Trần Cẩm Tường – Thử tìm hiểu nguồn gốc, giải mã các tên địa danh tỉnh Bình Long trước năm 1975

I./ Nguồn gốc

Sau năm 1975 chế độ mới XHCN/VN cho là văn hóa đồi trụy nên tiêu hủy tất cả những sách báo, tài liệu cũ của Miền Nam để lại . Đến nay muốn truy cứu, tham khảo lại những văn khố xưa rất khó tìm .

Ngày trước Chánh Phủ VNCH có tờ Công Báo (Government Gazette) ra định kỳ, để đăng tải văn thư hành chánh, sắc lệnh, nghị định, văn khố lưu trử …Các cơ quan công quyền ( Chính phủ, Quốc Hội, Tòa Án )biết theo đó mà thi hành luật pháp hay hiểu biết về tổ chức chánh quyền .  Công báo chính phủ cung cấp thông tin chính thức, báo cáo  các quyết định hoặc thông tin,  từ cơ quan chính quyền Tỉnh, Quận ,Xã .

Tại các địa phương (Tỉnh, Quận,Xã còn có Sách Kỹ Yếu (Proceedings BookActes Livre, Year Book – Année Livre) để ghi chép lại, cập nhật những diễn tiến trình tự các sự kiện xãy ra, hay có sự thay đổi tổ chức hành chánh chánh quyền sở tại; biên chép hàng năm để làm bằng như nhật ký.

Ngày nay dù có nhiều phương tiên thông tin truyền thông báo chí, nhanh chóng nhất là qua internet . Nhưng cục bộ cũng có những hạn chế tìm nguồn, không còn thấy có  tài liệu lưu trử tham khảo , vì những bản gốc đã mất, bị tiêu hủy một cách cố ý có hệ thống, hay vì lý do chính trị .

Một ví dụ như tên những địa danh nhiều nơi của Tỉnh Bình Long . Lâu nay người Bình Long cũ không để ý, hay biết rõ, tìm hiểu những tên đó từ những ngọn nguồn (sự tích) từ đâu mà có ?

Từ đâu có tên Bình Long (nguyên do đặt tên) ?

Tên ba quận trước năm 1975 là An Lộc (Hớn Quản đổi tên), Lộc Ninh (không thay đổi) và Chơn Thành (hay Chân Thành )?

Tại sao (trước năm 1975) tên các xã nằm trong những đồn điền cao su của người Pháp để lại có tên bắt đầu bằng Xa (Xa Trạch, Xa Cát, Xa Cam, có khi gọi là Sa như Sacô 1(un), Saco 2 (deux) …Sacô 28 (vingt huit)?

Tại sao các tên ấp ở Quận An Lộc thường lấy chữ Phú làm đầu tên (Phú Bình, Phú Lạc, Phú Đức, Phú Thịnh …). Các ấp ở Lộc Ninh thì lấy tên Lộc đứng trước . Các ấp ở Chơn Thành thường lấy chữ Minh đứng trước (Minh Hưng, Minh Thạnh …)?

Làm biên khảo cho Tỉnh nhà mà chúng ta chưa tìm hiểu được nguồn gốc để giải thích rõ ràng có cơ sở tin cậy về những tên địa danh chưa giải mả được thì rất là thiếu sót, mang tiếng làm không tới nơi đến chốn, mới chuộng cũ vong với người xưa (?)với lớp hậu thế sau này lắm ru ?

Tìm hiểu qua tên các địa danh từ thời nhà Nguyễn .

1

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí (chữ Hán: 大南ー統志)) là bộ sách dư địa chí (địa lý – lịch sử) Việt Nam, viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức. Thời này Nam Kỳ Lục Tỉnh bắt nguồn từ tên 6 Trấn (Biên Hòa, Gia Định,Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên –(xem hình)

2

Sau trận Đại đồn Chí Hòa (tháng 2 năm 1861), 3 tỉnh miền Đông (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) mất vào tay thực dân Pháp (theo Hòa ước Nhâm Tuất, 1862). Lần hồi cả 6 tỉnh Nam Kỳ đều bị họ chiếm hết, rồi trở thành thuộc địa (theo Hòa ước Giáp Tuất, 1874).

Nam Kỳ ( tiếng Việt : Nam Kỳ , Khmer : Kampuchea Krom , Pháp : Cochinchine) là một khu vực bao gồm các tỉnh  của Việt Nam (Bắc Kỳ:Tonkin, Trung Kỳ: An Nam, Nam Kỳ: Cochinchine ) mà phía nam thành phố chính là Sài Gòn ( hoặc Prey Nokor Khmer ). Đó là một thuộc địa của Pháp từ năm 1862 đến năm 1954. Các nhà nước sau này của Nam Việt Nam đã được tạo ra vào năm 1954 bằng cách kết hợp Cochinchine với An Nam phía Nam (VNCH).

Trong tiếng Việt , khu vực này được gọi là Nam Việt. Về mặt lịch sử , đất này còn  mang những tên là Gia Định (1779-1832) , Nam Kỳ (1834-1945) , Nam Bộ( 1945-1948 ) , Nam phần ( 1948-1956 ) , Nam Việt ( 1956-1975 ) , và sau đó làMiền Nam . Trong tiếng Pháp , nó được gọi là La Colonie de Cochinchine .

 (  Bàn thêm đúng sai về tên gọi *Nam Kỳ Việt ( “Xứ Nam”) hay Nam Bộ ( ” Vùng Nam ” ) , thuật ngữ sau này được ưa thích theo người Việt Quốc Gia.[Theo Pháp ngữ : La Cochinchine était appelée par les Vietnamiens Nam Ky (« pays du Sud ») ou Nam Bo (« région du Sud »), ce dernier terme étant préféré par les nationalistes ] _  [Theo Anh ngữ : Cochin China was called by the Vietnamese Nam Ky (” the South “) or Nam Bo (” South Region”) , the latter term being preferred by nationalists].

Từ *Nam Bộ hiện nay gọi không đúng ý nghĩa của nó, chỉ có định nghĩa là một vùng (region), cục bộ, khu vực địa phương (local). Trái lại gọi cho đúng theo chữ phải là Miền Nam ( một xứ lớn: le pays – a large land).  Như ta thường gọi là Đồng bằng Bắc Bộ (Northern Delta) chỉ khu vực Nam Định, Thái Bình; Cao nguyên Trung Bộ (Central Highlands) chỉ các tĩnh Pleiku, Ban Mê Thuộc ; hay Đồng bằng Nam Bộ (Southern Delta) là các tỉnh miền Tây ; hoặc Đông Nam Bộ chỉ các tỉnh Bình Long, Phước Long, Bình Dương .)

Dưới thời nhà Nguyễn hay trong  thời Pháp thuộc tên địa danh các địa phương luôn thay đổi từ gốc chữ nho hay chữ quốc ngữ viết theo lối tiếng Pháp thường sai mặt chữ (bản đồ 6 tỉnh Nam Kỳ thời Pháp) hay bị Tây ngữ hóa và đặt tên cho những phần đất chẳng ăn nhằm gì với ý nghĩa của nguyên ngữ.”

2 3

Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn, 1832), vua Minh Mạng bãi bỏ Gia Định Thành, đổi các trấn thành tỉnh, chia 5 trấn của Gia Định Thành trước đâythành 6 tỉnh (Lục tỉnh) gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Hai năm sau (Giáp Ngọ, 1834), vùng Lục tỉnh thuộc Gia Định Thành trước đây được gọi chung là Nam Kỳ. Từ đó có tên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh.

Đó là các tỉnh:

    Phiên An (藩安), sau đổi thành Gia Định (嘉定)[2]: tỉnh lỵ là tỉnh thành Gia Định,

    Biên Hòa (边和): tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa,

    Định Tường (定祥): tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho,

    Vĩnh Long (永隆): tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long,

    An Giang (安江): tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc,

    Hà Tiên (河仙): tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên.

Trong dân gian, còn gọi là ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Năm Ất Sửu (1865), Quốc sử quán triều Nguyễn mới tổ chức biên soạn bộ sách dựa trên cơ sở của bộ Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ. Và mãi đến năm 1882, bộ Đại Nam Nhất Thống Chí mới hoàn thành. Dưới đây ghi lại những thay đổi đơn vị hành chính của Lục Tỉnh kể từ năm 1832, chép theo Đại Nam Nhất Thống Chí, được cho là soạn từ năm 1864 đến 1875 Danh sách các huyện xếp theo năm thành lập.

(………..

.Tỉnh Gia Định

 .Phủ Tân Bình . Thành lập năm 1808 với 4 huyện Bình Dương, Tân Long, Thuận An và Phước Lộc. Năm 1832, tách 2 huyện Thuận An và Phước Lộc để lập phủ Tân An.

 .Huyện Bình Dương .  Thành lập năm 1808, thuộc phủ Tân Bình. Năm 1841, tách một phần để lập huyện Bình Long. Gồm 6 tổng, 105 xã thôn phường ấp.

……………….)

Người Pháp xóa bỏ Lục tỉnh

Từ lúc kiểm soát được tỉnh Gia Định (1862) cho đến khi chiếm được toàn bộ Nam Kỳ (1867), thực dân Pháp vẫn tạm thời duy trì cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn một thời gian. Thời gian này, người Pháp gọidépartement thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện[5] ở những vùng họ chiếm được

Năm 1876, người Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, gọi là các phân khu hành chính (circonscription administrative), mỗi khu vực lại được chia nhỏ thành các “hạt” hay “tiểu khu” (arrondissement) như sau:

    Khu vực Sài Gòn có 5 tiểu khu: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa và Sài Gòn

    Khu vực Mỹ Tho có 4 tiểu khu: Mỹ Tho, Gò Công, Tân An và Chợ Lớn

    Khu vực Vĩnh Long có 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sa Đéc

    Khu vực Bát Xắc có 6 tiểu khu: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ và Sóc Trăng.

Số địa hạt tăng lên 19 hạt. Mỗi hạt tổ chức thêm Hội đồng Quản hạt (Conseil d’arrondissement) với các thành viên được bầu vào là người Việt, là cơ quan tư vấn cho Tòa tham biện.

Chia lại đất Nam Kỳ thành 21 tỉnh, có lẽ thực dân Pháp muốn xóa nhòa hai chữ Lục Tỉnh trong lòng người Việt, cũng là cách cắt đứt lòng lưu luyến với truyền thống, một thủ đoạn tâm lý bên cạnh các cuộc đàn áp những phong trào yêu nước kháng chiến .

Người Pháp cũng vẽ lại bản đồ các tỉnh với những địa danh mới bằng một lối ghi chú tiếng Việt âm Pháp (không còn lưu dụng sau này). Họ nới rông lảnh thổ về phía Nam, về phía Tây để lấn đất Cao Miên, lớp sửa tên cũ thay tên mới cho thuận việc cai trị phân vùng lãnh thổ .

II./Thử tìm một phương pháp giải mã theo cách địa phương

Lại nữa công việc tìm kiếm những địa danh theo Hán -Việt, Môn – Khmer không được ghi chú cập nhật theo các địa phương của những nhà văn, nhà báo, nhà khảo sát sử địa; thường thì những nơi đông dân cư, đồng bằng mới khai phá nhiều thông tin hấp dẫn hơn  .

Như  các khu vực Saigon – Bến Nghé, Đồng Nai -Biên Hòa cận biển, và nhất là đồng bằng sông Cửu Long, miệt vườn miệt ruộng Cần Thơ, Bạc Liêu, Rạch Giá, Đồng Tháp Mười, hay xa xôi hơn nhưng có đông dân đổ dồn về khẩn hoang lập ấp như Cà Mau, Sóc Trăng …ít ai lên xứ khỉ ho cò gáy, rừng thiêng nước độc như Bình Long, Phước Long, Dak – Lac .

Vì vậy cho nên những địa danh trên các vùng cao nguyên thường chỉ có vài tên chữ Hán -Việt của vua chúa thời nguyễn ban tặng; ngưòi dân bản địa tự đăt tên theo ngôn ngữ riêng theo nhiều sắc tộc, nên việc nghiên cứu khảo sát lại tên địa danh các nơi này khó tìm kiếm trên văn bản sữ sách, mà phải căn cứ vào địa danh ghi trên bản đồ, truy tìm lại nhiều tên gọi của người địa phương (sắc tộc) sao cho phù hợp với thời điểm thay đổi .

Nói riêng về tên những địa danh Tỉnh Bình Long, chúng tôi căn cứ theo tên chữ đặt Hán – Việt từ thời nhà Nguyễn (Minh Mạng, Tự Đức), tiếng Pháp (cho đến năm 1954), và nhiều nhất là tiếng Môn – Khmer tạp âm (Miên -Stiêng) .

Một vài ví dụ cho dễ hiểu như tên (phân loại) :

Tên theo Hán -Việt: -Bình Long, tên quận Lộc Ninh, Chơn Thành, các xã Tân Lập Phú, Thanh Bình, Tân Phước, Minh Đức, Tân Hưng ….; các tên ghép Phú Đức, Phú Miêng, Phú Lạc …

_Tên theo tiếng Pháp: ghép thêm Xa co un (1), Xaco deux (2), Xaco vingt -huit (28) …

Tên theo tiếng Môn – Khmer: Tống Lê Chân (Tonlé Cham) Cần Lê (Tonlé) ….

Đi vào chi tiết chiết âm và tìm hiểu ngọn nguồn giải mả, thử đánh giá độ chính xác tên những địa danh còn mơ hồ, chưa hiểu rõ hoạc chưa tìm ra nguồn gốc tin cậy (?)

A/Địa danh Tỉnh Bình Long theo 2 nghĩa chữ Hán -Việt:

1/ (Long)Danh từ:  Rồng tượng trưng cho Vua .

2/(Long)Tỉnh từ : chỉ sự thịnh vượng , tốt đẹp .

Bình Long nếu có tên từ thời nhà Nguyễn, theo truyền thuyết của người địa phương (theo Cao Văn Hà ) kể lại sự tích vua Gia Long đã từng đặt chân đến đây, nên đặt tên cho vùng đất này là vùng có vua đến mang theo sự yên bình ( hay bình định khai hoang) (?); đồi Đồng Long là do vua đứng bên cạnh nhìn xuống cánh đồng rộng thênh thang .

Bình Long là Tỉnh do Tổng Thống VNCH (I) đăt tên khi tách bớt tỉnh Bình Dương ra, mang ý nghĩa một tỉnh mới thành lập, kỳ vọng sẽ là vùng đất tốt đẹp, thịnh vượng .

Địa danh Bình Long mang ý nghĩa nào cũng tốt, phù hợp với lịch sữ: Vua Gia Long bôn tẩu có lần ghé lại đất này. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã hai lần đến Bình Long . Lần đầu vào tháng 6 năm 1971 ông đến khánh thành ấp Tân Khai, lần thứ hai ngày 7-7-1972, ông đáp trực thăng xuống An Lộc thăm và ủy lạo chiến sĩ trong chiến cuộc “Mùa hè đỏ lửa”, và đặt tên cho tỉnh nhà là Bình Long Anh Dũng .

Trước năm 1972 Bình Long là một tỉnh tương đối yên ổn, đa số dân cư sống trong các đồn điền do người Pháp khai thác có môi trường sống an sinh xã hội tốt đẹp, kỹ nghệ khai thác mủ cao su, nghề làm rừng, trồng tiêu, cây trái đem lại cho dân địa phương ấm no thịnh vượng .

B/ Tên các quận lỵ .

a/ Quận Lộc Ninh:

1/Theo nghĩa Hán – Việt: Một nơi an ninh có nhiều điều may mắn tốt lành được hưởng .

 2/Theo tính cách địa dư:  nơi đất yên ổn, có nhiều thú rừng tụ họp; vùng đất xưa còn  hoang vu nhiều nai mễn (lộc dã)sanh sống .

Tiếng Khmer cũng có âm gần giống: “Ông Ninh លោក និញ lok  ninh  gọi là Lok Ninh ?,

Các xã trong Quận cũng lấy chữ Lộc đầu tên cho Lộc Tấn, Lộc Thiện, Lộc Thuận, Lộc Điền ….

Theo truyền thuyết các tỉnh miền Đông dọc theo sông Đồng Nai, Sông Bé các toán thợ săn thú rừng thường lên các vùng cao nguyên này để săn thú, nhất là săn nai, khám phá ra các khu rừng trên đất Lộc Ninh nhiều gỗ quí, nên được cho là của trời cho: vừa có thịt rừng vừa có gỗ quí (lộc rừng) .

b/ Quận An Lộc:

1/Cũng có ý nghĩa như an ổn và lộc hưởng theo nghĩa Hán – Việt .

2/Theo người địa phương căn cứ theo tên địa danh thay đổi thì, An Lộc xưa là tên cũ thời Pháp là của Xã Thanh Lương . (Thị xã An Lộc nguyên là đất của Đồn Điền Xa cam, có tên là Hớn Quản ) . Năm 1959 Tỉnh Bình Long được thành lập, lấy tên An Lộc làm thị xã của Tỉnh Bình Long .

Chiến cuộc An Lộc 72 giữa bộ đội Cộng Sản Bắc Việt xăm nhập và Quân Lực VNCH/Miền Nam nổi tiếng trong nước, vang dội ra ngoài thế giới . Sau năm 1975 chế độ mới XHCN xóa bỏ Tỉnh Bình Long, cùng lúc xóa bỏ luôn địa danh An Lộc; đổi tên lại huyện Hớn Quản, rồi thành thị xã Bình Long, không còn tên An Lộc nữa .Nhưng truy cứu, sưu tầm, tham chiếu thông tin tên An Lộc được chính danh nêu tên, hơn những địa danh thay đổi nhiều lần sau này .

Các xã trong Quận thường lấy chữ Phú (giàu sang phú quí) :Tân Lập Phú, Phú Lạc, Phú Đức, Phú Bình …..

    隆 Long: đầy đủ, hưng thịnh, lớn, tốt đẹp

    富 Phú : giàu có

c/ Quận Chơn Thành: Còn gọi là Chân Thành

1/ Nghĩa Hán – Việt: Đã thành thói quen tánh tình rộng lượng hay cứu giúp  .

2/ Chơn Thành là tên vua ban tặng vì dân chúng ở đây rất chơn chất thật thà (theo Cao Văn Hà)(?)

Nhiều xã lấy chữ Minh (Sáng sủa — Rõ ràng) làm đầu tên như Minh Hưng, Minh Thạnh, Minh Quang …

 I I/Địa danh Tỉnh Bình Long theo nghĩa chữ Pháp đọc trại qua tiếngViệt .

Tên theo Pháp (Đọc trại sang tiếng Việt): Technique (téc níc), Société Internationale de Plantations d’Hévéas (Siph- síp),Société des Caoutchouc d’Extreme – Orient (SEXO)-sếch sô), Sa co un (Xa cô on), Sa cô deux (Sa cô đơ …)

III/Địa danh Tỉnh Bình Long theo nghĩa chữ Mon-Khmer (mả hóa từ nguyên nghĩa địa danh)

Chúng tôi tìm các tên địa danh Tỉnh Bình Long căn cứ từ nhiều nguồn thông tin khác nhau:

– từ danh từ Hán – Việt thời nhà Nguyễn (Minh Mạng, Tự Đức),

– thời kỳ Pháp thuộc xứ Nam Kỳ (Cochinchine),

– thời  VNCH (1954-1975),

– từ những truyền thuyết của dân chúng địa phương,

-và nhất là những địa danh của người bản địa xa xưa .

thì thấy rằng yếu tố nguồn gốc địa danh bắt nguồn từ tiếng Môn – Khmer có cơ sở lý luận hơn,  để giải mả những tên đã có lâu trên bản đồ Tỉnh Bình Long, trên sách báo, tài liệu thông tin lưu trử …(nhưng chưa có lời chú giảng, giải thích rõ ràng chính thức mà ngay cả người dân địa phương cũng không rõ) .

Đó là những địa danh mang tên Xa trạch, Xa cát, Xa cam, Xa cô, ….

Điều dễ hiểu là đất Miền Nam trước kia thuộc Thủy Chân Lập (Khmer – Cambodge) nói tiếng thuộc hệ ngữ Môn – Khmer(nhóm ngôn ngữ các nước thuộc vùng Đông Nam Á ); các địa danh theo người thổ dân bản địa gọi tên bằngngôn ngữ riêng của họ .Khi người Việt di dân vào sống chung với người địa phương họ cũng bắt theo tiếng địa phương khi gọi tên các địa danh, nhưng vì âm ngữ khác biệt nên giọng có sửa đổi , thí dụ như :

Trapeng thành Trà Vinh, Srok Tlang thành Sóc Trăng, Mỳ Xó thành Mỹ Tho, Phsa Đek thành Sa Đéc, Khmau (Tức) thành Cà Mau Kìn Tho thành Cần Thơ, Tà On thành Trà Ôn, Kràng thành Cái Răng…

 Ngoài ra Trịnh Hoài Đức cũng ghi chép rằng người địa phương ít dùng những địa danh về hành chánh .Họ dùng tên của những lỵ sở hoặc chỗ nhóm họp đông lớn hoặc chỗ địa đầu.

Truy nguyên ra từ Xa, theo tiếng Khmer là ផ្សារ ( n ) [psah]: chợ, chỗ mua bán .Bên xứ KPC (Cambodge) có nhiều chợ tên gọi như :

-Psah Thmey”, “New Grand Market”(chợ trung tâm)

-Psah Toul Tompoung (Russian Market)(chợ Nga)

-Psah Chas  “Old Market”(chợ cũ).

1/ Xa trạch: (Psah trek)

Psah ផ្សារ: Xa: ch

trek: ការធ្វើដំណើរ:

 – Một cuộc hành trình dài và khó khăn bằng xe bò ( đặc biệt là một di dân tổ chức bởi một nhóm người định cư [ A long and difficult journey by ox wagon (especially an organized migration by a group of settlers)]

 – Thực hiện một cuộc hành trình dài và khó khăn [make a long and difficult journey]

   -hành trình cuốc bộ, đặc biệt là ở vùng núi- [ journey on foot, especially in the mountains

Như vậy địa danh Xa trạch có thể là tên của một ngôi chợ của một nhóm người du cư mới đến .Người dân bản địa trước đây có thói quen sống dời đổi từ nơi này đến nơi kia; đến đâu có chỗ đông người để lập chợ trao đổi sản phẩm, buôn bán . Nhóm di dân này có thể từ vùng xa núi rừng Bà Rá (B’rah) đến định cư ?

2/ Xa cát (Psah Chas)

Psah Chas: Chợ cũ: ផ្សារចាស់ (old market).

Chợ này sau dời ra Tân Khai (mới khai phá) nơi tập trung đông dân, gần đường lớn (đường thuộc địa13-route colonial 13; sau này mới đổi tên QL13 – route national 13 do người Pháp thiết lập để làm tuyến giao thông chở mủ cao su về bến Thủ Ngử Saigon) –

3/ Xa cam( Psak Kraom)

Psaha kraom:  chợ ở vùng trủng thấp đồng bằng (market in plain low lying areas): ទីផ្សារនៅក្នុង តំបន់ដែល និយាយកុហកទាប ធម្មតា In the Khmer language, កម្ពុជាក្រោម មានន័យថា ” ទាប” ឬ ” ក្រោម”

     kampoucheakraom  ”  kraom” (khmer   krom )

      Xa cam ngày trước là vùng đất rộng lớn, giáp với xã Thanh Lương ( Thời Pháp  lập khu phố, chợ quận Hớn Quản (vùng trủng thấp bằng phẳng) do một quận trưởng người Pháp cai trị; còn An Lộc là Thanh Lương trước kia sau mới  thành thị xã An Lộc(thay Hớn Quản) khi lập Tỉnh Bình Long) .

         4/ Xa cô (Psah Kor)

        Kor :Cây gòn, cây bông gạo kapok tree: ដើមឈើ kapok

Ghi chu(theo Pham Dinh Lan)

Sài Gòn là chữ dịch nghĩa của tiếng Khmer Prei Kor tức rừng gòn (Sài: cây, cùi; Gòn: cây gòn – kapok tree). Cây gòn thuộc gia đình Bombaceae . Tên khoa học của nó là Ceiba pentandra đồng nghĩa với tên Bombax pentandra . Đó là một loại cây gốc ở Tây Phi được trồng khắp các miền nhiệt đới trên thế giới. Lá gòn non, trái gòn non và hoa cây gòn được luộc ăn như rau cải. Người Khmer ăn trái gòn non tươi như ăn chuối chát hay dưa chuột. Hột gòn rang ăn được. Người ta cũng dùng hột gòn để ép dầu có thể dùng trong việc nấu nướng và chiên xào. Trái gòn chín khô, bên trong có nhiều sợi trắng nhuyễn quấn sát vào hột màu đen huyền. Bông gòn dùng để nhồi áo ấm, gối, nệm, làm ấm vách nhà. Than gòn dùng làm thuốc pháo. Nhựa gòn dùng để trị kiết lỵ, tiêu chảy. Lá và vỏ gòn dùng trị chứng nghẽn phổi gây nặng ngực khó thở. Ngoài ra vỏ và lá gòn còn được dùng để đắp ngoài da khi bị thương hay sưng trặc.

Có thể Xã Tân Hưng (1972) trước kia có khu chợ trồng nhiều cây gòn, người Miên gọi là Psah Kor, người Việt đọc trại lại thành Xa cô (có khi gọi là Sa cô). Người Pháp lập đồn điền chia ra nhiều tiểu khu 1,2, 3…..28 (thầy su công nhân gọi trại thành Sa co on(1), đơ (2)deux,….Sa co vanh tuýt (vingt huit)

2 3

Địa danh Sóc Gòn (skrok Gon) cũng nằm trong địa bàn vùng này, là do người Việt ghép chữ (âm) cho dễ nói ?

Người Pháp có lẽ cũng rất thích màu đỏ cây bông gòn, nên họ mang giống cây phượng (điệp) về trồng nhiều nơi trong đồn điền; tàn cây lớn hơn, cho bông màu đỏ thắm hơn, vào mùa hè học trò bãi trường tạo nét thơ mộng cho đồn điền ?

5/ Trà Thanh (AL), Tà Thiết (LN) . Ông theo tiếng Khmer là Tà   តា ?

Tà (Trà) Thanh តា Thanh : Ông Thanh

Tà (Trà) Thiet តា Thiet: Ông Thiết

6/ Kalahon :

– một địa danh của Myarma (Burma)(Miến Điện)?

– Cà Hom(xứ đất đỏ)?

7/ Tào Ô

-xứ cây Từ Ô: đọc theo tiếng Việt thành Tào Ô, vùng đất có nhiều cây hà thủ ô ?

8 / Bồ com:

-Bau  tiếng Khmer có nghĩa là cái bàu nước (Bàu Bàng, Bàu cá …),Bau krom có nghĩa là cái bàu dưới trủng thẩp ?

Kết luận:

Mục đích của bài viết nhằm tìm hiểu nguồn gốc tên các địa danh của Tỉnh Bình Long(trên bản đồ và thông tin sách báo …), từ lâu đã ít được quan tâm tìm hiểu các tên chữ Hán -Việt do triều đình Huế, Nhà Nước Việt Nam, tiếng  Pháp còn để lại, tiếng Môn – Khmer bản địa thời Bình Long chưa lập Tỉnh; và ngay cả cư dân địa phương chịu để ý đến .

Người Việt  có tinh thần hoài cổ nhưng không thích khảo cổ, mới chuộng cũ vong, hoặc thờ ơ lãnh đạm những điều không lợi lộc; thời nay gọi là vô tư, mặc kệ chuyện đời không liên hệ ảnh hưởng đến mình?

Người viết không có tham vọng trả lời chính xác tên các địa danh thuộc Tỉnh Bình Long trước năm 1975 (Sau này còn tệ hại hơn vì sách vỡ tài liệu thời trước bị coi là văn hóa đồi trụy nên bị thủ tiêu đốt sách .Môn sử ký địa lý học sinh cũng chẳng để ý vì không quan trọng trong các kỳ thi cử) .

Các tác giả văn học, nhà biên khảo quả thật ít ao, cả nước chỉ đếm trên đầu ngón tay; tác phẩm cũng không nhiều . Dù có internet giúp cho dễ dàng tìm kiếm tài liệu, nhưng Viêt Nam ít có tài liệu lưu trử phổ biến rộng khắp ra ngoài, hay còn nằm phủ bụi trong các thư viện ngoại quốc .

Người viết mong mõi cao nhân, bằng hữu chí tình chỉ giáo, giúp thêm ý kiến lời vàng tiếng ngọc, cho bài thảo bản biên khảo này thêm nhuận sắc; chỉ đúng ngọn nguồn tham chiếu, giải mả các tên địa danh cho đúng với nguyên nghĩa . Chúng tôi sẽ sửa lại điểm nào thiếu sót viết sai, bổ sung thêm cho đúng tinh thần biên khảo .

Cũng xin đa tạ đọc qua thưởng lãm .

(Trích Biên Khảo Tỉnh Bình Long )

Đã xem 7560 lần

Nhiều Tác giả - Biên Khảo Tỉnh Bình Long

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách