự làm chủ đất nước, người ta tranh đấu hợp pháp bằng nghị trường, trong quốc hội nhằm thi thố tài năng viễn kiến và quản trị (thay đổi về chất) nhằm đạt hiệu quả xã hội ở cả bề rộng lẫn bề sâu (đổi cả lượng và chất). Quốc hội của những nước cộng sản chỉ là bình phong che đậy thể chế độc tài, nơi thực hiện nghị quyết của đảng nên chất không thể đổi, mà dù lượng có đổi bao nhiêu đi chăng nữa, họp hành liên miên hoặc tăng số đại biểu, chất-đời-sống của nhân dân vẫn nghèo nàn nhếch nhác. Nếu có khá hơn thì chỉ vì tình thế bắt buộc, “đổi mới hay là chết” chứ chẳng phải do chủ động đổi lượng mà chất đổi. Khoảng thập niên 1970 trở về trước, những công ty xe hơi của Mỹ luôn dẫn đầu thế giới về lượng xe bán ra. Một hai thập niên sau đó, các hãng xe Nhật cải tiến kỹ thuật, xe nhỏ gọn, ít tốn xăng, kiểu cọ bắt mắt (thay chất), số lượng xe bán ra vượt hẳn các công ty Mỹ (làm đổi lượng).

Quy luật lượng đổi chất đổi, do đó, thiếu sót; cần được tu chỉnh lại bằng quy luật “chất – lượng hỗ biến” (hỗ tương biến đổi).

Quy luật phủ định

Biện chứng phủ định là phạm trù triết học để chỉ sự phủ định và phát triển tự thân, một mắt xích trong quá trình dẫn tới sự ra đời của sự vật mới tiến bộ hơn sự vật cũ.

Để biện chứng phủ định được diễn ra trong suốt quá trình vận động của sự vật, những yếu tố tiêu cực sẽ bị thay thế bởi những yếu tố tích cực. Sự vật cũ bị sự vật mới phủ định và sự vật mới này sẽ lại bị phủ định bởi sự vật mới khác trên sự thống nhất hữu cơ giữa lọc bỏ, bảo tồn và bổ sung thêm những yếu tố tích cực mới. Do đó, thông qua những lần phủ định biện chứng của bản thân, sự vật sẽ ngày càng phát triển theo vòng xoáy trôn ốc nhưng trên cơ sở phát triển cao hơn.

Mỗi lần phủ định là mỗi kết quả của đấu tranh và chuyển hoá giữa các mặt đối lập, hay nói khác đi, giữa mặt khẳng định và mặt phủ định của sự vật. Phủ định của phủ định là kết quả tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực của cái khẳng định ban đầu và cái phủ định lần thứ nhất, cũng như các giai đoạn trước đó. Đó là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và cũng là điểm khởi đầu cho chu kỳ phát triển tiếp theo. Với triết học Mác-Lênin thì quy luật phủ định của phủ định là quy luật phổ biến của sự phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Có đúng đó là quy luật chung cho sự phát triển của cả tự nhiên lẫn xã hội hay không?

Mặc dù có nhắc đến sự đấu tranh và chuyển hoá giữa các mặt đối lập hay tổng hợp các yếu tố tích cực trong hai quá trình phủ định, nhưng đối với tự nhiên giới (động vật) thì đó là cuộc đấu tranh đối lập cơ bắp mạnh được yếu thua, một mất một còn. Trong khi chỉ với con người mới có khả năng ‘nghị hòa’, nói khác đi là sự thống nhất các mặt đối lập cả trong tư duy, chính kiến đến hành động để mọi người cùng sống trong hòa bình ổn định.

Vì không nhìn thấy khả năng điều chỉnh quy luật đối lập huỷ diệt của tự nhiên thành ‘đối lập thống nhất’ nơi con người, nên sau 1975, cộng sản phá huỷ toàn bộ nền văn hóa và cơ sở kinh tế của miền Nam VN, thực hiện các vụ đổi tiền, đánh tư bản mại sản, xua dân đi vùng kinh tế mới… Tại những quốc gia cộng sản khác cũng tương tự như thế. Họ tiêu diệt cuộc sống nhân bản cũ để thành lập xã hội chủ nghĩa mới với đấu tranh giai cấp, giành giật phương tiện sản xuất vật chất là tất cả. Phá huỷ toàn bộ hệ thống cũ là họ đã “cắt lát” lịch sử, trong khi lịch sử phải là sự tiếp nối, tích luỹ những nhân tố tích cực của quá khứ làm nền tảng cho hiện tại để mỗi ngày mỗi mới, mỗi tiến bộ và hướng thượng hơn trong tương lai.

Phủ định không có nghĩa là bỏ đi tất cả những cái cũ, thay hoàn toàn bằng những cái mới. Phủ định là đãi lọc, loại bỏ những yếu kém cũ, lọc lấy phần tinh túy để tiếp thêm vào các yếu tố mới. Quy luật phủ định chỉ có ý nghĩa như thế khi áp dụng chung với hai quy luật “thống nhất đối lập” và “chất lượng hỗ biến” để trở thành “phủ định phủ định”, tức là một dây chuỗi đãi lọc tiến hóa không ngừng (*) để lịch sử không bị ngưng trệ hay cắt lát từng khúc.

Học thuyết của Mác còn vận dụng một cách thô thiển phép tam đoạn luận của Duy Tâm phái. ‘Đề’ là xã hội phong kiến. Tư bản là phản đề (phủ định). Cộng sản là tổng hợp đề (phủ định của phủ định). Điểm cần lưu ý là những người cộng sản cho rằng tổng hợp đề cộng sản là nấc thang cuối cùng, cao nhất của lịch sử loài người. Xã hội con người không thể tiến xa hơn nữa. Lập luận này làm cho lịch sử bị ngưng trệ, tư tưởng bị đóng khung, không còn có thể tiến hóa.

Một số luận điểm mang tính bào chữa của cộng sản thì rất phi nhân bản. “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” là một trong những số đó. Cứu cánh là ‘cướp’ chính quyền thì sá gì mà họ không ‘giết lầm hơn bỏ sót’, giết người vô tội không gớm tay để thực hiện cho được mục tiêu? Không cứu cánh nào có thể biện minh cho phương tiện chủ trương gây hận thù giết hại đồng loại cả.  Luận điểm đúng phải là, cứu cánh nào, phương tiện nấy.

Chủ thuyết Duy Vật không phải hoàn toàn không có những đóng góp thiết thực cho sự tiến bộ chung của loài người. Nhưng qua ba bài khảo sát vừa qua, rõ ràng là chủ thuyết này chứa đầy những thiếu sót căn bản cần được bổ khuyết. Chủ thuyết Duy Vật dựa vào tiền đề vật chất, vật chất vạn năng sản sinh ra tất cả nên hoàn toàn thiếu vắng con người. Trong khi chính con người mới sản sinh ra mọi hiện tượng sống. Chính con người mới tạo cho mọi vật và đời sống có ý nghĩa. Chính con người, theo nhà tư tưởng Lý Đông A, đã “lập tâm cho trời đất, lập mệnh cho nhân sinh” chứ không phải chỉ do tâm, do vật hay do sinh mà có.

Những người cộng sản Việt Nam cần nhìn thấy các thiếu sót cơ bản nói trên để điều chỉnh tư duy, từ bỏ Chủ Nghĩa Xã Hội kiểu cộng sản viển vông mà nhân loại đã chối bỏ để hòa mình vào sự tiến hóa chung của cả nhân loại, cùng dân tộc đưa đất nước thoát khỏi tụt hậu và nguy cơ Hán hóa ngày càng lộ rõ, kể từ ngày đảng cộng sản có mặt tại Việt Nam.

Tạ Dzu

(*) Trong tài liệu “Chìa Khóa Thắng Nghĩa” viết năm 1943, Lý Đông A đã tu chỉnh ba quy luật của Mác thành: đối lập thống nhất (thay cho “mâu thuẫn”), chất lượng hỗ biến (thay cho “lượng đổi chất đổi”) và phủ định phủ định (thay cho “phủ định của phủ định”).

Đã xem 1320 lần

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách