Đường Ký Con là con đường đẹp giữa trung tâm thành phố Sàigòn và có nhiều khu dãy nhà của người Hoa. Con đường này từng có khu ăn chơi nổi tiếng tên Kim Chung. Khi tôi đến đây lần đầu năm 1978 để mua bán quần áo cũ thì người dân gọi, Khu Dân Sinh. Nhưng nhà nước thì gọi, Chợ Dân Sinh. Cho đến ngày hôm nay, năm 1991 khi tôi trở lại tôi vẫn nghe người dân gọi Khu Dân Sinh; cũng như vẫn gọi Sàigòn chứ không ai gọi tên kẻ tội đồ của dân tộc.

Nhà hàng Vy tọa lạc trên đường Ký Con cách đại lộ Trần Hưng Đạo khoảng hai ba chục thước, nên được  xem như là địa điểm… đắc địa. Tuy nhà hàng tọa lạc ở địa điểm thuận lợi nhưng nhà hàng lại không có vẻ sang trọng. Nhà hàng có hai tầng và bề ngang rộng khoảng năm thước. Cách sắp đặt bàn ghế và trang trí không có gì gọi là bắt mắt cả. Những cái bàn bằng cây hình chữ nhật và cao, khăn trải bàn màu xanh và hai bên tường có treo mấy cái đèn kiểu nhưng sáng quá nên chẳng có một chút nào gọi là lãng mạn nếu như đi ăn với người đẹp. Tôi biết nhà hàng này qua trang quảng cáo của tờ nhật báo phát hành trong nước, đại khái như “Nhà hàng chuyên bán các món ăn Việt Nam “đặc sản” nổi tiếng và chỗ ngồi thật hữu tình. Hiện có bốn người khách ngồi uống nước và trò chuyện chờ thức ăn.

Ông chủ nhà hàng còn trẻ và có dáng người cao lớn, cộng với bộ râu mép đẹp… trông như tài tử màn bạc. Nhìn ông tôi nhớ đến các tài tử đóng phim trong các sòng bài mà tôi đã xem qua nhiều cuốn phim. Qua anh Khương, tôi được biết thời gian gần đây ông đã trả lại thẻ đảng. Ông có “âm mưu” gì không mà trả lại thẻ đảng trong khi đảng của ông vẫn còn là đảng khủng bố và đang hy vọng được Mỹ bỏ cấm vận. Đảng phỉ là trùm mưu mô và gian xảo nên mọi hành động của các đảng viên tôi đều phải đặt dấu hỏi.

Lỡ hẹn anh Phước đến đây chứ không thì tôi đã đi nơi khác. “Tôi ngồi đây chờ một người bạn sẽ đến trong giây lát.” Tôi chỉ vào cái bàn ngoài cùng và nói với ông chủ nhà hàng khi ông ra tận cửa đón tôi. Nghe tôi nói chờ bạn nên ông đi trở lại vào sau quầy rượu. Một phút sau ông cầm một ly rượu mạnh đến mời tôi. Tôi gật đầu tỏ ý cám ơn chứ không lên tiếng. Bỗng ông hỏi: “Anh ở nước ngoài mới về?” Tôi thoáng giật mình, nhưng ông đã nói tiếp: “Người trong nước không ai mặc áo mà cài nút đến sát cổ… như anh, ngoại trừ có thắt cà vạt.” Ông chủ nhà hàng mỉm cười có vẻ đắc ý với câu nói nhận xét mà ông cho là tinh tế?  Tôi chỉ nhìn ông chứ không nói. Tôi nghĩ trong đầu: “Cha nội này biết mình ở nước ngoài về nên cũng muốn lam quen. Mình không nên trò chuyện nhiều. Chẳng có lợi gì cả mà chỉ có hại thêm thôi.Tất cả bọn phỉ chứ không chừa một ai, bản tính ti tiện nên sẽ “méc” một khi nghe mình hay người nào đó sơ ý chửi lãnh đạo và chửi chế độ.” Ông chủ nhà hàng Vy thấy tôi không mấy hứng thú chuyện trò nên ông nói trước khi ông đi đến ngồi sau quầy rượu. “Khi nào bạn anh đến thì mời anh và bạn anh lên lầu trên. Trên ấy có vườn hoa và rất mát.”

Một người đàn ông “mập và không cao lắm” đến bằng xe Honda hai bánh. Anh nhìn tôi và tôi nhìn anh là cả hai nhận ra ngay người mình đang chờ và người mình sẽ gặp. Chúng tôi bắt tay nhau rồi cùng đi theo sau một người phục vụ trẻ hướng dẫn đi lên lầu. Chúng tôi chọn cái bàn đặt ngoài cùng và trong góc. Sân vườn đẹp và khung cảnh thật hữu tình rất đúng ý của tôi để tiếp người mới quen và có chức vị. Bà chủ nhà hàng Vy còn trẻ và tuyệt đẹp. Bà có tướng sang trọng của mệnh phụ phu nhân. Bà đến bàn của chúng tôi và nở nụ cười chào thật tươi. “Chị… cho những món nào mà chị thấy cần phải giới thiệu vì tôi mới đến lần đầu.” Tôi gọi chị thay vì bà và cũng không nói chúng tôi vì tôi không biết anh Phước đã đến đây lần nào chưa. “Em dọn trước cho hai anh món gỏi đặc biệt chỉ nhà hàng em mới có, để hai uống… Hai anh uống gì?” Tôi để anh Phước chọn nên tôi nhìn anh. “Bia đi.” Anh Phước nói như vậy với chị chủ nhà hàng. Chị mỉm cười thật tươi rồi quay lưng đi vào trong sau khi dạ nhẹ một tiếng.

Còn lại hai người, tôi bắt đầu kể… Từ hôm tôi bị theo dõi từ khách sạn đến bệnh viện Bình Dân và cho đến tận hôm nay. Vừa nói vừa ăn vừa quan sát người đối diện, tôi hoàn toàn hài lòng. Anh Huỳnh Sơn Phước là sinh viên miền Nam, nhưng, cũng như bao thanh niên miền Nam… khù khờ và háo danh háo thắng nên bị bọn cộng phỉ lừa gạt. Vợ của anh Phước cũng vì nhìn thấy cái thiên đường bánh vẽ vẽ thì đẹp nhưng chỉ để nhìn thôi nên chị sợ đói vì vậy chị đã chia tay anh và vượt biển. Nhìn anh Phước, tôi nhớ đến hình ảnh của những kẻ ăn cơm quốc gia nhưng lại phá quốc gia đến tan tành để rước ma cộng sản vào… được đăng trên các tờ nhật báo lớn phát hành trước ngày 30 tháng tư.  Những hình ảnh của Huỳnh Tấn Mẫm, của Lý Quí Chung, của Kiều Mộng Thu, của Dương Quỳnh Hoa… là những hình ảnh và tên tuổi tiêu biểu trong rất nhiều cái tên cho sự việc đó. Khi chiếm được miền Nam, bọn cộng phỉ đã nói một câu mà tôi nghĩ đó là câu đểu cáng đầy vẻ mỉa mai dành cho một số người mà bọn phỉ sẽ loại trừ ra khỏi guồng máy thống trị: “Nhờ cách mạng thành công mà tôi đã được sáng mắt sáng lòng.” Đây là câu nói rõ ràng ám chỉ cho đám người của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và thành phần thứ ba; cũng như những người thích cộng sản. Người dân thì hầu hết đều đã sáng mắt từ lâu rồi, nhất là trong trận tổng tấn công Tết Mậu Thân mà bọn cộng phỉ được mấy tên thích cộng sản như anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan lập tòa án và hướng dẫn bọn phỉ giết chết hơn năm ngàn đồng bào vô tội tại Huế. Những lần pháo kích bừa bãi vào khu đông dân cư đã gây ra bao thảm họa; cũng như thủ tiêu người để đe dọa. Lòng dân rất sáng nên bọn cộng phỉ kéo đến đâu là đồng bào liền bỏ chạy về nơi có lính quốc gia nên không bao giờ bọn chúng có dân, ngoại trừ những nơi mà đồng bào chạy không kịp. Bọn Mặt Trận bọn phản chiến và bọn thân cộng mới là những người tối mắt tối lòng nên cố tình không muốn nghe không muốn thấy mà nuôi hy vọng vững lòng tin vào ngày cách mạng thành công sẽ được chia xẻ quyền hành. Và, bây giờ đã “sáng mắt sáng lòng” rồi nên tất cả đều ngậm miệng và cúi đầu chịu nhục chứ đố “thằng nào con nào” dám hó hé đưa cái mặt ra để đòi hỏi điều này yêu sách điều nọ. Chỉ có những người đui mù mới không nhìn thấy những trò trả thù man rợ của bọn phỉ mang danh “cách mạng” đối với đồng bào miền Nam. Một số ít vài tên là vẫn còn chịu nhục chịu đấm ăn xôi để được làm “đại biểu quốc hội” như tên Mẫm và, làm nghề viết tin thể thao kiếm sống như tên Dân biểu, Bộ trưởng Bộ Thông Tin Lý Quí Chung. Chung nhờ cơ hội may mắn gặp được Bộ Trưởng Võ Long Triều giúp đỡ nên mới có cơ hội quậy phá miền Nam.

Anh Huỳnh Sơn Phước chỉ nghe tôi nói chứ anh không nói. Tuy nhiên, có một lúc anh đã thố lộ tâm tư của anh mà tôi cho như là một sự hối hận đã lầm lỡ tin vào lời bọn phỉ. Anh nói: “Không ngờ đất nước mình bây giờ nghèo quá. Nghèo gần như là nhất thế giới. Tôi mong Mỹ mau mau bỏ cấm vận thì Mỹ sẽ trở lại và đất nước mình sẽ… như xưa.”

Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Cuộc sống nào dù giàu sang hay hèn hạ rồi cũng phải đến ngày tan. Buổi gặp gỡ nào rồi cũng phải chia tay. Chúng tôi phải chia tay nhau thôi vì đã gần mười một giờ khuya rồi. Đến lúc này anh Huỳnh Sơn Phước mới lên tiếng về cách thức mà anh nghĩ là hay nhất để giúp tôi. Anh nói: “Tôi thật sự rất bất ngờ khi nghe chuyện của anh. Chưa bao giờ tôi nghĩ sẽ có chuyện như vậy xảy ra. Tòa báo có một vị luật sư chuyên lo về pháp luật mà phe cánh của vị này rất mạnh. Việc hối lộ bây giờ là công khai nên anh đừng ngại khi phải nhờ một ai đó giúp cho chuyện gì. Vị luật sư đó tên là Đào Hoàng Mỹ. Bà là vợ của ông Trương Như Tảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam… đã bỏ trốn qua Pháp. Sáng ngày mai tôi sẽ liên lạc với bà Mỹ. Nếu bà ấy đồng ý nhận giải quyết cho anh thì tôi sẽ phôn lại khách sạn báo cho anh biết.”

Anh Phước và tôi là hai người khách sau cùng ra về. Khách đêm nay đông đến không còn bàn trống. Tôi bắt tay chào từ biệt ông bà chủ và khen món ăn rất ngon. Đặc biệt là món gỏi… lạ và ngon quá, và, món tôm nhúng trong trái dừa và cuốn với bánh tráng chấm với nước  mắm nêm. Có một loại rau thơm mà hôm nay là lần đầu tiên tôi được ăn, đó là rau cần nước.

“Hôm nào anh muốn ăn thịt bò bít tết thì cho tôi biết trước khoảng ba tiếng tôi sẽ trổ tài… chỉ đặc biệt với anh thôi. Bảo đảm ngon hơn của Tây nhiều.” Ông chủ nhà hàng Vy nói với vẻ rất tự tin. Tôi hứa sẽ trở lại và sẽ gọi phôn trước cho ông để đặt món thịt bò.

Tôi rất thích đi chơi đêm vì mát và nhiều trò vui. Nhưng, đi chơi đêm trong thành phố do bọn phỉ kiểm soát tôi cảm thấy không yên tâm. Những người đang đi qua lại trên đường phố… nào ai biết được họ thuộc thành phần nào. Cướp?  Du đãng? An ninh giả dạng? Nhà cầm quyền này hãnh diện tuyên bố, thành phố không có các nhóm phản động nào có thể hoạt động được. Họ mạnh mẽ tuyên bố như vậy chỉ vì họ nuôi dưỡng thành phần phục vụ chế độ nhiều bằng một phần tám số dân. Tôi nghĩ bọn phỉ ở Phòng phản gián làm gì lại không cho người theo tôi nên tôi phải đi về khách sạn thôi.  Ngồi trên xe về khách sạn tôi nghĩ đến anh Phước. Ngày trước có lẽ anh cũng ngoác cái mồm ra chửi chính quyền và đòi Mỹ phải cút khỏi Việt Nam. Bây giờ anh cầu mong Mỹ mau mau bỏ cấm vận và trở lại để cứu nguy. Tôi cũng vừa nhớ đến Trương Như Tảng. Tảng là một trong những người của Mặt Trận Giải Phóng đã được cộng sản Bắc Việt cho “sáng mắt sáng lòng” nên căm hận mà phải câm miệng rồi tìm đường thoát thân. Nếu việc làm đó là của chính quyền miền Nam thì Tảng và đồng bọn cũng sẽ ngoác cái mõm ra như mõm con chó để sủa ầm lên là: Bọn tay sai của Mỹ đã xí gạt tôi. Tôi thề sẽ… biểu tình dài dài…

Tội nghiệp anh Khương chủ khách sạn. Anh ngồi uống bia chờ tôi về nên khi nhìn thấy tôi anh liền đi nhanh ra cổng. Anh hỏi nhỏ: “Có vui không?” – “Vui. Vui lắm anh.” Rồi tôi thuật lại cho anh nghe và anh cũng vui chung với niềm vui của tôi. Anh muốn mời tôi uống bia để gọi là mừng cho tôi. Và, hai anh em ngồi uống bia nói chuyện đến hơn hai giờ sáng. Tôi say quá nên anh Khương rời phòng lúc nào tôi không hay biết.

25/4/1991.

Trời Sàigòn tháng tư nóng quá. Nóng đến độ tôi có cảm tưởng như mình đang đứng gần cái lò lửa. Nóng quá đã làm cho tôi nhớ đến phòng tạm giam. Nếu giờ này mà còn ở trong đó thì quả là một hình phạt khủng khiếp. Tội nghiệp cho những người vì công việc chung mà phải bị giam cầm và chịu biết bao cực hình.

Chiều hôm nay tôi sẽ được đối diện với bà Luật sư Đào Hoàng Mỹ tại số nhà 15 đường Võ Thị Sáu, tức đường Hiền Vương thân yêu ngày trước. Hôm qua anh Phước gọi điện thoại lại khách sạn báo cho tôi biết là bà Luật sư đồng ý tiếp tôi vào lúc ba giờ chiều nay.

Bà luật sư vào khoảng bốn mươi tuổi và là người có tướng sang trọng. Tôi chắc chắn khi còn trẻ bà phải là hoa khôi của ngôi trường nào mà bà đang theo học. Bà có một điểm giống tôi, hay ngược lại, là, khi nói chuyện luôn nhìn ngay mắt người đối điện và gần như không chớp mắt. Tôi thuật lại mọi chuyện, đồng thời tôi cũng đưa cho bà xem các chứng từ. Bà nói: “Ngày mai ba giờ chiều anh đến đây gặp tôi. Sáng ngày mai tôi sẽ đi xem hồ sơ của anh và khi gặp lại anh tôi sẽ nói cho anh biết anh tốn bao nhiều tiền và khi nào anh nhận lại giấy tờ.” Có một người đàn ông khá trọng tuổi và ăn mặc kiểu cán bộ giắt chiếc vespa từ ngoài cổng đi vào. Tôi đoán ông là người chồng sau của bà Mỹ. Tôi đứng lên chào ông, và chào bà Mỹ để ra về. Bà Mỹ đưa tay bắt tay tôi. “Anh yên tâm. Gặp tôi rồi thì mọi chuyện sẽ được tôi lo chu đáo và rất nhanh. Hẹn gặp anh chiều ngày mai nhé.”

Trên các con đường trong thành phố, nhà cầm quyền đã cho treo các banner với những khẩu hiệu tuyên truyền cũng như ca ngợi ngày “đại thắng mùa xuân” năm 1975. Chiến tranh đã kết thúc trong sầu thảm nên, mười sáu năm qua quê hương miền Nam thân yêu đã phải sống trong đau thương và nghèo đói. Ba mươi tháng tư năm nay bọn phỉ đang hy vọng, bọn phỉ tin tưởng người Mỹ sẽ trở lại sau khi bỏ cấm vận. Chính bọn phỉ khi chiếm được miền Nam không lâu thì cũng “sáng mắt sáng lòng” vì đã lỡ dại đuổi Mỹ để rồi bây giờ phải khấu đầu quỳ gối lạy lục xin người Mỹ trở lại. Những ngày này của mười sáu năm trước tôi cũng sống trong hồi hộp và lo âu để rồi cuối cùng thì phải chấp nhận cuộc sống nhiễu nhương dưới sự cai trị của bọn phỉ. Tôi nhớ đến ông Giám đốc Đỗ Ngọc Long và Linh mục Lương Tấn Hoàng. Tôi xa hai người “chủ” đầu tiên khi tôi mới bước chân vào đời… cho đến nay đã mười sáu năm không gặp lại. Tôi biết Cha Hoàng đang ở Pháp, và, do một sự tình cờ tôi có được địa chỉ của Cha. Tôi viết thư thăm Cha và kể rõ chuyện tên Bí thư quận 7 đưa hình của Cha cho tôi xem khi Cha đứng nói chuyện với ông Đại sứ Mỹ. Và, tên Bí thư kết tội Cha là CIA. Có lẽ tôi đã sai lầm khi kể chuyện đó với Cha nên Cha đã không hồi âm thư cho tôi.

Tôi ghét khi nhìn thấy người đàn ông khóc. Nhưng, hoàn cảnh hiện tại của tôi cũng hồi hộp cũng âu lo như mười sáu năm trước trong nỗi cô đơn khi chung quanh mình toàn kẻ thù mà mình đã trốn chạy… làm tôi đau đớn như đứt từng khúc ruột, làm tôi xúc động đến nước mắt muốn chảy ra nhưng tôi phải cố kềm lại. Một người phụ nữ trẻ và có nét mặt thật buồn bã ngồi bên gánh khoai lang khoai mì còn đầy ắp làm cho tôi nhớ đến người phụ nữ năm xưa. Người phụ nữ năm xưa còn trẻ đẹp và là vợ của người sĩ quan miền Nam bị dụ đi trình diện rồi bị đưa đi trại tập trung cải tạo. Tôi gặp chị ôm mấy quyển sách về khoa học và cứ đi tới đi lui hoài vì không ai mua. Mấy quyển sách quý này vào thời đó người ta chỉ dùng vào việc gói đồ hoặc vào việc đi vệ sinh. Tôi đã mua mấy quyển sách đó và trả tiền rất cao, như là cách để giúp chị. Làm sao tôi có thể quên được gương mặt thật xúc động của chị khi chị cầm số tiền tôi đưa.

Tôi đi đến hàng khoai lang khoai mì của người phụ nữ có gương mặt đẹp và buồn bã. Tôi không thể ăn khoai lang khoai mì trong cái thời tiết oi ả nóng nực của tháng tư. Nhưng, tôi mua thật nhiều khoai lang và khoai mì để rồi sau đó tôi đã tặng lại anh xích lô chở tôi. Cả buổi chiều và tối ngày hôm nay tôi vui lắm. Một việc nhỏ bé và tầm thường nhưng tôi đã làm cho ít ra là hai người được vui… trong giây lát.

26/4/1991.

Cũng như chiều ngày hôm qua, chiều nay khi tôi bấm chuông cửa thì chị Mỹ liền quay đầu lại nhìn lên cái đồng hồ treo trên tường, bên lối đi lên lầu. Khi tôi được người phụ nữ giúp việc nhà cho chị Mỹ mời vào phòng khách thì chị Mỹ liền đứng lên và đưa tay ra cho tôi bắt. Chị đã sẵn sàng từ trước để đón tôi. Chị nói: “Thật là tuyệt vời! Anh là người khách đầu tiên rất đúng giờ. Người ở đây đến trễ khoảng nửa tiếng là chuyện bình thường anh à. Thật tuyệt vời khi làm việc với người khách như anh.” Chị đợi tôi ngồi xuống ghế rồi chị mới nói tiếp: “Tôi đã xem qua hồ sơ của anh rồi. Nếu anh không gặp tôi thì số tiền vàng mà anh đóng cho bên Phòng điều tra có thể cũng sẽ bị tiêu tán hết mà chưa biết ngày nào họ mới giải quyết cho anh. Bây giờ đã có tôi tham gia vào thì chỉ trong một vài ngày là xong.” Chị nhìn ngay mắt tôi như muốn đón chờ một sự hài lòng biểu lộ trên gương mặt tôi. Nhưng tôi vì đang lo lắng về số tiền mà tôi sẽ phải chi ra không biết sẽ là bao nhiêu nên tôi chỉ mỉm cười nhẹ để cho chị vui. Chị nói tiếp: “Số tiền thù lao của tôi là ba cây. Tôi cần nói để anh rõ là, tôi rất thông cảm cho anh nên trong số ba cây đó thì phần của tôi chẳng là bao nhiêu đâu. Phải chi anh gặp tôi trước thì anh không bị tốn nhiều như vậy.” Cái đầu của tôi bây giờ mới thật là nhẹ nhỏm. Ba cây vàng là số mà tôi không hề nghĩ đến. Tôi nghĩ ít ra thì cũng phải từ bảy cây trở lên. “Chị muốn khi nào tôi đưa tiền?” – “Tôi nghĩ… ba ngày nữa, tức ngày 29 tháng tư  thì Viện kiểm sát sẽ ký quyết định đình chỉ điều tra và ngày hôm sau anh cầm tiền đến đây rồi anh và  tôi có thể đến đó nhận quyết định. Sau đó anh và tôi sẽ đi qua Phòng điều tra để nhận lại passport.” – “Nghĩa là… không bị kẹt ngày nghỉ lễ?” – “Không! Không kẹt gì cả.”

Người giúp việc của chị Mỹ đem cho tôi chai nước ngọt và ly đá. Tôi định từ chối để ra về thì chị Mỹ nói: “Anh uống miếng nước cho mát đã.” Tôi miễn cưỡng ngồi lại cho chị vui. Cũng nhờ ngồi lại mà chị và tôi đã có những thông cảm về nhau. Chị cứ tưởng tôi từng là lính “Ngụy”. Tôi nói tôi được hoãn đi lính vì tôi muốn trở thành tu sĩ. Cũng vì nói chuyện về tôn giáo nên tôi mới được biết chị từng là “con cưng” của Cha Lương Tấn Hoàng từ những ngày chị còn học ở bậc trung học. “Anh Tảng bỏ đi rồi tôi cũng gặp nhiều rắc rối lắm. Tôi bị giam lỏng mất năm năm cho đến khi tôi gặp… ông bây giờ.” Chị chỉ vào chiếc xe gắn máy mới toanh dựng sát vách tường rồi nói tiếp: “Xe của anh Tảng mới gởi về cho tôi đấy.” Anh Tảng – anh Trương Như Tảng của chị cùng đồng bọn trong cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã thật sự được “sáng mắt sáng lòng” nên phải chọn cảnh sống lưu vong chứ làm sao anh có dũng khí để chống lại hoặc tự xử. Anh Tảng có biết không, bà vợ xinh đẹp của anh đã có tên cán bộ của cái đảng đã cho anh được “sáng mắt sáng lòng” để anh thấy đường mà chạy như đồng bào mà anh từng chống lại; đêm đêm tên cán bộ đó vẫn ôm ấp người mà anh thương yêu và gởi xe về? Tôi cảm thấy đau cho anh lắm nên tôi nghĩ: Nếu đã hoạt động chính trị nhưng sai lầm để cho nhiều triệu triệu đồng bào phải đau khổ thì, phải có dũng khí để tự xử chứ đừng cố sống chỉ thêm nhục nhã mà thôi. Tôi chỉ khinh Dương Văn Minh khi ông ấy cầm lá phiếu đi bầu đưa lên trước các ống kính và tỏ ra “hồ hởi phấn khởi.” Trái lại tôi luôn kính trọng ông Tổng Thống Trần Văn Hương khi ông thẳng thừng từ chối làm người công dân của bọn phỉ. Khi phách của người làm lãnh đạo cần phải có chứ đừng sống như con chó hoang để đêm đêm nhìn trăng rồi sủa ầm lên… để bị người đời khinh khi thêm.

Có ai trong đời sống mà không, hay ít nhất có một lần phải mang ơn người nào đó. Trong tình cảnh của tôi, tôi không thể quên anh Phó Tổng biên tập Huỳnh Sơn Phước. Anh chính là người tôi đã mang ơn. Ra khỏi nhà chị Mỹ, tôi ngồi xe đến chợ Tân Định và vào một tiệm bán tạp hóa xin gọi phôn cho anh để mời anh tối nay gặp lại nhau tại nhà hàng Vy. Anh Phước vui lắm. Anh vui cùng niềm vui của tôi và mong gặp lại tôi để nghe kể chi tiết. Tôi cũng phôn lại nhà hàng Vy gặp ông chủ và đặt hai phần thịt bò bít tết với khoai tây chiên; cùng món gỏi đặc biệt của nhà hàng.

30/4/1991.

Tám giờ rưỡi sáng tôi có mặt tại nhà chị Mỹ. Cũng ngày này mười sáu năm về trước tôi ngồi uống café ở nhà ông Giám đốc Đỗ Ngọc Long. Và, khoảng hai tiếng đồng hồ nữa thì chúng tôi bàng hoàng khi nghe ông Tổng Thống cơ hội Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh quốc gia.

Chị Mỹ mặc áo đầm trông thật xinh và thật giống… bà đầm. Tuy chị “có da có thịt” nhưng không sồ sề mà rất gọn ghẽ. “Chị Mỹ đẹp quá.” Tôi khen chị thật lòng khi chị đẩy chiếc xe gắn máy mà anh Tảng gởi về cho chị, ra cổng.

Chị Mỹ chở tôi chạy trên con đường Duy Tân có cây dài bóng mát. Tôi nhìn hai hàng cây cao chạy dài hun hút về phía trước và tưởng tượng cảnh sống của giới trẻ miền Nam ngày trước thật lãng mạn như trong bài ca của ông nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi tưởng tượng là vì tôi không có cái diễm phúc được sống qua quãng thời gian đó ở thành phố Sàigòn trong lúc tuổi đang xuân. Hôm qua sau khi tôi phôn hẹn anh Phước, tôi đi bộ từ Tân Định đến Phú Nhuận vì quãng đường đó có gió mát. Tình cờ tôi nhìn thấy lại rạp xi-nê Văn Cầm gần chợ Phú Nhuận. Đứng nhìn cái rạp hát bây giờ phải đóng cửa im ỉm mà lòng tôi vô cùng xót xa. Đây là rạp hát tôi được mẹ cho đi xem phim lần đầu khi tôi mới lên năm tuổi. Thuở ấy nhà của ba mẹ tôi gần phía sau rạp Văn Cầm. Ngôi trường tiểu học Võ Tánh nằm bên cạnh “nhà làng” Phú Nhuận là ngôi trường tôi học năm đầu tiên trong đời. “Nhà làng” Phú Nhuận bề ngoài thì vẫn như xưa.

Tại “nhà làng” này ba tôi từng đến mỗi tối để dạy lớp “Bình dân học vụ” cho những người lớn tuổi trong chương trình “xóa nạn mù chữ” do Tổng Thống Ngô Đình Diệm phát động. Có lần “nhà làng” tổ chức cho những thiếu nhi từ năm tuổi lên đến mười một tuổi đi rước đèn đêm Trung Thu. Đèn Trung thu thì được chính phủ phát. Sau khi nhận đèn xong thì các thiếu nhi xếp hàng năm và đi rước đèn qua các con đường trong xã Phú Nhuận. Hồi đó đường vắng tanh nên chúng tôi đi giữa đường theo người hướng dẫn và vừa đi vừa hát. Hát bài gì thì dĩ nhiên tôi không còn nhớ. Tôi chỉ nhớ rõ đêm đó trời mưa lớn lắm nhưng chúng tôi vẫn vừa đi vừa hát rất vui mà không hề thấy lạnh. Rước đèn xong, “nhà làng” phát cho mỗi đứa nửa cái bánh Trung Thu ruột đen sì. Mẹ tôi nói đó là nhân đậu đen ăn ngon và bổ lắm. Nghĩ lại thời thơ ấu của tôi sao đẹp và thơ mộng quá. Bây giờ các em nhi đồng trong nước làm gì được nhà nước này phát đèn phát bánh. Bánh thì có nhưng là… bánh vẻ thôi. Tôi nhớ chắc chắn là tôi đã đọc trên tờ báo Tin Sáng lời của tên Tổng Bí thư… ếch ngồi đáy giếng Lê Duẫn khi hắn tuyên bố:” Đất nước của chúng ta vừa trải qua cuộc chiến tranh do Mỹ Ngụy gây ra nên còn nhiều khó khăn. Tôi kêu gọi tất cả hãy cùng nhau phấn đấu vì chỉ trong hai ba cái kế hoạch năm năm thôi là đất nước của chúng ta sẽ tiến bằng, hoặc hơn nước Nhật.”  Không có cái … bánh vẻ nào lớn và ngon bằng của tên bẻ ghi xe lửa được làm cha thiên hạ.

Một thời gian sau gia đình tôi phải từ biệt thành phố thân yêu Sàigòn và từ biệt xã Phú Nhuận để đến thành phố Pleiku vì ba tôi phải đến đó làm việc, và rồi bị Việt cộng giết. Những kỷ niệm bùi ngùi đã theo tôi mỗi năm vào mỗi mùa xuân về khi nhớ lại mùa xuân năm đầu tiên ỏ thành phố cao nguyên đó, tôi đã được nghe tiếng ông Tổng Thống Ngô Đình Diệm chúc Tết đồng bào hai miền Nam Bắc. Sau lời chúc Tết là đến chương trình Tao Đàn. Và, tôi đã chìm vào giấc ngủ ngon. Tôi không ngờ những kỷ niệm đó cứ theo tôi cho đến tận ngày hôm nay.

Chị Mỹ giảm tốc độ làm tôi trở về với hiện tại để kịp nhận ra chỗ đến là Viện kiểm sát thành phố mà hôm nào tôi đã đến và chứng kiến tấm màn màu đỏ bay phất phới mà không thấy gió.

Tôi đứng giữ xe để chị Mỹ đi vào Viện. Khoảng 9h20 Chị Mỹ từ trong phòng làm việc của Viện đi ra. Tôi nhìn chị nhưng không thể đoán biết được vì chị có vẻ mặt bình thản quá. “Xong rồi. Đây là Quyết định đình chỉ điều tra bị can. Bây giờ anh và tôi qua bên Phòng điều tra lấy passport.” Tôi nghe chị nói rõ… năm trên năm, vậy mà tôi vẫn nghi ngờ nên phải hỏi lại và chị đã xác nhận chuyện của tôi đã được giải quyết xong. Ôi! Chị là người đàn bà tuyệt vời! Chị là đóa sen thơm giữa đám bùn đen và thúi hoắc. Tôi sẽ không bao giờ quên chị.

9h45 Chị Mỹ và tôi có mặt tại Phòng điều tra. Người tiếp chị và tôi là Phạm Cang. Chị nói đồng thời chỉ tay qua tôi: “Chúng tôi đến lấy passport của anh này.” Chị đưa cho Phạm Cang xem tờ “Quyết định đình chỉ điều tra bị can.” Phạm Cang tỏ ra nể sợ chị Mỹ. Chị Mỹ có nói với tôi: “Anh mà gặp tôi trước thì mấy tên ở Phòng điều tra không dám kéo dài để làm tiền anh. Hầu như tuần nào tôi cũng đi ăn với Giám đốc công an thành phố.” Đúng mười giờ tám phút, Phạm Cang cầm passport và một tờ giấy đến yêu cầu tôi ký tên nhận giấy tờ. Nhìn thấy quyển sổ passport mà lòng mừng quá đỗi. Tội nghiệp cái passport của tôi quá, vì tôi mà nó cũng bị giam ở đây mất mấy tháng.

Mai Quốc Anh bỗng xuất hiện từ lối đi vào phòng giam. Có lẽ hắn mới hỏi cung người tù xong và đưa trả về phòng tạm giam. Dù hôm nay không phải tôi đến đây để bị tạm giam. Nhưng cảm giác mất tự do làm tôi không thích đứng ở đây lâu. Dù sao tôi cũng đã từng có mấy ngày bị tạm giam tại đây. Tôi nghĩ đến những người bị tạm giam trong mấy phòng đó với thời tiết của buổi trưa cuối tháng tư nóng như thiêu như đốt mà tội nghiệp cho họ. Một chút nữa thôi là tôi sẽ rời khỏi nơi đây, nhưng những người đó thì vẫn phải ở lại. Họ đã phạm những tội gì? Ăn cướp hay giết người? Có người nào can tội phục quốc không? Tôi chợt nhớ hôm nay là ngày Quốc Hận. Ngày 30 tháng tư năm 1991. Ngày này mười sáu năm trước tôi đã cùng đồng bào miền Nam không may mắn phải chứng kiến biết bao kinh hoàng biết bao đau thương và biết bao tang tóc. Trong hằng triệu triệu đồng bào miền Nam đau khổ thì, chắc chắn tôi không phải là người đau khổ nhất. Tôi đã cố gắng sống cho đúng là con người để cảm ơn Thượng Đế đã cho tôi tình thương và sự che chở.

Mai Quốc Anh kéo tôi trở về với thực tại khi hắn nói: “Anh vào trong này một phút vì lãnh đạo muốn gặp anh.” Phạm Cang tỏ vẻ ngạc nhiên. Tôi nhìn chị Mỹ nhưng thấy chị không có phản ứng nên tôi đi theo Mai Quốc Anh. Vào trong một phòng trống – phòng hỏi cung – Mai Quốc Anh nói: “Lãnh đạo biết anh hôm nay đến nhận giấy tờ nên… anh bồi dưỡng cho chúng tôi ba cây. Tối nay khoảng bảy giờ tôi ngồi đợi anh ở quán café cũ… nhé.” Tôi quyết định thật nhanh nên khẽ gật đầu rồi lặng lẽ đi trở ra với chị Mỹ. Mai Quốc Anh cố nhắc lại: “Bảy giờ tối nay, anh nhớ nhé.”

Tôi bắt tay cám ơn và từ giã chị Mỹ ngay khi ra khỏi cổng cơ quan điều tra. Tôi đón xe đi thẳng đến văn phòng đại diện của hãng hàng không đặt tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Trước đây mấy tháng hãng hàng không này đặt văn phòng trong khách sạn nổi năm sao của Úc tại Bến Bạch Đằng.

Tôi hít một hơi dài cho không khí vào đầy buồng phổi. Buổi chiều cuối tháng tư năm 1991, phi trường Tân Sơn Nhứt vắng hoe, mọi vật trông buồn bã… hay tại tôi đang buồn bã. Tôi muốn thoát khỏi nơi đây cũng giống như người ta cố thoát khỏi nơi đây vào ngày này năm xưa. Văn phòng đại diện hãng hàng không trang trí như ở bên Tây làm tôi có cảm tưởng mình là người Tự Do chứ không phải là người đang tìm đường trốn chạy. Tôi đưa tất cả giấy tờ cho cô nhân viên để cô vào trình lại viên đại diện.Tôi không biết chuyến bay còn chỗ trống không. Và, nếu như không được chấp thuận thì tôi mua vé vì cũng chẳng là bao so với những thiệt hại vừa qua, miễn là còn chỗ. Tôi hồi hộp quá nên chỉ đứng lặng thinh nhìn quanh khắp gian phòng. Mai Quốc Anh không biết chị Mỹ nên muốn làm tiền tôi lần cuối mà tôi thì có kế hoạch rời khỏi Việt Nam hôm nay nên tôi không nói cho chị Mỹ biết. Bỗng cánh cửa phòng mở ra và viên đại diện hãng hàng không xuất hiện nhìn tôi và gật đầu chào. Ông đã thông cảm nên chấp thuận cấp cho tôi một chỗ trong chuyến bay vào khuya nay. Chuyến bay sẽ khỏi hành lúc mười giờ tối và sẽ quá cảnh ở Bangkok. Trong khi cô thư ký đang làm thủ tục thì có người điện thoại đến. Tôi nghe cô nói: “Xin lỗi anh, hãng của chúng tôi không được phép tiết lộ tên của khách hàng.” Trả lời xong, cô lại cúi đầu xuống và tiếp tục làm việc. Thấy vậy tôi hỏi: “Có phải họ tìm tôi không?” Cô thư ký không nhìn tôi nhưng gật đầu xác nhận. Tôi liền nghĩ ngay đến “thằng ranh con Mai Quốc Anh”. Chắc chắn tên này rồi sẽ bị các tên lãnh đạo của nó trừng phạt vì tội ăn chận tiền của lãnh đạo.

Hai mươi hai giờ hai mươi tám phút tối ngày 30 tháng tư năm1991 tôi rời khỏi Sàigòn. Nhìn xuống thành phố thân yêu còn quá nghèo vì không có nhiều ánh sáng. Tôi nghĩ tôi sẽ lại đổi tên, nhưng, lần này tôi sẽ đổi luôn họ. Tôi sẽ từ biệt quê hương thân yêu khi nào vẫn còn bọn phỉ cai trị và sẽ không bao giờ trở về đây nữa. Bọn cộng phỉ vĩnh viễn là kẻ thù của tôi. Tôi cố nhắm mắt lại để ngủ một chút nhưng bốn gương mặt thân thương của những người biết chuyện và đã giúp đỡ tôi cứ hiển hiện ra trước mặt. Vậy mà vào giờ phút chia tay tôi lại không có một lời nào với cả bốn người. Ôi! buồn làm sao. Buồn tràn đầy trái tim làm cho mắt tôi cay xè. Anh Chị Khương thường ngày vẫn ở nhà, thế mà hôm nay cả anh và chị lại đi Lái Thiêu nên khi tôi trở về lấy va-ly thì không gặp được anh chị. Cũng may là tôi luôn gởi tiền trước rồi trừ lại sau nên tiền phòng tiền ăn cũng còn dư chút ít chứ không bị thiếu. Chị Đào Hoàng Mỹ và Anh Huỳnh Sơn Phước, tôi sẽ viết thư cho mỗi người khi tôi về đến nhà.

Vĩnh biệt bốn người mà tôi chỉ gặp trong thời gian ngắn nhưng đã để lại trong tim tôi biết bao hình ảnh đẹp và những điều khó quên.

ToPa (Hòa Lan)

Topa - Quyển Nhật Ký Của Tắc-Kè