18/3/1999

Tôi đang ngồi làm việc trong văn phòng thì chuông điện thoại vang lên. Tôi nhìn đồng hồ: Sáu giờ thiếu mười hai phút chiều. Thường thì vào giờ này, ngày này, mấy người bạn phôn đến để hẹn trước, chiều ngày mai sẽ đi ăn ở đâu, nhà ai, hoặc rủ đi đâu đó cho hết buổi tối thứ sáu. Nếu không phôn trước thì thường khó gặp nhau như đã từng xảy ra nhiều lần qua. Ngày thứ bảy tôi ít khi ra khỏi nhà, nhưng, nếu có đi thì cũng không đi khuya vì ngày Chúa Nhật tôi phải đi lễ.

Tôi cầm phôn lên. “Alô…” Tôi chỉ mới alô thì từ đầu giây bên kia một giọng nói tiếng Việt của người miền Bắc khẽ  hỏi: “Xin lỗi cho tôi gặp anh Ton?” – “Tôi đây, xin lỗi tôi đang nói chuyện với ai?” – “Thưa anh tôi tên Trường, là nhân viên Tòa Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan. Tôi phôn đến anh để mời anh cuối tuần này hay cuối tuần sau ghé qua Tòa Đại sứ uống ly rượu nhân dịp ông Đại sứ mới đến đây nhận nhiệm vụ.” Tôi ngẫm nghĩ thật nhanh xem đây có phải là trò chọc ghẹo của mấy người bạn không. Bạn của tôi thuộc đủ mọi thành phần, nhưng hầu như tất cả đều thích nói vui để chọc ghẹo nhau và không bao giờ giận nhau; tuy đôi lúc rất bực mình. Có lẽ người ở đầu giây bên kia thấy tôi im lặng lâu nên alô alô hai tiếng vì vậy tôi phải trả lời: “Trước hết tôi cám ơn lời mời của sứ quán. Xin anh vui lòng cho tôi biết anh mời tôi là… nhân dịp gì vậy?” – “Dạ, nhân dịp ông Đại sứ mới đến đây làm việc và ông muốn mời anh đấy ạ.” Khoảng ba tháng trước tôi đã nghe sẽ có một người đại diện cho nhà cầm quyền Việt Nam đến nhận chức Đại sứ… lần đầu sau cuộc chiến tranh Việt Nam. Tôi nghe nhưng không quan tâm người đến người đi là ai. Tôi thắc mắc, vị này mới đến sao lại biết tôi mà mời. Thật ra thì tôi chẳng có một chút tiếng tăm gì cả. Cơ sở cũng mới mở còn chờ một người bạn bản xứ chuyên xuất nhập cảng máy điện toán gia nhập thì mới khai trương; thì làm sao ông ta biết tôi. Dù sao thì tôi cũng cần biết đây là lời mời thật hay là trò đùa của ai đó. Tôi trả lời anh Trường: “ Xin anh Trường nói lại với ông Đại sứ là, tôi muốn mời ông Đại sứ cuối tuần tới đến một nơi nào đó để gặp nhau trước. Rồi tuần sau nữa… hay ngày nào đó tôi sẽ ghé đến sứ quán thăm ông Đại sứ sau.” – “Xin anh Ton chờ tôi một tí nhé.” Tôi nghĩ anh Trường đang chuyển lời của tôi đến ông Đại sứ, nếu như vừa rồi là những lời đối đáp nghiêm chỉnh. Tôi vẫn nghi ai đó muốn chọc phá tôi thôi. Một lúc sau anh Trường hỏi: “Anh Ton ơi, nếu gặp nhau thì gặp ở đâu, và khi nào… anh?” – “Anh cho tôi khoảng… mười phút. Tôi sẽ phôn lại anh. Anh Trường nhé.”  Nói dứt câu là tôi cúp máy ngay. Tôi không ngờ lại có chuyện lạ đến như vậy, nếu đây là chuyện thật. Về địa điểm thì không đâu hay bằng những thành phố lớn và có nhiều du khách, vì vừa vui lại đẹp nữa. Tôi đang nghĩ đến nhà hàng Tàu ở gần khu đèn đỏ Amsterdam thì bỗng đâu hình ảnh của một doanh nhân người Việt gốc Tàu nổi tiếng của Hòa Lan hiện ra trong đầu tôi. Vị doanh nhân này đang bị nhà cầm quyền Việt Nam làm đủ trò hề để mong cướp hết tài sản. Anh bị xử tù mười ba năm nhưng tôi không biết anh bị giam ở đâu. Doanh nhân gốc Tàu này có người em ruột thường giao hàng cho một nhà hàng Nhật trong thành phố có nhiều du khách và sòng bài có tiếng. Nhà hàng này nổi tiếng với món ăn Nhật và sang trọng.Tôi quyết định chọn nhà hàng này cho buổi gặp gỡ lần đầu tiên.

Không khó khăn để tìm ra số phôn của sứ quán Việt Nam và địa chỉ nhà hàng Nhật. Tôi phôn lại sứ quán: “Tôi là Ton. Xin cho gặp anh Trường.” Từ đầu giây bên kia tiếng anh Trường thật vui: “Dạ, tôi đây anh Ton.” – “Nhờ anh Trường báo lại với ông Đại sứ là cuối tuần sau, thứ bảy ngày 27 khoảng sáu giờ chiều tại nhà hàng Sakura số….. thành phố Den Haag.”

Như vậy đúng là ông Đại sứ muốn mời gặp riêng tôi vì trước đó anh Trường có nói: “Mời anh cuối tuần này hay cuối tuần tới ghé qua…” Vừa suy nghĩ tôi vừa nhìn quanh văn phòng, có lẽ nó không giống như những văn phòng của người bản xứ. Văn phòng của tôi mới xây để dùng cho cho hai việc nên vừa là văn phòng và cũng là phòng ngủ thuộc loại … nhiều sao chứ không phải xoàng. Cơ sở được xây hai tầng. Tầng trên là văn phòng và có phòng ngủ riêng rộng rãi. Cũng có nhà bếp rộng và phòng ăn cùng nhà tắm… đầy đủ tiện nghi. Nhưng, tôi chưa từng tiếp người nào tại đây – ngoại trừ người bạn bản xứ muốn cùng hợp tác với tôi thành lập công ty – tôi chỉ tiếp ở tầng dưới là phòng trưng bày sản phẩm quần áo trẻ em từ ba tuổi đến mười lăm tuổi. Tôi định hôm nào khai trương tôi sẽ mời một số khách đặc biệt lên đây và, ai mệt thì cứ… tự nhiên.

Bên ngoài, trời đầy tuyết làm trắng xóa cả một vùng rộng lớn. Những căn nhà chung quanh – là những văn phòng và những công ty của người bản xứ – hầu hết mọi người đã ra về vì tôi không nhìn thấy một chiếc xe nào còn ở đây. Tôi thấy chỉ còn mỗi chiếc xe của tôi là còn ở đây thôi.

Một điều làm cho tôi cứ thắc mắc, tại sao tôi lại được “hân hạnh” sứ quán Việt Nam gọi phôn mời đến uống ly rượu mừng nhân dịp người đại diện của một quốc gia mà tôi luôn xem những người cầm quyền là kẻ thù của dân tộc. Tôi đã quá quen với những trò hèn hạ của bọn phỉ thì đây có phải là sự nhiệt tình tự nhiên hay cố ý có chủ đích mà một người không tên tuổi như tôi lại được “chiếu cố” từ một người đại diện của một quốc gia; một quốc gia bị khinh rẻ nhất trên trái đất này. Tôi nhớ lại khi tôi rời khỏi Việt Nam vào buổi tối ngày 30 tháng tư năm 1991 trong nỗi uất nghẹn chất ngất; để rồi sau đó tôi đã thực hành ngay hai việc. Việc thứ nhất, tôi xin đổi tên và đổi họ. Việc thứ hai, sau khi tôi nhận được họ và tên mới, thì, ngày 1/9/1991 tôi đã gởi thư cho nhà cầm quyền Việt Nam ở Ba Đình, và một thư riêng cho Phan Anh Minh. Mục đích viết thư chỉ là để cho bọn người ở Ba Đình biết Phòng điều tra thành phố Sàigòn đã lấy tiền của tôi mà người nhận tiền là Phạm Cang, Đội trưởng đội xét hỏi. Và Mai Quốc Anh, cán bộ xét hỏi. Khi làm việc này tôi cũng ý thức được câu truyền miệng trong dân gian: Phủ bênh phủ huyện bênh huyện. Nhưng, ít ra thì tên Mai Quốc Anh sẽ bị thanh trừng ra khỏi ngành an ninh vì dám qua mặt lãnh đạo để ăn tiền riêng. Như vậy, nhà cầm quyền Việt Nam và ngành an ninh Việt Nam đều đã biết họ và tên mới của tôi.

Sự việc một người trong ngành ngoại giao đại diện cho bọn lãnh đạo trong nước lại muốn mời gặp riêng tôi thì… Tôi không hiểu tại sao nên việc phải đề phòng là chuyện đương nhiên. Tôi không lấy đó làm hãnh diện và vui mừng mà trái lại làm cho tôi suy nghĩ nhiều để đề phòng. Điều trước tiên là tôi không bao giờ được quên câu nói của ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Tôi quyết định rủ một người bạn học từ những năm xửa năm xưa đi theo để anh có ý kiến và cũng để nhận xét về ông Đại sứ.

27/03/1999

Ông Đại sứ Việt Nam cũng là người… Việt Nam, nên ông không biết tôn trọng giờ giấc cuộc hẹn? Hay ông cố tình để tỏ ra mình quan trọng? Ông đến trễ mười bảy phút. Người tài xế của ông chính là người đã phôn cho tôi hôm nào. Trong buổi gặp gỡ lần đầu giữa ông Đại sứ và tôi thế mà người tài xế lại được phép ngồi chung bàn và ngang hàng với ông Đại sứ đã cho tôi ý thức rằng, hắn không phải chỉ là tên tài xế bình thường. Ngoài việc làm tài xế, hắn còn là người bảo vệ, là nhân viên mật vụ của sứ quán đấy.

“Tôi tên Thắng. Đinh Hoàng Thắng. Tôi rất hân hạnh được gặp anh Ton buổi tối nay.” Ông Đại sứ người hơi thấp một chút. Khuôn mặt ông vừa vặn với nước da ngâm đen. Tuổi của ông vào khoảng bốn mươi chín đến năm mươi mốt thôi. Nếu đúng như tôi đoán thì ông lớn hơn tôi vài tuổi. Ông luôn tươi cười để tạo cho gương mặt được rạng rỡ như là một minh chứng cho tôi thấy ông là nhà ngoại giao tầm cỡ. Ông nói nhiều về những khó khăn của đất nước nhưng những điều đó không làm cho tôi bận tâm. Nước Việt Nam càng  nghèo, người dân càng khổ thì may ra sẽ có một cuộc cánh mạng bùng lên để dẹp bỏ bọn người xảo trá không có tính người nên không bao giờ biết tôn trọng phẩm giá của con người.

“Tôi nhân danh chính phủ kêu gọi anh Ton hãy bỏ qua mọi chuyện xưa cũ mà trở về xây dựng lại đất nước. Sứ quán sẽ tạo cho anh mọi điều kiện dễ dàng để anh đóng góp công sức cho nước nhà…” Thắng cũng là người… đắc nhân tâm lắm nên không thêm chữ được vào câu nói. Mới gặp nhau chỉ mấy phút mà tôi thấy Thắng có vẻ là người có học thức thật sự và cung cách rất lịch sự. Nhưng, tại sao Thắng lại nói tôi bỏ qua mọi chuyện xưa cũ? Chẳng lẽ Thắng đã biết chuyện xảy ra hồi 1991 của tôi. Hay Thắng nghe ai nói rồi tưởng tôi cũng giàu có như Trịnh Vĩnh Bình nên… dụ tôi chăng. Thật sự thì tôi chưa giàu… như anh bạn đi cùng tôi tối hôm nay. Tôi chỉ đủ khả năng mướn một người bản xứ phụ giúp công việc giao tiếp với các khách hàng người bản xứ. Ngoài ra thì mọi công việc tôi đều đảm trách hết. Tôi vừa là thư ký, vừa là kế toán, vừa là dọn dẹp, vừa là người đi giao hàng.Vân vân… Tôi được cái mã bề ngoài sang trọng nhờ chịu ăn diện, nên, nhìn tôi ai cũng tưởng tôi giàu có. Tôi ăn xài và tiếp đãi bạn hữu cũng rộng rãi mặc dù tôi cũng có nhiều trách nhiệm phải lo. Đó chỉ là những suy đoán sơ khởi của tôi thôi. Biết đâu chừng mục đích của Thắng khác thì sao. Mọi khi gặp trường hợp như tối nay tôi cũng không để tâm nhiều. Không có gì đáng cho tôi xem trọng đến như vậy. Có thể người khác cảm thấy mình quan trọng vì được một nhà ngoại giao mời. Còn tôi thì lo lắng nhiều hơn. “Trước khi trở thành nhà ngoại giao, tôi đã là nhà báo. Tôi viết báo và làm thơ rất nhiều.” Tôi thành thật: “Về thơ phú thì tôi dốt đặc anh Thắng à. Viết một cái thư bình thường thì tôi có thừa khả năng. Chứ hơn nữa thì đành chịu. Có lẽ tôi sinh ra đời chỉ để làm những công việc lặt vặt kiếm chút tiền lẻ thôi.” – ‘Tôi có nghe về công việc làm của anh hiện tại. Khi nào anh định trở về trong nước thì tôi sẽ giới thiệu cho anh vài ba công ty lớn, vừa của nhà nước vừa của tư nhân.” Tôi lập lại như để xác nhận: “Tôi ghi nhận và cám ơn những điều anh Thắng nói với tôi tối hôm nay. Tôi xin được đến sứ quán thăm anh và mọi người vào thứ bảy tuần tới khoảng ba giờ, anh thấy có tiện không?” – “Tôi rất vui và không thấy có gì trở ngại cả.” Tôi nhìn cái miệng của Thắng khi nói. Làm sao tôi lại nghĩ hắn có thể là bạn của mình được nhỉ? Tôi không làm gì mà phải vồn vã và gọi ông là ông hay ngài Đại sứ. Không bao giờ! Tôi chưa đến sứ quán Việt Nam lần nào, nhưng các bạn tôi kể là người Việt mình khi đến sứ quán Việt Nam tại Bỉ hoặc Pháp để xin visa – vì Hòa Lan chưa có sứ quán – thì luôn luôn khúm núm tỏ vẻ sợ sệt, và, khi nhân viên sứ quán nói gì thì dạ dạ luôn miệng. Có lẽ người Việt sống ở nước ngoài sợ bọn người trong các sứ quán, vốn có tính tiểu nhân sẽ hoạnh họe để làm tiền chứ không phải khúm núm vì sợ không cấp visa. Cầu mà cấp visa cho kiều bào vì vừa được tiền vừa được tiếng.

Bốn phần ăn mắc tiền nhất trong thực đơn tôi đặt cho bốn người, nhưng không ai ăn nhiều. Những thực khách người bản xứ ngồi gần đó rất ngạc nhiên nhìn bốn phần ăn gần như còn nguyên vẹn. Chúng tôi uống rượu mạnh nhiều. Tôi uống nhiều và nói cũng nhiều, nhưng là những câu có suy nghĩ vì tôi muốn tỏ ra mình cũng “hồ hởi phấn khởi” lắm trong buổi gặp gỡ tối hôm nay để rồi sau này cũng sẽ trở về xây dựng lại đất nước như Thắng nói lúc đầu. Thắng uống nhiều và nói cũng nhiều, nhưng cũng có ý tứ nên không để lộ nhược điểm. Thắng thích đọc thơ nhưng gặp tôi nên Thắng cũng bớt hứng.

Gần mười một giờ, tôi thanh toán tiền ăn và uống thêm ly café. Thắng cũng uống thêm ly café. Mười một giờ mười lăm phút tôi đứng lên để ra về. Thắng cũng đứng lên cùng một lúc. Một cách hoàn toàn tự nhiên. Trường thì đã đi trước đó mấy phút để lấy xe. Thắng và tôi cùng đi ra cửa. Trước khi Thắng ngồi vào trong xe, Thắng đã ôm tôi như những tên phỉ thường ôm nhau khi gặp nhau như tỏ ra thắm thiết lắm. “Cám ơn anh Ton về bữa ăn tối nay. Ngon và vui quá. Hẹn gặp lại anh Ton thứ bảy tuần tới ở sứ quán.”

Thắng đi rồi tôi và người bạn cũng chia tay. Tôi đi lấy xe và lái về. Mấy ngày trước tuyết còn nhiều. Hôm nay tuyết tan thành bùn nên tôi lái xe từ từ và suy nghĩ về buổi gặp gỡ  vừa qua. Con đường xa lộ trải dài trước mắt hun hút trong bóng đêm. Dải sương mù giăng phủ khắp tuyến đường làm cho tôi có cảm giác lạnh lẽo, mặc dù sưởi trong xe tôi để khá cao. Dù cuộc đời có bao nhiêu biến động đi nữa, tôi cũng không bao giờ quên những gì đã xảy ra với tôi năm 1991. Ngay lúc đó tôi bỗng nhớ lại những đêm trong phòng tạm giam 3C Bến Bạch Đằng. Có lẽ khi đó tôi cũng bị… lạnh lẽo và cô đơn nên cứ bị ám ảnh hoài. Dù sao thì đó cũng là kỷ niệm, tuy buồn nhưng đáng nhớ. Trụ sở điều tra thành phố ở 3C Bến Bạch Đằng nay đã được bọn Đài Loan bỏ tiền ra đầu tư làm cái gì thì tôi không biết. Những người tù sẽ bị đem đi giam nơi nào? Chí Hòa hay nhà lao Gia Định? Thân phận người tù thì đi đâu cũng ở trong phòng thôi. Nếu bị tù vì tội ăn cướp ăn trộm… thì còn hiểu được. Sống dưới chế độ mà bất cứ thứ gì có giá trị đều bị nhà cầm quưền tìm cách trấn lột thì cuộc sống của con người sẽ thê thảm đến như thế nào. Nhưng, nếu bị tù vì tội giết người hoặc hiếp dâm thì không thể chấp nhận được. Tội này cần trừng trị thật nặng. Qua báo chí tôi được biết năm 1992 có một ông Tướng Mỹ qua Việt Nam xin nhà cầm quyền trả tự do cho ông Giám đốc Đỗ Ngọc Long. Tôi thật không ngờ lúc mình bị tạm giam thì ông cũng đang bị giam tại đó mà không biết. Ông bị bọn phỉ giam cầm lâu quá. Cuộc sống của con người tạm xem như có sáu mươi năm. Sáu mươi năm không dài cho một đời người… như ông, nhưng lại bị bọn phỉ làm cho trở thành vô ích vô dụng mất gần hai mươi năm. Thế rồi bây giờ bọn chúng lại kêu gọi những người bị chúng hành hạ, chẳng hạn như ông, hãy quên đi chuyện bị giam cầm và hành hạ để cùng chúng chung sống. Không bao giờ. Đối với tôi không bao giờ có chuyện quên quá khứ cách khơi khơi và dễ dàng như vậy.

Tôi nhớ đến chị Mỹ. Trong bốn người mà tôi luôn nhớ đến, chị Luật sư Đào Hoàng Mỹ là tôi nhớ nhiểu hơn cả vì chị đã viết thư thăm hỏi tôi. Tôi thuộc lòng từng chữ chị viết cho tôi ngày 06/06/1991 với những lời thật dễ thương và cũng như trách móc sao tôi đi mà không từ giã chị… “Sáng 1/5 tôi có gọi điện cho anh, ở khách sạn tưởng lầm tôi là “bồ nhí” của anh, nên họ ngập ngừng mãi rồi mới “chia buồn” với tôi là anh đã đi từ chiều hôm trước…” Phải công nhận chị Mỹ làm việc rất có uy tín. Thế mà một hai năm trước tôi “nghe”chị bị nhà cầm quyền cấm hành nghề Luật sư. Tôi hiểu ngay là cái thế của chị đã không còn. Cũng có thể tên cán bộ đã chia tay chị nên chị bị mất thế chăng? Nếu lần này trở lại Việt Nam thì người đầu tiên tôi liên lạc chắc chắn phải là chị.

Mọi chuyện đều có thể bắt đầu nếu như cái đầu của mình còn minh mẫn. Tôi còn minh mẫn quá vì vậy tôi sẽ bắt đầu hành động. Tôi sẽ làm việc gì đó, có thể nhỏ thôi nhưng phải hữu ích. Nếu chẳng may bị thất bại thì tôi cũng sẽ là cái gương cho những người đi sau. Từ hôm nay tôi sẽ hành động. Tôi sẽ làm cho tên Đại sứ Đinh Hoàng Thắng phải tha hóa, phải ăn hối lộ, và, phải ân hận vì tôi.

03/04/1999

Có chủ đích nào không mà địa điểm của sứ quán Việt Nam lại nằm trên con đường một chiều. Bọn phỉ là chúa tể về tính so đo từng chi tiết nhỏ nhặt nhất nên chuyện gì cũng làm cho tôi phải suy nghĩ. Khi gần tới sứ quán tôi đã phôn trước cho Thắng nên Thắng đón tôi khi tôi đậu xe ngay trước cửa sứ quán. Sứ quán là căn nhà cùng một dãy nhà xưa cũ nhưng được sơn phết lại nên nhìn cũng… được. Mọi thứ đồ vật trong sứ quán đều được sắp xếp gọn ghẽ và sạch bóng. Tường treo tranh phong cảnh của cả ba miền nước Việt Nam. Tôi đặc biệt chú ý đến tấm tranh có mấy con voi và thác nước mà tôi đoán là phong cảnh ở Pleiku vì không nhìn thấy chữ. Những tấm tranh treo tường làm cho tôi nhớ lại thời đệ nhất và đệ nhị cộng hoà miền Nam quá. Chỉ trong thời gian đó đi thăm thắng cảnh mới thật sự thấy thơ mộng và hữu tình.

Thắng đưa tôi vào phòng khách nhưng không đóng cửa. Tôi tự tay khép nhẹ cánh cửa rồi lấy từ trong túi áo vest ra một cái bao thư không dán: “Đây là quà tôi mừng anh. Tôi mong sứ quán tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi để tôi có dịp giúp lại sứ quán và quê hương.” Thắng hơi bất ngờ và chưa chịu cầm thì tôi bồi thêm: “Một ngàn đô la Mỹ thì không nhiều lắm. Anh giữ lấy vì tôi đang làm ăn cũng được. Rồi thì chính anh lại sẽ giới thiệu các công ty cho tôi… thì coi như có qua có lại. Nếu tôi có chén cơm thì anh cũng phải được chén cháo chứ.” Tôi gài cho Thắng từ nay phải nhận tiền của tôi. Tôi chưa từng thấy ai chê tiền bao giờ. Thật sự thì tôi chưa từng nhìn thấy điều đó xảy ra. Thắng định từ chối lấy lệ nhưng vì tôi nói, đây là quà mừng anh, rồi chính anh sẽ giới thiệu các công ty cho tôi nên Thắng liền cho bao thư vào túi áo vest và quay người về phía sau lấy chai rượu chát đỏ của Pháp và tự tay khui ra mời tôi. Thắng chịu nhận tiền của tôi ngày hôm nay thì sẽ nhận dài dài. Tôi sẽ sử dụng Thắng vào những chuyện cần và thiết thực. “Mời anh ngồi.” Thẳng mời và chỉ tay vào ghế. Tôi nhìn quanh căn phòng. Phòng khách nhỏ vì là loại nhà xưa nhưng có đến bốn khung cửa sổ với những tấm rèm trang nhã. Căn phòng có mùi thơm của một loại dầu được toả ra khi cắm vào ổ điện. Khắp phòng có đến ba cái bàn nhỏ mặt bàn bằng kiếng, và một cái bàn lớn chung với bộ salon Tôi không biết những cái bàn nhỏ đó dùng làm gì mà nhiều vậy. Tôi ngồi quay lưng lại phía cửa và bên tay trái của tôi có treo tấm hình “bác” ngồi làm việc ngoài vườn.

Suốt buổi tối hôm nay tôi không gặp mặt Trường nhưng gặp hai người đàn bà. Một được Thắng giới thiệu là bà xã tên Mai. Người kia là bí thư thứ nhất tên Nguyễn Thị Bình. Bà Bình ốm như con mắm nhưng ăn nói thật nhỏ nhẹ và lịch sự. Ngồi một lúc bà Bình đi ra và khi trở vào bà cầm theo dĩa mồi có nhiều loại xúc xích và dĩa củ kiệu. “Cảm ơn chị Bình.” Tôi nói nho nhỏ khi bà mời tôi, rồi lấy nỉa ghim miếng xúc xích.

Bà xã của Thắng có đi du học bên Úc mấy năm. Sau đó về nước làm tiếp viên hàng không Air Việt Nam rồi gặp Thắng. Bà là người đàn bà đẹp và lịch sự. Thắng có được người vợ như bà để giao tiếp với người của Bộ Ngoại Giao bản xứ thì hay quá. Bà có tướng cao và sang, nhưng… có lẽ còn nghèo. Tôi nhìn thấy bà cũng có đeo nữ trang nhưng toàn loại cỡ nhỏ và rẻ tiền. Chiêc nhẫn vàng cũng nhỏ xíu. Tôi quyết định sẽ tặng bà chiếc nhẫn hột xoàn trong lần gặp tới. Nhẫn nhỏ thôi nhưng là loại tốt nhất.

“Anh Ton có định khi nào về thăm lại Việt Nam không?” Thắng hỏi. “Anh Thắng xem giới thiệu cho tôi công ty may mặc nào thì tôi sẽ về.” Thắng hớn hở ra mặt:  “Ngoài Bắc thì có May10 của ông Quang cũng là chỗ bạn bè với tôi. Trong Nam có Texgamex. Tôi sẽ viết thư giới thiệu cho anh cả hai nơi. Ngoài ra tôi cũng viết thư giới thiệu cho anh hãng giầy dép Bitis… cũng là chỗ quen biết cả.” – “Nếu vậy tôi sẽ về Sàigòn trước và sẽ đến Texgamex và Bitis xem sao. Lần khác tôi sẽ ghé Hà Nội.” Bà xã của Thắng hỏi: “Anh Ton đến Hà Nội lần nào chưa?” – “Chưa chị. Lần tới tôi sẽ ở Hà Nội ít ngày nhân dịp ghé May10.”

Buổi gặp gỡ vui nên đến chín giờ tôi mới từ giã ra về. Một món quà mà Thắng tặng cho tôi ngày hôm nay đó là: “Chị Bình à, từ nay anh Ton được miễn lệ phí visa vì là người sẽ bỏ công bỏ của để giúp quê hương đấy.”

01/06/1999

Sáng hôm nay thứ ba, ngày 1 tháng 6 năm 1999 là ngày quan trọng đối với tôi. Quan trọng vì hôm nay là bước khỏi đầu mà tôi đã ấp ủ trong lòng từ 1991. Sáng hôm nay sẽ có mấy quan chức của nhà cầm quyền Việt Nam đến khai trương cơ sở xuất nhập cảng quần áo trẻ em của tôi; sau hai tháng tôi đi Việt Nam như con thoi để có được bản điều lệ hợp tác.

Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam do ông Chủ Tịch Lê Quốc Ân ký Quyết Định số: 391/QĐ/TC-HC ngày 27/5/1999 thừa nhận Texgamex – Europe do tôi làm Giám đốc sẽ là nơi giới thiệu và bán các sản phẩm của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam tại Hòa Lan, trực thuộc Sàigòn Texgamex của ông Giám đốc Nguyễn Mạnh Hùng.

Buổi khai trương Texgamex-Europe sẽ bắt đầu vào lúc mười giờ với sự hiện diện của :

Ông Lê Huy Côn, Thứ trưởng thường trực Bộ Công Nghiệp Việt Nam.

Ông Lê Quốc Ân, Chủ Tịch Hội đồng quản trị Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam.

Ông Đinh Hoàng Thắng, Đại sứ Việt Nam tại Hòa Lan.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc SàigònTexgamex.

Và, tám vị Giám đốc các Công Ty may mặc trực thuộc Tổng Công ty Dệt may Việt Nam.

Các quan chức Việt cộng hơi ngỡ ngàng, vì, theo như tôi đã có thông báo trước, Buổi lễ sẽ có đông người Việt đến tham dự. Đặc biệt sẽ có Sáu người đẹp Việt Nam sinh sống tại Hoà Lan mặc áo dài đứng hai bên để đón quan khách và tặng hoa. Tôi vô cùng sững sờ và đau đớn khi sáu cô gái Việt rủ nhau cùng sù tôi vào phút chót. Cả mấy ngày liền tôi lo sợ các cô không hiểu và sẽ “chơi” tôi vào phút cuối nên tôi đã hết lời năn nỉ và giải bày cặn kẽ, đây chỉ là hình thức. Phải chi sáng sớm ngày hôm nay mà các cô thành thật cho tôi biết sẽ không đến thì tôi vẫn có cách giải quyết. Những người đàn ông Việt Nam sinh sống tại Hòa Lan mà tôi mời rất đông, nhưng cũng chỉ có hai người đến tham dự: Anh Dược sĩ N.H. Và, anh B.N.P. bạn học từ những năm xửa năm xưa. Khách hàng là người bản xứ thì tham dự khá đầy đủ.

Tôi buồn lắm. Nhưng tôi cố nghĩ tốt cho những cô gái và những người đàn ông không đến tham dự  là, vì họ không ưa bọn phỉ nên họ phải hành động như vậy. Nếu sau này tôi có gặp lại những cô gái đó, và những người đàn ông đó, thì cũng đừng hỏi tại sao hết. Cái gì cũng có lý do của nó, không lộ lẫy thì sâu kín. Con người vốn không thích nói rõ lý do hành động của mình cho người khác biết.

Nỗi buồn của tôi hôm nay cũng giống như lúc tôi buồn chị Luật sư Đào Hoàng Mỹ. Tôi mãi mãi ngưỡng mộ và nhớ đến chị nhưng tôi không hiểu vì sao tôi gởi bốn cái thư, trong đó có ba cái bảo đảm mà chị vẫn không trả lời tôi. Chị giận tôi hay chị ghét tôi? Giận hay ghét thì tôi không biết, vì vậy mà cái thư bảo đảm thứ ba tôi đã tha thiết xin chị sắp đặt thời khóa biểu để chị em phải gặp nhau một lần, cũng giống như  tôi đã tha thiết yêu cầu sáu cô gái giúp tôi. Tôi muốn chị Mỹ phải gặp tôi một lần rồi thôi để tôi được nói chuyện với một người phụ nữ mà tôi rất tôn kính. Tôi muốn sáu cô gái giúp tôi để cho nhà cầm quyền Việt Nam, đặc biệt là Đinh Hoàng Thắng biết tôi không cô đơn khi quyết định tiếp tay với nhà cầm quyền. Tôi biết chị Mỹ vẫn còn ở 15 Võ Thị Sáu vì có đôi lần tôi đi ngang qua đó và vẫn nhìn thấy tấm bảng bằng đồng khắc tên của chị gắn trước cổng nhà như tám năm trước tôi đã nhìn thấy. Vĩnh biệt chị Đào Hoàng Mỹ.

Anh chị Khương đã cho bọn Đài Loan mướn khách sạn mini Hoa Cẩm Chướng dài hạn để làm văn phòng. Anh chị về Lái Thiêu sinh sống nhưng không một người nào ở quanh đó có địa chỉ của anh chị. Chúc anh chị luôn Vui- Khỏe & Hạnh Phúc!

Anh Huỳnh Sơn Phước tôi có gặp lại và cùng đi ăn tối ở nhà hàng Tự Do. Tôi muốn giữ tình bạn với anh Phước nên hẹn sẽ gặp lại nhau những lần tôi trở lại Sàigòn. Nhà hàng Vy đã mở thêm “đại lý” thứ hai trên đường Pasteur và, do làm ăn gặp thời nên ông chủ con của tên gián điệp đội lốt cố vấn  cũng …  sang trọng hơn,  nên đã đổi vợ khác. Ông bà mình nói không bao giờ sai trật. “Giàu đổi bạn sang đổi vợ.” Anh Phước và tôi cũng có đến  ăn uống một lần ở địa chỉ mới nhưng không còn thấy vui như ngày nào nữa.

Một tuần sau ngày khai trương, Ngày 07/06/1999 tình cờ tôi đọc được một bản tin viết rất hay trên tờ Kinh tế Sàigòn, đăng tin Texgamex Europe khai trương do nữ đặc phái viên tên Mai Hương viết. Mai Hương cũng chính là Bà Đại sứ Đinh Hoàng Thắng.

…………….

…………….

…………….

…………….

13/8/1999

Tôi đến Sàigòn lúc mười một giờ khuya hôm qua. Bây giờ là mười giờ sáng. Tôi vừa tắm xong và chuẩn bị đi ăn thì chuông điện thoại vang lên. Người gọi điện thoại cho tôi nói với giọng thật nhỏ và ấp úng như có điều gì sợ hãi: “Alô, xin lỗi… phải anh… Tắc…  đó không?” Lâu rồi tôi không còn nghe ai gọi tên “cúng cơm” của mình tại Sàigòn nên cũng có chút ngạc nhiên. Tôi chưa kịp trả lời thì người gọi cho tôi nói tiếp: “Anh biết tôi và tôi cũng biết anh nhưng chúng mình không liên lạc với nhau. Tôi đang bị kẹt và bị nguy hiểm nên phôn đến anh nhờ anh giúp đỡ. Tôi là Bình. Trịnh Vĩnh Bình.” Tôi mới kịp a lên một tiếng để cho anh biết là tôi đã nhớ ra anh, thì anh liền nói tiếp: “Tôi cúp điện thoại này và sẽ gọi lại anh số điện thoại khác… nha.” Nói rồi anh Bình cúp máy ngay. Tôi đi lại tủ lạnh và vừa mở cửa định lấy chai nước thì chuông điện thoại lại vang lên. “Anh Tắc ơi. Tôi phải sử dụng nhiều điện thoại vì tôi đang bị công an theo dõi. Tôi biết anh đang làm ăn ở đây và gặp gỡ nhiều người. Xin anh giúp tôi.” –  “Anh Bình muốn tôi giúp anh thế nào thì anh cứ nói cho tôi biết…” Anh Bình không để tôi nói hết câu, anh nói: “Tôi cúp máy và sẽ gọi lại anh ngay.” Tôi cầm chai nước nhưng chưa vội uống. Tôi suy nghĩ về anh Bình mà thấy tội nghiệp cho anh. Anh sợ quá mà làm vậy chứ bọn phỉ muốn bắt anh lúc nào mà chẳng được. Chuông điện thoại lại vang lên. Anh Bình nói: “Anh Tắc ơi, tôi đề nghị như thế này. Sáng ngày mai khoảng chín giờ anh đến quán…. và anh sẽ gặp một người tên Nguyễn Tuấn Khanh. Khanh là người của tôi và đáng tin cậy. Khanh sẽ nói cho anh biết mọi chuyện về tôi, và, anh có ý kiến giúp tôi như thế nào thì xin anh cứ nói cho Khanh biết. Anh giúp tôi anh Tắc nhé.” Nói chỉ vậy thôi rồi anh Bình lại cúp máy.

Bốn tháng qua kể từ sau ngày 04/05/1999 là ngày xử phúc thẩm, anh Bình đã ở đâu mà bọn phỉ làm như không biết. Rõ ràng bọn an ninh cố tình chơi trò mèo rình chuột để anh Bình sợ mà trốn luôn đừng ló mặt ra là bọn chúng “hồ hởi phấn khởi” chia nhau tài sản chúng cướp được của anh. Anh Bình thì lại cứ tưởng mình trốn kỹ và trốn hay quá nên tụi phỉ tìm không ra. Cũng là một ý nghĩ ngây ngô và khôi hài; nhưng thông cảm vì anh đang sợ quá nên không còn biết gì cả. Nhớ lại hôm tôi đang ở ngoài Hà Nội và được ông Chủ tịch dệt may Việt Nam Lê Quốc Ân đưa đi thăm Tam Đảo. Trong lúc nói chuyện về đất nước Hòa Lan thì bỗng Lê Quốc Ân quay mặt qua nhìn tôi và hỏi: “Tôi hỏi thật anh, Trịnh Vĩnh Bình có phải là gián điệp của Trung Quốc không?” Tôi nhìn ông ta và lắc đầu nói tôi không biết. Đây là câu hỏi thật sỗ sàng, thật mất dạy. Đây là câu hỏi chắc chắn đã có tính toán trước. Hơn một tháng qua, mỗi lần tôi về Việt Nam tôi chỉ đi thăm nơi này nơi kia chứ chưa chịu ký nhận quota để nhập hàng. Tôi luôn viện dẫn là khách hàng đang gặp khó khăn nhưng họ đã có kế hoạch lấy hàng với số lượng lớn trong tương lai. Người của tôi tại Sàigòn đã mua hàng của tư nhân và tự đóng gói chuyển bằng đường biển qua cho tôi. Việc làm này dĩ nhiên bọn phỉ phải biết vì quan thuế (hải quan) cảng Sàigòn có lưu hồ sơ người gởi và người nhận. Có lẽ vì vậy nên Chủ tịch dệt may Việt Nam mới có câu hỏi sỗ sàng ngầm chứa đựng một sự đe dọa? Tôi làm như không quan tâm nên nói chuyện về thắng cảnh Tam Đảo.

Về Việt Nam lần này tôi sẽ gặp “Côn lé”  tức Lê Huy Côn Thứ trưởng Bộ Công Nghiệp. Ông bị lé kim, thế là mấy tên Giám đốc đã đặt cho ông cái hỗn danh đó. Bộ Công nghiệp khi nhận được quota thì giao cho Chủ tịch dệt may, Chủ tịch sẽ chia đều cho các Giám đốc để các Giám đốc “linh động” bán ra ngoài rồi chia từ trên xuống.(Người của tôi tại Sàigòn đã mua quota của những vị này.)  Nguyễn Mạnh Hùng của Sàigòn Texgamex muốn tôi đi thẳng thì sẽ nhận được nhiều mà chi ra ít nên khi xuất hàng qua bên tôi sẽ có lợi nhiều. Tôi “ớn” Nguyễn Mạnh Hùng lắm vì có lần hắn đề nghị: “Những gì tôi gởi dư qua anh, anh cứ giữ lấy cho tôi. Anh em mình sẽ chia nhau.”  Hùng nói thật lòng chứ không muốn thử tôi hay muốn gài tôi.

Ngày mai tôi phải đi Hà Nội mà anh Bình lại nhờ tôi đi gặp ông Nguyễn Tuấn Khanh. Tôi uống ngụm nước cho mát rồi ngồi suy ngẫm về chuyện anh Bình.

Phiên xử phúc thẩm Trịnh Vĩnh Bình làm tôi thấy thật tức cười. Phiên xử phúc thẩm là vở kịch quá xá tồi được bắt đầu sáng ngày 04/5/1999 và, kết thúc lúc 20h 45 ngày hôm sau, ngày 05/5/1999 với bản án 11 năm tù ( giảm 2 năm so với phiên xử sơ thẩm) và tịch thu toàn bộ tài sản. Nhưng, bị cáo lại được thơ thới ra về như người vô tội. Có lẽ Trịnh Vĩnh Bình cũng không ngờ mình được ra về mà không bị bắt ngay tại tòa nên, trước đó Bình giả bộ xỉu khi phiên tòa đang diễn ra. Anh Bình xỉu… không đúng cách của người bị xỉu thật nên bọn phỉ mặc kệ anh. Chúng chỉ xem qua loa một chút rồi phiên xử lại  tiếp tục diễn ra bình thường.

Bọn phỉ gian nhưng không ngoan! Sự việc toà xử người bị án tù rồi để cho người bị án tù ra về sau phiên xử thì không cần người có kiến thức về luật cũng sẽ hiểu ngay là, bọn phỉ chỉ muốn cướp hết tài sản của anh Bình, chứ không muốn bắt giam anh. Nếu muốn cho anh thơ thới ra về mà không bị mang tiếng diễn tuồng dở để cướp của, thì ít ra viên chánh án phải nói một câu gì đó cho hợp lý và hợp tình với luật pháp. Nhưng, “con mẹ” chánh án tên Nguyễn Thị Thu Phước là diễn viên tồi quá nên sau phiên xử  đã bị đảng tống cổ luôn. Còn năm anh luật sư cộng với một “con mẹ” luật sư nữa là sáu; toàn bộ sáu người này đều là đảng viên nên cũng thành tuồng hề hạ cấp. Đố cha sáu viên luật sư này dám nói một câu nào đại loại như:  “ Chính quyền địa phương đã cấu kết với nhau gây bao oan ức và đau khổ cho người đã đem tiền bạc về đây như ông…”  Lâu lắm rồi tôi có đọc một bài báo phổ biến trong nước, cũng trong một phiên tòa mà tên luật sư thay vì biện hộ cho bị cáo, đã quay ra kết tội bị cáo. Chỉ có bọn phỉ là diễn trò không giống ai, làm trò cười cho đồng bào và bị quốc tế khinh thường.

Tôi quyết tìm biết xem anh Bình đang ở đâu nên sáng ngày mai, theo lẽ tôi phải đi Hà Nội như cuộc hẹn,  tôi đình lại một ngày, lấy cớ bị mệt; tôi sẽ đi gặp Nguyễn Tuấn Khanh.

ToPa (Hòa Lan)

Topa - Quyển Nhật Ký Của Tắc-Kè