Tào A man, Từ Không Hóa Có, Liếm sạch An nam

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” [Không Quảng Cáo] – b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)

Khi chủ quyền của đất nước bị giặc biến thành chủ quyền tranh cãi; khi chủ quyền tranh cãi bị giặc cắm cờ 5 sao và liếm sạch bởi lưỡi bò 9 khúc thì “hợp tác” có nghĩa là đầu hàng, là chấp nhận cho giặc vào nhà của mình để “cùng” khai thác cái mà mình sở hữu chủ.

…. Trong cái gọi là “cùng hợp tác” này, một bên là đất nước hơn 1 tỉ dân, là cường quốc số 2 của thế giới, cai trị bởi những kẻ có mộng bá vương và xâm lược; bên kia là một quốc gia chưa sản xuất được đinh ốc, toàn bộ những công trình xây dựng lớn đều phụ thuộc vào giặc. Vậy thì trong quan hệ hợp tác này kẻ nào là chủ chốt, là “partner” lớn? Kẻ nào sẽ nắm trọn ổ biển Đông?

Gợi ý, hay đúng ra là chỉ thị của thiên triều trong cái gọi là “Phiên họp lần thứ 11 của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc” đã được gián tiếp xác nhận bởi người phát ngôn của Bộ ngoại giao Ba Đình:

…. Bỏ qua những “râu ria” làm màu để hy vọng dân bớt chửi như “các quốc gia khác”, theo đúng “quy định và chế định”…, tuyên bố của Bộ Ngoại giao là thông điệp bán chính thức của đảng gửi đến 90 triệu ông bà chủ Việt Nam: Biển Đông đang là Đặc Khu của Tàu.

                                 ( Danlambao – Đặc khu Biển Đông )

Tào A man tên tục là Tháo, từ một tên thư lại nhỏ, lưu manh luồn lọt, leo lên hàng tể tướng át quyền thiên tử, dùng thủ thuật gian trá, lũng đoạn chư hầu, gồm thâu quyền lực.

Ngày nay con cháu tào mao dùng tên bá vơ nhận vờ cu nghệ bác cụ, dẫn dắt bọn cu li việt cọng, từng bước, từng bước giao nạp An nam, từ đảo biển khơi tới đất liền, rừng núi cho chệt khựa.

” Khi chủ quyền của đất nước bị giặc biến thành chủ quyền tranh cãi ” hay là:

Từ không hóa có TRÊN GIẤY.

  • Ngày 4 tháng 9 năm 1958, tàu khựa ra Bản Tuyên Bố ” Chủ Quyền Lãnh Hải “:

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Đài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lai. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.

Chú thích:
Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands
Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

Bản tuyên bố ăn cướp nầy hiển nhiên đặt Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam thuộc lãnh thổ tàu cọng.

Vậy mà chỉ 10 ngày sau, Phạm Văn Đồng đã ký cái công hàm bán nước trứ danh “ công nhận bản tuyên bố về lãnh hải của tàu cọng “:

Toàn văn công hàm

Công hàm của Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi cho thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai vào năm 1958

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Ngày 22 tháng 9 năm 1958, công hàm trên của thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được đăng trên báo “Nhân Dân“.

Như vậy, tên nội gian đồng vẫu tuân lệnh hồ bác cụ ký văn tự bán 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa cho chệt cọng.

Và như vậy, tào a man từ KHÔNG hóa CÓ hai quần đảo trên Biển Đông của Việt Nam trên giấy trắng, mực đen!

Khi chủ quyền tranh cãi bị giặc cắm cờ 5 sao và liếm sạch bởi lưỡi bò 9 khúc ”  hay Từ có trên giấy đánh chiếm thành CÓ TRÊN THỰC TẾ

TÀU CỌNG ĐÁNH CHIẾM HOÀNG SA

Bối cảnh

Sau khi Pháp rút khỏi Ðông Dương, Việt Nam Cộng Hòa đã đảm nhiệm chủ quyền trên quần đảo này cho đến khi cuộc hải chiến xảy ra. Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo, được gọi là nhóm Nguyệt Thềm (Crescent group) và nhóm Bắc đảo hay An Vĩnh/Tuyên Ðức (Amphitrite group).
Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa đã có đài khí tượng do Pháp xây, trực thuộc ty khí tượng Ðà Nẵng và được bảo vệ bởi một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Năm 1956, hải quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc nhóm Bắc đảo. Năm 1958, Trung Quốc cho công bố bản tuyên ngôn lãnh hải 4 điểm, trong đó có tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc bao gồm các đảo Ðài Loan, Ðông-sa/Tây-sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam) và Nam-sa (tức Trường Sa của Việt Nam), đảo Macclesfield, quần đảo Bành Hồ (Pescadores).

Vào giai đoạn này, Trung Quốc vẫn là đồng minh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tiến hành cuộc chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ.
Ngày 22 Tháng Chín năm 1958, báo Nhân Dân đăng công hàm của Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Ðồng gửi thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 Tháng Chín năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận.
Năm 1961, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ban hành sắc lệnh khẳng định chủ quyền Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam của Việt Nam Cộng Hòa.
Trong thời gian 1964-1971, hải quân Trung Quốc và hải quân Việt Nam Cộng Hòa chạm súng liên tục trên hải phận Hoàng Sa, nhưng không đưa đến thương vong. Trong thời điểm đó, Việt Nam Cộng Hòa cũng thiết lập một sân bay nhỏ tại đảo Hoàng Sa.

Năm 1973, với Hiệp Ðịnh Paris, Hoa Kỳ và Ðệ Thất Hạm Ðội sau khi rút quân và thiết bị ra khỏi quần đảo Hoàng Sa đã xem việc bảo vệ quần đảo này là việc riêng của Việt Nam Cộng Hòa.
Năm 1974 khi một phái đoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa trong việc chuẩn bị thiết lập phi trường có khả năng chuyên chở vận tải cơ hạng nặng C-7 Caribou thì khám phá ra sự hiện diện của hải quân Trung Quốc, và giao tranh xảy ra sau đó.

Phía Việt Nam có tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), một đại đội hải kích thuộc hải quân Việt Nam Cộng Hòa, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và một trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.
Phía Trung Quốc có Liệp Tiềm Ðĩnh Số 274, Liệp Tiềm Ðĩnh Số 271, Tảo Lôi Hạm Số 389, Tảo Lôi Hạm Số 391, Liệp Tiềm Ðĩnh Số 282, Liệp Tiềm Ðĩnh Số 281 và hai chiến hạm số 402 và số 407 chở quân (không rõ loại), Tiểu Ðoàn 4 và Tiểu Ðoàn 5 thuộc Trung Ðoàn 10 Hải Quân Lục Chiến, và hai đội trinh sát.
Ngày 16 Tháng Giêng, 1974, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt sau khi đưa một phái đoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa phát hiện hai chiến hạm số 402 và số 407 của hải quân Trung Quốc gần Cam Tuyền, và phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng hoặc cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc.

Sau khi cấp báo về bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải tại Ðà Nẵng, HQ-16 dùng quang hiệu yêu cầu các chiến hạm Trung Quốc rời lãnh hải Việt Nam. Các chiến hạm Trung Quốc không rời vùng, và cũng dùng quang hiệu yêu cầu phía Việt Nam Cộng Hòa rời lãnh hải Trung Quốc.

Ngày 17 Tháng Giêng, 1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đến Hoàng Sa đổ bộ một toán biệt hải và một đội hải kích xuống Cam Tuyền để nhổ cờ Trung Quốc. Sau đó các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa rút trở lên tàu. Cùng trong ngày Liệp Tiềm Ðĩnh Số 274 và Liệp Tiềm Ðĩnh Số 271 của Trung Quốc xuất hiện.
Ngày 18 Tháng Giêng, 1974, Ðề Ðốc Lâm Ngươn Tánh, tư lệnh phó hải quân Việt Nam Cộng Hòa bay ra bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải tại Ðà Nẵng để trực tiếp chỉ huy trận đánh. Ông ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc.
Lực lượng hành quân Hoàng Sa 1 được tăng cường thêm tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) làm soái hạm cho cuộc hành quân, và hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10). Do hải hành lâu ngày chưa kịp tu bổ, HQ-10 tham chiến với một máy bất khiển dụng, chỉ còn một máy hoạt động.

Ngày 19 Tháng Giêng, 1974, biệt hải và hải kích Việt Nam Cộng Hòa từ HQ-5 đổ quân lên mặt Nam đảo Quang Hòa và hải quân Trung Quốc đổ quân xuống mặt Bắc đảo. Hai bên giao tranh và phía Việt Nam Cộng Hòa có 3 chết và 2 bị thương. Do quân Trung Quốc quá đông, quân Việt Nam Cộng Hòa rút trở lên HQ-5.

Ngay sau đó chiến hạm hai bên triển khai đội hình gần đảo Quang Hòa và chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa khai hỏa trước. Hai bên chạm súng từ 30 đến 45 phút, cùng thời điểm đó bộ tư lệnh hải quân Việt Nam Cộng Hòa nhận được thông báo của văn phòng tùy viên quân sự Hoa Kỳ (DAO) tại Sài Gòn, cho biết radar đệ thất hạm đội ghi nhận một số phóng lôi hạm (guided missile frigate) và chiến đấu cơ MIG từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa.
Bộ tư lệnh hải quân Việt Nam Cộng Hòa sau đó yêu cầu đệ thất hạm đội trợ giúp, nhưng không thành công. (**)

Hải chiến Hoàng Sa lừng danh Quân sử Việt

Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà vị quốc vong thân

TÀU CỌNG ĐÁNH CHIẾM TRƯỜNG SA

Sự kiện Trường Sa không phải là “ hải chiến “

Tháng 9 và tháng 10 năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lần lượt đi thăm hai nước Philipines và Malaysia, ký thỏa thuận với Tổng thống và Thủ tướng hai nước để giải quyết các tranh chấp trên biển Đông bằng biện pháp hòa bình.

Giai đoạn này quan hệ giữa hai nước ngày càng căng thẳng. Trung Quốc từ chỗ thừa nhận Hoàng Sa là “vấn đề tranh chấp” sang hẳn luận điểm “Hoàng Sa là của Trung Quốc, không cần tranh cãi”.

Trung Quốc chọn thời điểm

Nhiều tài liệu, bài báo gọi sự kiện Trung Quốc dùng tàu chiến, pháo hạm quân sự tấn công ngày 14/3/1988 là “cuộc hải chiến Trường Sa”. Tuy nhiên, chuẩn đề đốc Lê Kế Lâm và một số học giả quốc tế nghiên cứu về biển Đông cho rằng, gọi là “hải chiến” hoàn toàn không chính xác. Bởi khi đó, lực lượng của Việt Nam trên các đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma là công binh, không có vũ khí. Và các tàu của Việt Nam làm nhiệm vụ trong khu vực là tàu vận tải, không có vũ khí. Trung Quốc đã sử dụng vũ khí từ súng và pháo trên các tàu chiến bắn vào bộ đội công binh và tàu vận tải của Việt Nam.

Theo tài liệu giải mật của cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ (CIA), Trung Quốc đã chọn thời điểm dư luận thế giới đang tập trung vào giải pháp chính trị ở Campuchia. Liên Xô, đồng minh quan trọng của Việt Nam đang sa lầy ở Apganistan, đang nối lại quan hệ với Trung Quốc nên không muốn dính líu rắc rối gì với Trung Quốc.

Trước khi ra tay hành động, một đoàn ngoại giao Trung Quốc đã đến các nước có liên quan đến biển Đông khẳng định “lập trường hòa bình” và tuyên bố Trung Quốc chỉ “tranh chấp” đảo với Việt Nam, Trung Quốc không hề có “tranh chấp” nào khác với các nước khác!

Đầu năm 1988, lần đầu tiên hải quân Trung Quốc tới một số đảo trên quần đảo Trường Sa. Cụ thể, ngày 31/1/1988 chiếm bãi đá Chữ Thập; ngày 18/2/1988 chiếm bãi Châu Viên; ngày 26/2/1988 chiếm bãi Ga Ven; ngày 28/2 chiếm bãi Tư Nghĩa.

Trước tình hình Trung Quốc chiếm đóng hàng loạt đảo trên Trường Sa, Việt Nam đã khẳng định chủ quyền trên các đảo còn lại trên các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao.

Trung Quốc, sau khi chiếm hàng loạt đảo, đầu tháng 3/1988 đã huy động lực lượng của hai hạm đội tiếp tục mở rộng lấn chiếm, tăng số tàu chiến từ 9 lên 12 tàu gồm 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu kéo và 1 pông tông lớn.

Sáng ngày 14/3/1988, 4 tàu chiến Trung Quốc tiến đến bãi Gạc Ma. 6 giờ sáng Trung Quốc đổ bộ 40 quân lên đảo, xông lên giật cờ Việt Nam cắm trên đảo. Các chiến sĩ hải quân Việt Nam đang bảo vệ cờ Tổ quốc đã bị đâm bằng lưỡi lê và bắn chết gồm hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh, thiếu úy Trần Văn Phương…

Lực lượng công binh, hải quân dù tay không vẫn cương quyết bảo vệ cờ. Trung Quốc đã huy động hai chiến hạm bắn thẳng vào lực lượng bảo vệ đảo và tàu vận tải 604 đang neo đậu. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và một số chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Tàu 604 bị chìm.

Tại đảo Cô Lin (cách Gạc Ma 3,5 hải lý) và Len Đao, Trung Quốc tấn công quyết liệt ngay từ 6 giờ sáng ngày 14/3, bắn cháy tàu HQ 505 và sát hại nhiều chiến sĩ đang giữ đảo. Ở hướng Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14/3, tàu chiến Trung Quốc bắn cháy tàu HQ 605 của Việt Nam.

Cuộc thảm sát kéo dài 28 phút đã gây thiệt hại nặng cho Việt Nam, 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 chiến sĩ hy sinh, 11 chiến sĩ bị thương và 74 chiến sĩ mất tích. Sau này Trung Quốc trả lại 9 chiến sĩ bị bắt. Số còn lại được xem là đã hy sinh.

Việt Nam đã phản đối gay gắt. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tiếp tục mở rộng không ngừng lấn chiếm thêm một số đảo nữa sau đó và huy động nhiều tàu đánh cá từ Quảng Châu đến hoạt động khai thác tại ngư trường Trường Sa.

Ngày 28/ 4/1990, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa. (***)

Trường Sa nào đâu phải là hải chiến
Chỉ là bộ đội cụ hồ đưa đầu cho chệt bắn
Theo lịnh tên việt gian chột mắt Lê Đức Anh

TÀU CỌNG CHÁNH THỨC LẬP THÀNH PHỐ TAM SA

Công bố công hàm Phạm Văn Đồng

Ngày 30 tháng 1 năm 1980, để phản ứng việc Việt Nam công bố sách trắng về chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã xuất bản một tài liệu với tên gọi “Chủ quyền không tranh cãi của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa”. Trong tiểu mục với tựa “Sự man trá của chính quyền Việt Nam”, tài liệu nhắc đến việc báo Nhân Dân ngày 6 tháng 9 năm 1958 in toàn văn tuyên bố về hải phận của Trung Quốc ở trang đầu, trong đó có đoạn nói về Nam Sa và Tây Sa, cũng như công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng.Trung Quốc cũng công bố công hàm trong tài liệu và nói rằng đây là bằng chứng cho thấy chính phủ Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo. Cùng với công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng, tài liệu này cũng công bố một bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam [Dân chủ Cộng hòa] xuất bản tháng 5 năm 1972 cho thấy các quần đảo này có tên Tây Sa và Nam Sa.(****)

Chánh thức thành lập Thành phố Tam Sa

Tam Sa (tiếng Trung: 三沙市; bính âm: Sānshā Shì, âm Hán Việt: Tam Sa thị) là một thành phố được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào ngày 24 tháng 7 năm 2012 để quản lý một khu vực mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền, bao gồm: Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa), Quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Nam Sa), bãi Macclesfieldbãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa) cùng vùng biển xung quanh. Theophân cấp hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tam Sa là một địa cấp thị (thành phố cấp địa khu) thuộc tỉnh Hải Nam và có chính quyền nhân dân đặt tại đảo Phú Lâm (Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng).

Theo chính phủ Trung Quốc, việc thành lập thành phố Tam Sa sẽ giúp tăng cường hơn nữa khả năng quản lý, khả năng phát triển và kiến thiết của quốc gia này đối với những hòn đảo và các vùng nước xung quanh các quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Trường Sa, bảo vệmôi trường biển trong vùng biển Đông.

Việc thành lập thành phố Tam Sa là sự điều chỉnh của chính phủ Trung Quốc đối với cơ quan hành chính hiện hành, là công việc trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc.

Việt NamPhilippines cho rằng việc lập thành phố này đã vi phạm chủ quyền của họ trên các lãnh thổ đang tranh chấp và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định này. Hoa Kỳlên tiếng quan ngại về các hành động đơn phương của Trung Quốc khi thành lập thành phố Tam Sa, và cho rằngTrung Quốc cố gây ra một “sự đã rồi” trong vấn đề đang tranh chấp cần phải giải quyết thông qua đàm phán ngoại giao đa phương (giữa tất cả các bên tranh chấp).

Một khi mà tàu cọng chánh thức công nhận Hoàng – Trường Sa là của nó thì nó có quyền đưa ra chủ quyền lãnh hải “ Đường Lưởi Bò 9 Đoạn.”

CHỦ QUYỀN LÃNH HẢI ĐƯỜNG LƯỠI BÒ

hoàn tất quy trình tóm thâu Biển Đông của tàu cọng

Khi chủ quyền của đất nước bị giặc biến thành chủ quyền tranh cãi; khi chủ quyền tranh cãi bị giặc cắm cờ 5 sao và liếm sạch bởi lưỡi bò 9 khúc thì “hợp tác” có nghĩa là đầu hàng, là chấp nhận cho giặc vào nhà của mình để “cùng” khai thác cái mà mình sở hữu chủ.”

Hay là Đặc Khu Biển Đông của tàu cọng

Không có ” hợp tác ” cái mẹ rượt gì hết trơn!

Chỉ có giao nạp trọn Biển Đông và cả cảng sâu Đầm Môn, Bắc Vân Phong cho chệt hoàn thành Đặc Khu Biển Đông, bao gồm Huyện Tam Sa – chiến lũy biển Vân Đồn – và tiền đồn Phú Quốc.

Còn nói riêng về khai thác dầu hỏa thì chệt cọng có hàng tá giàn khoan kiểu Hải Dương 981 còn cu li việt cọng chỉ có cái cụ hồ thì lấy gì khoan?!

Cho nên đừng ngồi đó tò le về ” Cách mạng Nhung Tiệp Khắc ” mà hãy hô hào, cổ súy nhau, lăn xả vào hành động bằng mọi thế cách khả thi để cứu dân, cứu nước trước khi tàu cọng kéo cờ 6 sao lên Ba Đình, tuyên bố:  ” Tân Khu Tự Trị An nam “!

Nguyễn Nhơn

                ( Viêt cho Mùa Thu mong chờ Tân Cách Mạng Mùa Thu )

20/9/2018

Đã xem 4564 lần

Giới thiệu từ Quán văn

  • Sự nghiệp ca hát của ca sĩ Băng Tâm – Người học trò của nhạc sĩ Duy Khánh và Nhật Ngân
    Ca sĩ Băng Tâm chào đời tại Sài Gòn ngày 3 tháng 2 năm 1981 với tên thật là Trần Thị Băng Trinh, là ca sĩ tiêu biểu của dòng nhạc vàng thế hệ sau năm 2000 cho đến nay. Băng Tâm cho biết vào thập niên 1980, gia đình cô tìm đường ra nước ngoài nhiều lần nhưng không thành công. Phần vì nghèo túng, phần vì quá chán nản do thường xuyên phải thay đổi chỗ ở sau mỗi lần vượt biên bất thành nên cha mẹ Băng Tâm cũng chẳng tha thiết đến sinh hoạt của các con sau giờ học. Do đó ông bà để các con muốn sinh hoạt ra sao tùy ý. Lúc đó Băng Tâm lên 8 tuổi và tỏ ra rất thích múa nên đã xin bố mẹ được theo học bộ môn này… Tại Nhà Văn Hóa Quận Nhất ở Sài Gòn, trong thời gian mới bắt đầu học múa, Băng Tâm trong một dịp tình cờ, đã được thu nhận vào Đội Tuyển Múa Thành Phố để trở thành một trong 10 thành viên về ngành múa nghệ thuật. Thời gian sau đó, cô bé tên thật là Băng Trinh đã có dịp cùng các bạn nhi đồng trong đội múa của cô đi diễn ở nhiều nơi cũng như được xuất hiện trong những chương trình “Giờ Thiếu Nhi” trên đài truyền hình trước khi rời Việt Nam khi cô sắp sửa theo học lớp 8 khi được 13 tuổi.
    Băng Tâm cùng bố mẹ và anh chị được chấp thuận định cư tại Mỹ theo diện HO vào năm 1994. Đến khoảng năm 1998, khi trở thành một cô thiếu nữ 17, 18 nhiều mộng mơ, thì lòng đam mê ca nhạc của Băng Tâm cũng đã trưởng thành một cách mãnh liệt để luôn mơ tưởng trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp. Thời gian đó, Băng Tâm đã bước vào college, nhưng cô quyết định trốn học để ghi tên theo học lớp nhạc của nhạc sĩ Duy Khánh. Sau 2 năm hướng dẫn cho Băng Tâm, vì lý do sức khỏe Duy Khánh đã nhờ nhạc sĩ Nhật Ngân thay ông chỉ dẫn cho cô một rhời gian trước khi cô được thu nhận vào trung tâm Dạ Lan. Đúng ra, Băng Tâm có theo học college một thời gian, nhưng thường đổi ngành học, chẳng hạn từ ngành điều dưỡng qua ngành kế toán. Cùng một lúc, luôn bị phân tâm về vấn đề ca hát, nên sau khi được trung tâm Dạ Lan mời cộng tác, cô đã quyết định bỏ học luôn. Khi nghĩ đến quãng đường ngắn ngủi đã trải qua trên con đường bước đầu làm quen với âm nhạc, Băng Tâm luôn cho là mình gặp được nhiều may mắn. Cô đã thành danh một cách nhanh chóng so với nhiều người khác cần một thời gian dài hơn rất nhiều để tạo cho mình một tên tuổi được công chúng biết đến. Qua đôi lần xuất hiện trên video với trung tâm Dạ Lan, Băng Tâm được nhạc sĩ Trúc Hồ của trung tâm Asia để ý và mời cô tới gặp để tìm hiểu thêm về người nữ ca sĩ trẻ mà anh đã để ý đến chất giọng. Từ tháng 7 năm 2005. khi 24 tuổi, Băng Tâm chính thức đến với trung tâm Asia qua chương trình Asia 47 với chủ đề Mùa Hè Rực Rỡ 2. Dù tương đối đã quen với sân khấu, với ánh đèn, nhưng trong lần xuất hiện đó, Băng Tâm tuy vui mừng nhưng không tránh khỏi hồi hộp. Hơn nữa cô còn được giao cho phần trình bày một nhạc phẩm thuộc thể loại trước đó chưa từng hát bao giờ. Cô nói: “Con vui, con mừng, hồi hộp đủ thứ hết. Nhất là hồi hộp vì là lần đầu tiên được xuất hiện trong một chương trình lớn như vậy mà con phải hát một lọai nhạc từ trước đến giờ con chưa từng hát. Mà lại là nhạc mới của bác Anh Bằng nữa, là bài Truyện Kiều. Con phải múa may, phải bận đồ cải lương, tập quì lên quì xuống bầm cả 2 đầu gối. Nhưng con rất mừng vì được xuất hiện trên video“. Sau một tời gian đến với sinh hoạt ca nhạc hải ngoại với tính cách cách chuyên nghiệp, Băng Tâm đã thành thật bày tỏ những cảm nghĩ của mình. Thứ nhất, cô không ngờ mình trở thành ca sĩ một cách mau chóng như vậy. Thứ nhì, những lời đồn đại về tình trạng bị chèn ép hay bị đối xử không công bằng trong giới nghệ sĩ cô từng được nghe trước đó hoàn toàn không hề xảy ra với cô, ít nhất là cho tới bây giờ: “Lúc con chưa đi ca, con rất thích nghe cô Hương Lan hát. Như bài Điệu Buồn Phương Nam con nghe đến 5 giờ sáng chỉ có 1 bài thôi. Thì con tưởng tượng sau này được đi hát, được diễn như vậy đó. Và bây giờ thật sự con không ngờ mình cũng thành ca sĩ. Con muốn nói một điều nữa ở đây là trước khi con vô trung tâm, con thường nghe nói là hay bị đối xử không công bằng hay gặp những chèn ép… Nhưng con không ngờ là con rất may mắn, vì con được đối xử khác với những gì người ta nói ở ngoài”. Cũng do bản tình nhút nhát và luôn mang mặc cảm là cách nói chuyện của mình không được khéo nên mới đầu Băng Tâm thường hay bị hiểu lầm như cô tâm sự: “Hồi đầu, mới vô trung tâm, có thể ai cũng nghĩ là con lối, nên không chơi với ai. Thật ra là con sợ nên hay né! Con biết con còn nhỏ, nói chuyện không khéo, nên con né không à! Về sau các cô chú, anh chị biết được là con sợ chứ không phải chảnh gì nên cũng đỡ cho con. Con ở nhà không à!”. Băng Tâm cho biết thêm vì coi Hương Lan như thần tượng của mình, nên cô cũng nhận thấy có chịu đôi chút ảnh hưởng của giọng ca này. Nhưng sau đôi lần xuất hiện đầu tiên trên video, nhiều người đã đưa ra nhận xét là cô có những nét phảng phất Như Quỳnh. Từ ghi nhận đó, Băng Tâm đã cố gắng tìm cho mình một phong cách riêng để không bị coi là chịu ảnh hưởng của một ai. Về tên Băng Tâm của mình, cô ca sĩ có tên thật là Trần Thị Băng Trinh cho biết nguyên nhân cô đã chọn tên này vì “mình là ca sĩ mà để cho MC phát âm chữ TRINH thì thấy hơi khó. Thì vô tình mẹ con nói là hồi nhỏ con ngưỡng mộ chị ruột con là cô giáo bên Việt Nam tên là Băng Tâm nên con quyết định lấy tên này làm nghệ danh”. Trích đăng bài viết của cố nhà báo Trường Kỳ (viết năm 2007) [yourchannel user="CNN" search="Ca sĩ Băng Tâm"]

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.