III.    TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU: MẶT TRẬN ĐỊNH QUÁN        

A/- TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG

1/- Địch:

  • Trung đoàn 812/QK6.
  • Sư đoàn 7/QĐ4, gồm các Trung đoàn 141, 165, và 209.
  • Đơn vị xe tăng (đếm được 10 chiếc), đơn vị cao xạ phòng không 37ly (phát hiện 2 khẩu).
  • Tiểu đoàn pháo, gồm các loại 120ly, 122ly, 130ly và 122ly.

2/- Bạn:

  • Lực lượng Chi khu Định Quán.
  • Đại đội 377/ĐPQ.
  • Tiểu đoàn 2/43, Sư đoàn 18BB

Ngày 5 tháng Ba, tại Đồng Xoài, Đảng ủy Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4 tổ chức cuộc họp mở rộng, có Lê Đức Anh, Tư lệnh phó Mặt trận, Bùi Cát Vũ, Tư lệnh phó Quân đoàn, tham dự để bàn thảo nhiệm vụ của Sư đoàn  Một trong những nhiệm vụ trọng yếu là xử dụng lực lượng lớn tiến chiếm các vị trí của ta trên đường QL.20 từ Bắc Túc Trưng đến Phương Lâm. Quan trọng hơn hết là phải tiêu diệt Chi khu Định Quán. Định Quán là vị trí chiến lược quan trọng của Vùng 3 chiến thuật. Hơn nữa quân CSBV tấn công Định Quán, tiến đánh Lâm Đồng là để hổ trợ cho chiến dịch đánh Cao Nguyên Trung phần của chúng. Chiếm được Định Quán còn mở được hành lang giao liên chiến lược quan trọng cho Quân đoàn 4.

B/- DIỄN TIẾN

Trung đoàn 141/Sư 7 làm nổ lực chính, được sự hổ trợ của Trung đoàn 209 bằng cách đánh quấy rối ở hướng Nam cầu sông La Ngà. Trung đoàn 165 tiến chiếm Phân Chi khu Phương Lâm ở hướng Bắc.

Ngày 6 tháng Ba, 35 xe vận tải molotova vận chuyển Sư đoàn 7 từ Phước Long, đến điểm tập kết tại một vị trí gần sông Đồng Nai.

Trong lúc quân CSBV rộn ràng chuẩn bị chiến trường, Sư đoàn 18BB đưa Chiến đoàn 43 của Đại tá Lê Xuân Hiếu lên Túc Trưng. Tiểu đoàn 1/43 của Đại úy Đổ Trung Chu hành quân hoạt động vùng phía Nam cầu sông La Ngà. Tiểu đoàn 3/43 của Thiếu tá Nguyễn Văn Dư vẫn bảo vệ Chi khu Hoài Đức, bên kia sông La Ngà. Ngày 17 tháng Ba, Tiểu đoàn 2/43 của Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế từ Xuân Lộc, được vận chuyển lên bảo vệ Định Quán.

Định Quán nằm trên QL.20, đường đi Đàlạt. Tiểu đoàn ĐPQ/LK của Thiếu tá Làu Vĩnh Quay trấn giữ cầu sông La Ngà (Thiếu tá Quay, Khóa 10 Võ bị Đàlạt, cùng khóa với Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo). Phía Bắc Chi khu Định Quán là Phân Chi khu Phương Lâm, tiếp giáp với Madagui của quận Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng, do lực lượng NQ bảo vệ.

Các đơn vị ĐPQ và NQ chiếm giữ những cao điểm chung quanh để bảo vệ thị trấn. TĐ2/43 đến Định Quán vào khoảng 5 giờ chiều. Đã quá trễ! Vị Tiểu đoàn trưởng chưa có dịp nghiên cứu địa thế, chưa kịp gặp gở các cấp chỉ huy diện địa, chưa nắm rõ tình hình thực sự của địch, thì 5 giờ sáng ngày hôm sau, trận đánh đã mở màn. Thời gian vừa đúng 12 tiếng. Đơn vị chưa kịp làm quen, chưa sẵn sàng!

Tiểu đoàn bố trí quân trên một ngọn đồi ở phía Tây – Bắc quận lỵ, gần căn cứ Pháo diện địa có 2 khẩu 105ly. Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn được Đại đội Chỉ huy và Công vụ của Trung úy Võ Kim Thạch, Đại đội 2 của Trung úy Võ Văn Mười bảo vệ. Tướng Tư lệnh cho kéo theo đơn vị 1 Trung đội Pháo 105ly, 1 Toán Công binh Chiến đấu. Các Đại đội 1 của Trung úy Nguyễn Văn Hào bố trí quân trong một khu rừng chồi phía Đông, Đại đội 3 của Trung úy Nguyễn Tri Hùng chiếm những ngọn đồi ở phía Tây, và Đại đội 4 của Trung úy Hà Văn Dương ở khu rừng hướng Bắc. Trung đội Biệt kích Tiểu đoàn tăng phái cho Chi khu, bảo vệ quận.

Vào lúc trời vừa tối, toán phục kích của Trung úy Dương nổ mìn claymore và súng tiểu liên M.16. Một tiểu đội giặc lọt vào tuyến phục kích, bị tiêu diệt gọn. Tất cả mặc quân phục và mang phù hiệu cấp bậc bộ đội Bắc Việt. Có tên mang ba sao! Có thể là Hạ sĩ nhất, hay Thượng úy. Lúc quá nữa đêm, Trung úy Hào báo cáo một toán VC trên 10 tên lọt vào tuyến tiền đồn của đại đội. Chúng bảo vệ một tên có vẻ là cấp chỉ huy đi giữa. Tất cả đều bị hạ sát. Tịch thu được một khẩu súng lần đầu tiên gặp. Bình thường giống như một khẩu colt 45, khi dương ra trở thành khẩu tiểu liên. Tịch thu được nhiều tài liệu, nhưng đã không có dịp để đọc, cũng chưa kịp thời gửi về Phòng 2/SĐ!

Các Trung đoàn của Sư 7/CSBV đã vào vùng. Tiểu đoàn 2 và 3/141 vào vị trí lúc 9 giờ 30. Theo Ký sự của Sư đoàn 7 (do nhà xuất bản QĐND, Hànội xuất bản năm 1986), Tiểu đoàn 1/141 gặp phục kích, phải đi vòng. Vậy toán giặc bị Đại đội 4 của Trung úy Dương phục kích là đơn vị thuộc Tiểu đoàn 1/141. Đại đội trưởng ĐĐ7/CSBV Phạm Xuân Thiện dẫn đơn vị đột nhập căn cứ Pháo và đồi 112. Từ sáng sớm, Tiểu đoàn không liên lạc được với căn cứ Pháo bạn. Không biết tình hình bên trong như thế nào. Tiểu đoàn 9/209/CSBV hoạt động phía Nam cũng chạm súng với Tiểu đoàn 1/43 của Đại úy Chu.

Đúng 4 giờ 30 phút sáng, pháo địch dồn dập bắn vào BCH/Chi khu, vào quận đường, vào thị trấn. Sau đợt bắn pháo kéo dài 1 tiếng đồng hồ, quân CSBV mở cuộc tấn công.

Quân trú phòng chống cự mãnh liệt. Trung đội Biệt kích/TĐ sát cánh cùng các chiến binh ĐPQ và NQ chiến đấu rất dũng cảm. Gánh cải lương lưu động vừa đến quận trình diễn đêm hôm qua, tá túc trong quận, cũng xông xáo chiến đấu như những chiến binh thực thụ. Không có súng, họ tiếp tế đạn, thức ăn, nước uống và tải thương. Họ nhanh chóng tìm cách xử dụng súng của những quân nhân bị thương vong để lại. Họ là dân, là nghệ sĩ, không hề biết qua súng đạn, nhưng trong giờ phút lâm nguy, họ cũng bắn súng, cũng ném lựu đạn, lo việc tải thương, đã góp công trong việc chống trả quân thù. Đúng như người xưa nói: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh!”

Trung đoàn phó 141/Sư đoàn 7/CSBV Bé Ích Quan bò đến Tiểu đoàn 2, đơn vị mũi nhọn tiến công vào quận. Thấy khó “nuốt”, vì địa thế có nhiều hóc đá. Hắn liền cho tăng cường thêm quân, thêm súng SKZ, súng trọng liên, và gấp rút tổ chức đội hình tấn công.

Tiểu đoàn 2/43 đến tăng cường Định Quán vào buổi chiều, trước giờ tấn công, là một bất ngờ đối với giặc. Thông thường chúng phải học tập, thực tập trên sa bàn, lên kế hoạch hành quân chi tiết.

Suốt buổi sáng, vị trí đóng quân của Tiểu đoàn chỉ bị bắn pháo. Giặc chỉ bao vây, không tấn công. Các Đại đội 1, 3, và 4 nằm tiền đồn bên ngoài cũng trong tình trạng như thế. Chỉ bị bắn pháo. Hai khẩu pháo 105ly kéo theo đã có dịp bắn yểm trợ đắc lực cho quân bạn. Vào lúc quá trưa, các cao điểm chung quanh thị trấn đã thấy xuất hiện lá cờ máu. Tiếp theo cột cờ trong quận cũng thấy ngọn cờ đỏ được kéo lên. Thiếu tá Quận trưởng bị bắt. Trung đội Biệt kích/TĐ biệt phái bảo vệ quận, một số bị thương vong, thành phần còn lại rút chạy về đến Tiểu đoàn. Lợi dụng lúc Tiểu đoàn chưa bị tấn công, Đại đội 3/2 của Trung úy Nguyễn Tri Hùng đang nằm tiền đồn bên ngoài, được lệnh phá vòng vây kéo về phối hợp Đại đội 2 của Trung úy Mười, và Đại đội Chỉ huy của Trung úy Thạch bảo vệ BCH/TĐ. Đại 4 của Trung úy Dương vẫn nằm tại chỗ ở hướng Bắc, và Đại đội 1 của Trung úy Hào ở hướng Đông quận.

Sau khi BCH Chi khu và các cao điểm chung quanh thị trấn thất thủ, Tiểu đoàn 2/43 là vị trí cuối cùng của Định Quán còn đứng vững, nhưng nằm cô đơn giữa biển giặc. Chiếm được quận, địch chuyển hướng tấn công Tiểu đoàn. Mũi tấn công mạnh nhất xuất phát từ hướng Đông – Nam. Đó là tuyến bố phòng của Đại đội Chỉ huy, nơi đặt hai khẩu pháo. Để trả lời các đợt tấn công biển người của quân CSBV, vị Trung đội trưởng pháo cho hạ thấp nòng, trực xạ vào đội hình tấn công của chúng. Những trái đạn chống biển người với hàng ngàn mũi tên bắn chính xác, cùng với tiểu liên M.16, đại liên M.60, và lựu đạn M.26 của bộ binh, đã đốn ngã quân giặc đông như kiến. Nhưng lớp này ngã xuống, lớp khác lại tiến lên. Cảnh tượng giống như khi ta dí ngón tay, giết đàn kiến di chuyển. Một số kiến chết, chúng tản ra, rồi tụ lại tiếp tục. Chúng như những con thiêu thân lao vào ánh đèn. Địch bị sát hại rất nhiều. Cứ sau một đợt tấn công thất bại, chúng tạm ngừng, lo tản thương, tái tổ chức đơn vị, lại mở đội hình tấn công đợt khác. Giặc cố dồn quân dứt điểm vị trí kháng cự cuối cùng này. Vị sĩ quan không yểm bay trên chiếc L-19 bao vùng rất tận tụy. Những phi tuần chiến đấu A-37, F-5E, AD-6 thay nhau dội bom lên đầu quân giặc. Thật cảm động khi Tiểu đoàn trưởng hỏi sao không có người thay thế mà từ lúc sáng tới giờ, vẫn là người bạn không quân ấy. Anh bảo những người khác cũng đang bận rộn, chỉ còn lại anh. Giặc sử dụng cả Trung đoàn 141 bao vây tấn công. Tên Trung đoàn phó Bé Ích Quan trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 2/141. Vị trí phòng thủ của Tiểu đoàn 2/43 chỉ có 2 Đại đội Tác chiến và Đại đội Chỉ huy. Cứ sau một đợt bắn pháo tàn bạo, là đợt tấn công biển người. Theo Thiếu úy Nù, Trung đội trưởng pháo tăng phái, hiện định cư tại Tiểu bang Massachusetts, khi kéo pháo theo TĐ2/43, Thiếu tá Nguyễn Tiến Hạnh, Tiểu đoàn trưởng TĐ181PB đã cho mang theo nhiều trái đạn pháo chống biển người. Chính nhờ loại đạn hiếm này được xử dụng tối đa, đã ngăn chận kịp thời những đợt tấn công của giặc.

Trời về chiều, giặc điều thêm quân. Trận chiến trở nên ác liệt. Quân bạn sắp hết đạn. Tình hình trở nên nguy khốn. Vị trí có thể bị tràn ngập bất cứ lúc nào. Vị Trung đội trưởng pháo được mời đến:

“Anh còn bao nhiêu trái đạn chống biển người?

“Hai trái, thưa Thiếu tá.

  “Vậy chỉ xử dụng khi thấy địch quá đông. Nhớ phải bắn chính xác vào đội hình tấn công của chúng.

  “Nhận hiểu, Thiếu tá”.

Trong lúc đó máy bay vẫn thay nhau đánh bom. Tiểu đoàn trưởng xin đánh bom gần. Có lúc đã xin đánh ngay trên đầu. Người bạn không quân bay trên cao an ủi:

“Thẩm quyền đừng tuyệt vọng. Tôi sẽ cố điều chỉnh chính xác vào đầu giặc”.

Thật sự vị Tiểu đoàn trưởng cũng hơi tuyệt vọng. Nhưng trách nhiệm quá nặng nề. Là một chiến binh của QLVNCH oai hùng, anh nhất định không để đơn vị lọt vào tay giặc. Cả một Trung đoàn quân CSBV đang bao vây tiêu diệt Tiểu đoàn anh. Nếu không thoát được, nếu phải chết thì phải chết sao cho xứng đáng!

Những loạt bom đánh gần rơi trúng ngay đội hình tấn công của địch. Giặc chết vô số. Tiếng rên la dậy trời. Chúng đang cầu xin và than khóc: “Bác ơi! Đảng ơi! Con chết mất!” Tuyệt nhiên không hề nghe thấy tiếng “Trời ơi!” hay “Bố Mẹ ơi!”. Những tên lính “Sinh Bắc Tử Nam” này là đội quân tiên phong của Quốc tế Cộng sản. Chúng chiến đấu không phải cho gia đình, cho Tổ quốc Việt Nam, mà cho Bác Hồ và Đảng Cộng sản của chúng. Chúng bị tuyên truyền, bị nhồi sọ, bị tẩy não để thực hiện giấc mơ thế giới đại đồng của Hồ Chí Minh. Lão Hồ khi đến thăm khu lăng mộ của Đức Trần Hưng Đạo, đã hợm hĩnh đề thơ:

“Bác đưa một nước qua nô lệ,

Tôi dắt năm châu đến đại đồng”.

Ta đừng lấy làm lạ khi Phạm Văn Đồng theo lệnh Hồ Chí Minh, thi hành chỉ thị của đảng CSVN, ký văn kiện dâng quần đảo Hoàng Sa cho Trung cộng.

Trong chiến trận, người chiến binh phải chấp nhận thương đau, chấp nhận nổi bất hạnh. Và phút bất hạnh đã đến với đơn vị khi hai trái bom cuối cùng rơi ngay tuyến phòng thủ. Ta với giặc cùng chết. Quân bạn chịu một số tổn thất. Đội hình tấn công của giặc áp sát quân bạn, bị hai trái bom tiêu diệt, tan rã. Lợi dụng lúc giặc bối rối, số sống sót tản mát vào các cụm rừng, Tiểu đoàn trưởng gọi máy gặp trực tiếp Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo, xin lệnh đưa đơn vị ra khỏi vòng vây. Phối hợp cùng hai đại đội bên ngoài, đơn vị phá vòng vây giặc, di chuyển đến bố trí quân trên một cụm đồi ở hướng Tây.

Suốt ngày chống trả đơn độc. Không có pháo yểm trợ. Tiểu đoàn chỉ trông chờ vào không quân. Mệt mỏi rã rời, đạn dược cạn, con số thương vong mỗi lúc lên cao. Đơn vị đã mất khả năng chiến đấu nhạy bén. Tại cụm đồi này, Tiểu đoàn trưởng dự định nghỉ ngơi lấy lại sức, sau đó vào lúc nửa khuya sẽ di chuyển về cầu sông La Ngà, sẽ mang theo với gần 100 thương vong.

Bản tin buổi chiều đài BBC hôm đó loan tin quận Định Quán thất thủ. Nhưng sau đó, phát ngôn viên chính phủ, Trung tá Lê Trung Hiền họp báo cải chính:“Quận Định Quán chưa mất, hiện quân chính phủ đang tổ chức phản công địch…”

Tin của đài BBC và lời đính chính của phát ngôn viên chính phủ đều đúng. Khi Tiểu đoàn 2/43 vào vùng chiều ngày 17 tháng Ba, để thống nhất chỉ huy, Tướng Đảo chỉ thị đặt tất cả lực lượng quân sự tại Định Quán dưới quyền chỉ huy của TĐT/TĐ2/43. Do đó khi Trung tá Hiền nói Định Quán chưa mất thì cũng đúng, vì TĐ2/43 vẫn còn nằm tại Định Quán.

Trong lúc đó địch vẫn bám sát, nhưng chưa có hành động nào. Trung đoàn 141 phối hợp cùng Trung đoàn 165, được tăng cường thêm 4 xe tăng. Trong đêm, chúng điều quân bao vây, vòng vây mỗi lúc một khép kín, xiết chặt dần dần.

Đêm đó bầu trời đầy sao, có vầng trăng khuyết. Ánh sáng yếu ớt tỏa xuống trần gian, một thứ ánh sáng nhợt nhạt, lạnh lẽo! Từ trên đồi cao, ta có thể thấy rõ ràng địch đang điều quân ở bên dưới. Trông chúng như những con ma đi ăn đêm. Tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng giả chim, giả thú rừng. Nhưng pháo từ Chiến đoàn bắn không tới. Ban đêm máy bay không hoạt động được. Chỉ còn một phương tiện hỏa lực yểm trợ duy nhất là 2 cây đại pháo 175ly ở Xuân Lộc. Nhưng cứ mỗi 5 phút hay lâu hơn mới bắn được một trái, mà độ sai số thì quá lớn, do đó không thể bắn yểm trợ gần quân bạn được.

Lối 9 giờ đêm, Tướng Tư lệnh gọi nói chuyện với Tiểu đoàn trưởng. Ông cho biết vì lời cải chính của phát ngôn viên chính phủ, Tướng Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Văn Toàn quyết định TĐ2/43 phải ở lại Định Quán. Sẽ có quân cứu viện vào ngày mai để mở cuộc hành quân tái chiếm thị trấn Định Quán. Nhưng ngày mai đó đã không bao giờ đến! Lối 5 giờ sáng, với chiến thuật cố hữu “Tiền pháo Hậu xung”, quân địch có chiến xa dẫn đầu, đông gấp bội lần, đã đè bẹp vị trí bố phòng tạm bợ của TĐ2/43 với vũ khí đã cạn hết  đạn dược. Giặc xông lên, tràn ngập ngọn đồi. Lúc đó TĐT, và vị sĩ quan tiền sát pháo binh đang cố điều chỉnh bắn pháo. Đột nhiên người lính cận vệ la lớn: “Bảo Định! Bảo Định! (danh hiệu truyền tin của TĐT)” Vị TĐT ngước nhìn lên. Một toán bộ đội cộng sản với súng AK đã gắm lưởi lê đang tiến lại gần, khoảng cách rất ngắn. Tiểu đoàn trưởng chỉ kịp hét lên: “Lăn xuống núi!” Và những người lính còn lại chỉ kịp lăn xuống triền dốc, lẫn sâu vào rừng cây. Sau đó tìm cách di chuyển về cầu sông La Ngà.

Buổi chiều ngày 19 tháng Ba, đơn vị về đến cầu sông La Ngà, được trực thăng tiếp tế lương thực và đạn dược. Trực thăng bốc đi những thương binh. Linh mục cai quản họ đạo sở tại đến thăm. Cha tự giới thiệu là cựu Trung úy Quân đội Quốc gia, từng tham dự trận Điện Biên Phủ, cha tâm sự:

“Chiều hôm kia thấy tiểu đoàn con di chuyển lên Định Quán là cha thấy không xong rồi. Lối một tuần lễ trước đây, cha bị họ đưa vào rừng cho coi một cuộc biểu dương lực lượng. Cha thấy chúng có nhiều quân, nhiều đại pháo, và lối 10 chiếc xe tăng”.

Tin tức của cha phù hợp với báo cáo của Trung úy Hào, ĐĐT/ĐĐ1/2 bố trí quân ở hướng Đông quận lỵ. Buổi sáng khi Cộng quân mở cuộc tấn công Chi khu, trước tuyến bố phòng của đại đội, xuất hiện 10 chiếc xe tăng. Những chiếc xe này chỉ nổ máy, chạy qua chạy lại, mà không tiến vào thị trấn. Hình như chỉ để thị uy, hay chúng sợ không dám vượt qua tuyến bố phóng của quân bạn. Tin này được gửi ngay về Sư đoàn.  Khi Tướng Tư lệnh Quân đoàn III Nguyễn Văn Toàn về thăm BTL/SĐ18BB tại Xuân Lộc, Trung tá Thịnh, Trưởng Phòng 2/SĐ thuyết trình cho biết có 10 chiếc xe tăng địch xuất hiện tại mặt trận Định Quán. Tướng Toàn không tin. Ông nói: “Chúng đi đường mô mà đến đó”. TĐT/TĐ 2/43 được gọi đến trình diện. Tướng Toàn đã không có lời bình luận nào khi vị TĐT trình bày những điều mắt thấy tai nghe. Sau này khi đi tù, đọc báo “Quân đội Nhân dân”, tình cờ đọc bài viết về cách vượt sông của những đoàn xe cơ giới và thiết giáp. Có thể là tác giả cường điệu. Chúng chọn những khúc sông cạn, dùng những bó chà, tre nứa và cây rừng cột lại làm cầu phao. Trần Văn Trà viết hồi ký cho biết được Liên Xô cung cấp mấy bộ cầu ghép. Phó phòng Công binh Miền Bùi Hữu Trừ, tức Sáu Nhản báo cáo:

“Tất cả xe pháo đều được đưa qua sông trên phà ứng dụng: giữa là khoang thuyền hiện đại, hai bên là vật nổi tự tạo…”    

Buổi tối hôm đó, Tiểu đoàn đóng quân ngay dưới gầm cầu La Ngà, gần căn cứ Tiểu đoàn/ĐPQ. Thiếu tá Quay rất ưu ái TĐT/TĐ2/43. Vì chỉ vài năm trước, họ đã gặp nhau tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Thiếu tá Quay là Đại đội trưởng Khoá sinh, vị TĐT bây giờ, lúc đó là khóa sinh ĐĐT. Tình thầy trò, tình chiến hữu dễ thân nhau. Nhưng rất tiếc, họ  đã không có dịp cùng nhau chống trả quân địch, khi đơn vị ĐPQ này bị đại bại vài ngày sau đó. Thiếu tá Quay đã bị bắt.

Lúc trời gần sáng, TĐ2/43 được lệnh di chuyển về Túc Trưng. Ngày hôm sau, được quân xa đưa về Xuân Lộc. Tiểu đoàn nghỉ dưỡng quân tại hậu cứ ở Núi Thị.

Trong thời gian gần 20 ngày, trước khi tham gia trận chiến cuối cùng, đơn vị được bổ sung quân số. Tiểu đoàn đã đạt được con số trên 600, tương đối khá đầy đủ. Dù tình trạng khẩn trương, giặc đang gần kề, nhưng đơn vị có một số lớn là tân binh, kể cả sĩ quan từ các khóa chót của Trường Võ Bị Quốc Gia ĐàLạt, nên cần được huấn luyện bổ túc tại chỗ. Việc sinh hoạt chính huấn để hun đúc tinh thần cũng không thể bỏ sót. Dù bận rộn, Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo cũng đã đến đơn vị tâm tình với quân sĩ hai lần.

  1. TRẬN ĐÁNH QUYẾT ĐỊNH: MẶT TRẬN XUÂN LỘC

A/- CHUẨN BỊ CHIẾN TRƯỜNG

Thị xã Xuân Lộc như một ấp chiến lược, chiều dài vài cây số, chạy dọc theo QL.1, theo hướng Bắc – Nam; chiều ngang khoảng 1 cây số, theo hướng Đông – Tây. Hầu hết khu vực dân cư, phố xá, các cơ sở hành chánh, trường học và căn cứ quân sự đều nằm hướng Đông. Phía Tây QL.1 là rừng cao su, trải dài đến Núi Thị, xa hơn là đèo Mẹ Bồng Con. Khu vực giữa thị xã và Núi Thị không thể là con đường xâm nhập của Cộng quân, nên được giao cho lực lượng diện địa phòng thủ. Vòng cung hướng Đông tiếp giáp với rừng, do lực lượng cơ hữu Sư đoàn đảm nhận. Hai đầu thị xã, Tướng Tư lệnh cho đắp những ụ chống chiến xa. Hàng rào bao quanh thị xã được tăng cường thêm những vòng rào kẽm gai concertina. Một loại kẽm gai vòng ngăn chận xe thiết giáp rất hữu hiệu. Mìn chống chiến xa được cấp phát tối đa, được gài đặt bất cứ nơi nào xe tăng giặc có thể mò đến.

Trong kho đạn của Sư đoàn, có nhiều loại hỏa tiễn chống chiến xa của trực thăng, loại nòng cở 2.75. Đây là loại hỏa tiễn quân CSBV đã xử dụng trong trận chiến An Lộc hồi mùa hè năm 1972. Chúng lấy được từ những kho vũ khí của Quân đội Hoa Kỳ để lại tại Phi trường Quảng Lợi. Ống phóng chỉ là ống nứa chẻ làm đôi với cục pin là đủ. Tầm xa độ vài trăm mét. Đạn đạo không chính xác, nhưng cũng gây thiệt hại đáng kể khi trúng mục tiêu. Tướng Đảo cho mở kho, cung cấp loại đạn này cho quân sĩ, và huấn luyện họ cách xử dụng. Đại đội Trinh sát 18 của Đại úy Phạm Hữu Đa là đơn vị sở đắc thứ này nhiều nhất. Đơn vị này có nhiệm vụ bảo vệ BTL/TP và TTHQ/SĐ, bố phòng tại cửa ngõ QL.1, từ Cua Heo đi vào thị xã, và các cao ốc bên trong Xuân Lộc.

Để đề phòng tình huống xấu, Sư đoàn cho thiết lập nhiều căn cứ hỏa lực. Quan trọng hơn hết là căn cứ hỏa lực Núi Thị. Do địa thế núi cao, tầm quan sát rộng, những khẩu pháo đặt tại đây có thể khống chế khu vực ngã ba Dầu Giây và thị xã Xuân Lộc nằm bên dưới. Ngoài Trung tâm Hành quân tại BTL/SĐ cũ ở hậu cứ, 3 Trung Tâm khác được thiết lập tại Tư dinh Tướng tư lệnh, ở ngã ba Tân Phong ( số 2, gần quận đường Xuân Lộc), và Núi Thị (số 3, căn cứ Tiểu đoàn 2/43). Mỗi vị trí đều được thiết kế đầy đủ thiết bị cho một Trung tâm Hành quân cấp Sư đoàn.

        Tiểu đoàn 18 Quân Y và Bệnh xá Sư đoàn di chuyển về căn cứ Long Bình. Thân nhân và gia đình binh sĩ được khuyến khích về Biên Hòa.

“Văn ôn, võ luyện” là điều các đơn vị trưởng luôn bận tâm. Dù chiến trận đang gần kề, quân CSBV đã chiếm hết Vùng 1 và Cao Nguyên Trung phần, bộ đội của chúng đã vào đến Nhatrang, nhưng việc huấn luyện binh sĩ vẫn không hề xao lảng. Các đơn vị vẫn thường xuyên được huấn luyện tại chỗ và sinh hoạt chính huấn. Trong giai đoạn hiện tại, quân CSBV đã thường xuyên xữ dụng xe tăng và xe bọc thép phối hợp cùng bộ binh tấn công ta. Do đó binh sĩ phải được huấn luyện kỹ thuật chống chiến xa, cách sử dụng súng M.72 và XM.202 sao cho chính xác. Đây là 2 loại hỏa tiễn chống tăng rất hữu hiệu. Các đơn vị lại được cấp phát thêm loại đạn M.79 chống chiến xa. Với khẩu súng nhẹ nhàng, lối 3 kg, có tầm bắn xa hơn 300 mét, là vũ khí chống chiến xa tiện lợi.

BTL/Quân đoàn III cho tăng phái đến mặt trận Xuân Lộc 2 khẩu đại bác tự hành 175ly đặt trên bánh xe xích với tầm tác xạ trên 30 cây số.

B/- TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG

1/- Địch:

Quân đoàn 4/CSBV do Thiếu tướng Hoàng Cầm chỉ huy.
Quân đoàn 4/CSBV do Thiếu tướng Hoàng Cầm chỉ huy.

Hoàng Cầm tên thật Đỗ Văn Cẩm, sinh năm 1920, con nhà nghèo, mù chữ, chỉ biết đọc biết viết sau khi đã vào bộ đội Việt Minh, tham gia lớp học bình dân học vụ. Năm 21 tuổi đi lính khố xanh để kiếm sống, đồn trú tại Lai Châu, sau thuyên chuyển về Hà Nội, rồi đào ngũ, sau đó tham gia Việt Minh. Cuộc đời binh nghiệp của Hoàng Cầm leo lên từ cấp Tiểu đội trưởng (1946) đến cấp Thượng tướng (1987). Trong trận Điện Biên Phủ, Hoàng Cầm là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 (còn có tên Trung đoàn Sông Lô) thuộc Đại đoàn 312, Cầm chỉ huy đơn vị đánh chiếm Trung tâm Chỉ huy của Tướng Pháp Christian de Castries. Hoàng Cầm xâm nhập vào Nam năm 1964, được cử giữ chức chỉ huy Sư 9, là đơn vị chủ lực của quân VC, rồi làm phó cho Trần Văn Trà. Ngày 20   tháng 7 năm 1974, Quân đoàn 4 thành lập (còn gọi Binh đoàn Cửu Long), gồm sư 7 và Sư 9, Hoàng Cầm được cử kiêm Tư lệnh Quân đoàn tân lập này.

Người xưa có nói: “Nhân bất học, bất tri lý”. Học vấn là chìa khóa của tri thức. “Nhỏ không học, lớn làm Tướng” là một đại họa cho một đạo quân. Với khoảng 40 ngàn quân trong tay, tiến đánh một đối thủ chỉ có vỏn vẹn 5 ngàn quân (ngày đầu tiên, chỉ có 2 Trung đoàn thiếu là 43 và 48, và Thiết đoàn 5/KB thiếu), Thiếu tướng Hoàng Cầm đã không làm nên cơm cháo gì, lại bị thảm bại. Hắn đã nướng ít nhất 10 ngàn quân dưới quyền. Nhưng Hoàng Cầm vẫn được thăng cấp, thăng chức! Thật ra cái gọi là “Quân đội Nhân dân” của CSBV không thể làm khác. Nếu cách chức, lột lon Hoàng Cầm thì hóa ra công nhận thất bại hay sao. Chúng phải nuôi ảo tưởng chiến thắng để đánh lừa nhân dân và quân đội. Chính vì thế, mặt dầu thất bại nặng nề, hằng năm chúng vẫn trơ trẽn làm Lễ Chiến Thắng Xuân Lộc!

Một Quân đội văn minh và tiên tiến như QLVNCH thì ngược lại: Có công thì thưởng, có tội phải phạt. Đó là trường hợp của Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, cựu Tư lệnh Sư đoàn 3BB bị lột lon thành Binh Nhì, bị cách chức khi để mất tỉnh Quảng Trị hồi mùa hè đỏ lửa năm 1972. Mặc dù lúc đó Sư đoàn 3BB do ông chỉ huy không thể đối đầu với đại quân của CSBV với quân số và vũ khí vượt trội, ngang nhiên vượt sông Bến Hải đánh chiếm Quảng Trị. Nhưng vì là Tướng chỉ huy, ông phải chịu trách nhiệm về sự để mất thành. Ngày xưa, Võ Tánh và Hoàng Diệu đã chết theo thành.

Khi tham gia trận đánh Xuân Lộc, QĐ4 có các đơn vị cơ hữu và thống thuộc như sau:

  • Sư đoàn 6 do Đặng Ngọc Sĩ (Phó Tư lệnh Quân khu) chỉ huy, có các Trung đoàn 33, 274, 812.
  • Sư đoàn 7 do Lê Nam Phong (tên này tính nóng như lửa, ăn nói cộc cằn và thô lỗ) chỉ huy, có các Trung đoàn 141, 165, 209.
  • Sư đoàn 341, khi sát nhập vào QĐ4, được cải danh là Sư đoàn 1, do Trần Văn Trấn (tên này bị quân ta bắt làm tù binh, được trao trả hồi Hiệp định ngừng bắn Paris) chỉ huy, có các Trung đoàn 266, 270, 273.
  • Lữ đoàn 52 Bộ binh.
  • Một Tiểu đoàn pháo 130 ly.
  • Một Trung đoàn và tăng cường thêm 1 Tiểu đoàn pháo phòng không.

Trung đoàn 26 xe tăng, có các Tiểu đoàn 21, 22 và 1 Tiểu đoàn vừa từ Miền Bắc vào. Vào những ngày cuối, QĐ4 còn được tăng viện thêm 1 ĐĐ xe tăng.

  • Trung đoàn 95B (vào vùng trước ngày 15.4.75).
  • Sư đoàn 325, có các Trung đoàn 18, 95, 101 (vào vùng ngày 15. 4.75).
  • Liên đoàn 75 Pháo binh.
  • Quân đoàn 2 của Nguyễn Hữu An, có thêm Sư đoàn 3 của Quân khu 5 do Lê Trọng Tấn thống lĩnh (xuất hiện ở Rừng Lá ngày 21.4.75).

2/- Bạn:

Sư đoàn 18BB do Chuẩn tướng Lê Minh Đảo làm Tư lệnh.

Tướng Lê Minh Đảo
Tướng Lê Minh Đảo
Đ/tá Ngô Văn Minh, SQ Tùy viên, Tr/tá Lê Xuân Hiếu và Tướng Đảo tại An Lộc, 1972
Đ/tá Ngô Văn Minh, SQ Tùy viên, Tr/tá Lê Xuân Hiếu và Tướng Đảo tại An Lộc, 1972

Chuẩn tướng Lê Minh Đảo sinh năm 1933 tại Gia Định, tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Cuộc đời binh nghiệp của ông bắt đầu từ Sĩ quan Cán bộ Trường VBQGVN, Sĩ quan Tùy viên Tướng Lê Văn Kim, Tiểu đoàn trưởng TĐ1/31/SĐ21BB, Trung đoàn phó TrĐ31/SĐ21BB, Giám đốc TTHQ Quân đoàn IV & Quân khu 4, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng các Tiểu khu Long An, Chương Thiện và Định Tường. Từ Tháng 3/1972 đến tháng 4/1975: Tư lệnh Sư đoàn 18BB. Vinh thăng Chuẩn tướng ngày 1.11.1972, Thiếu tướng ngày 25.4.1975.

Tướng Đảo là một trường hợp hiếm có trong QLVNCH. Ông thăng quan tiến chức không dựa vào chính trị. Cấp bậc Chuẩn tướng do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gắn lên ve áo trận, do những chiến công hiển hách của Sư đoàn tại mặt trận An Lộc trong năm 1972, khi đại đơn vị của ông nhảy vào An Lộc thay thế Sư đoàn 5BB để giữ “Bình Long Anh Dũng”. Cấp bậc Thiếu tướng lại do Tổng Thống Trần Văn Hương ký vinh thăng, do những chiến công thần kỳ của Sư đoàn tại Mặt trận Xuân Lộc tháng Tư năm 1975.

Đầu năm 1972, đang là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Định Tường, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 18BB, thay thế Thiếu tướng Lâm Quang Thơ. Báo chí Sài Gòn dạo đó đã ồn ào về việc bổ nhiệm này. Họ cho rằng Đại tá Đảo chưa từng chỉ huy đơn vị tác chiến (họ đã nói sai), tại sao lại được chỉ huy đơn vị cấp sư đoàn? Nhưng Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Vùng 3 Chiến thuật, đã mở cuộc họp báo và tuyên bố, đại ý xin giới truyền thông báo chí hảy chờ trong 6 tháng sẽ có câu trả lời. Đại tá Đảo đã không chờ đến 6 tháng, chỉ một thời gian ngắn sau khi nắm chức Tư lệnh Sư đoàn, ông đã chứng tỏ là một cấp chỉ huy giỏi.

Theo sự đánh giá của của Bộ TTM/QLVNCH và Đồng Minh, Sư đoàn 18BB là một trong vài sư đoàn kém hiệu năng. Nhưng đơn vị này đã nhận được luồng gió mới kể từ khi Đại tá Lê Minh Đảo về giữ chức Tư lệnh. Ông đã dẫn dắt sư đoàn từ yếu kém trở thành sư đoàn thiện chiến nhất của QLVNCH trong giai đoạn cuối: “…the 18th Division proved in the end to be the best division in the Republic of Vietnam Armed Forces” (Historical Atlas Of The Vietnam War). Mãi đến năm 1972, Quân kỳ Sư đoàn chỉ được tưởng thưởng 1 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, nhưng đến năm 1975, QK/SĐ đã được tưởng thưởng thêm 3 ADBT với Nhành DL, và được vinh dự mang Giây Biểu Chương màu Quân Công Bội tinh (màu xanh). Ông là một trong số các vị Tướng lên cấp không dựa vào chính trị. Ông cũng là 1 trong 4 vị Tướng được CSBV thả ra cuối cùng sau 17 năm tù cải tạo. Một người bạn Mỹ của ông, Richard Childress, Giám đốc Á châu Sự vụ trong Hội đồng An ninh Quốc gia thời Tổng thống Reagan, đặc trách về Tù binh, thường có dịp làm việc với Nguyễn Cơ Thạch, Ngoại trưởng của Hànội, đã yêu cầu Thạch phóng thích người bạn. Thạch hỏi ai, Childress nói Lê Minh Đảo. Thạch nhăn nhó và lầu bầu: “Đó là một gả cứng đầu” (That’s a tough one). Theo George J. Veith & Merle L. Pribenow II – Fighting Is An Art.

1

Thiếu tướng Lê Minh Đảo đến định cư Hoa kỳ tháng 4 năm 1993, sau 17 năm tù dưới chế độ Cộng sản bạo tàn. Ông là một trong 4 vị tướng QLVNCH được nhà cầm quyền CS Hànội thả ra cuối cùng ( Ba vị kia là Thiếu tướng Đổ Kế Giai, Chuẩn tướng Lê Văn Thân và Thiếu tướng Trần Bá Di).

Cho đến nay, trên nhiều diễn đàn, trên nhiều quyển sách viết về trận chiến Xuân Lộc (phe ta và phe cộng sản), trong đó không ít là những ngòi bút nổi tiếng, đã viết sai về lực lượng bạn tham chiến tại Xuân Lộc.

Trong suốt 12 ngày đêm của trận chiến, không hề có bóng dáng của Liên đoàn 81/BCND của Đại tá Huấn; không hề có người lính mũ xanh nào của Chuẩn tướng Lân; Trung đoàn 8/Sư đoàn 5 của Trung tá Hùng ở ngoài tuyền phòng thủ của Xuân Lộc, tận Hưng Lộc – Hưng Nghĩa, cách xa ngã ba Dầu Giây lối 3 cây số, mà Dầu Giây thì cách Xuâ Lộc hơn 10 cây số; Lữ đoàn 3 Xung kích của Chuẩn tướng Khôi có cho xe pháo và đơn vị BĐQ tùng thiết đi giải cứu Chiến đoàn 52 của Đại tá Dũng, nhưng bị chận đứng tại một ngọn đồi ở phiá Bắc Hưng Nghĩa. Tại Xuân Lộc, đơn vị BĐQ tham chiến là Tiểu đoàn 82 của Thiếu tá Vuơng Mộng Long, thuộc Liên đoàn 24, vừa di tản từ Cao Nguyên về, và chỉ còn lối 200 tay súng.

Chính xác tại thị xã Xuân Lộc, lực lượng tham chiến gồm có:

  • Trung đoàn 43 do Đại tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy.
  • Trung đoàn 48 do Trung tá Trần Minh Công chỉ huy.
  • Đại đội 18 Trinh sát do Đại úy Phạm Hữu Đa chỉ huy.
  • Biệt đội Kỹ thuật/Phòng 7/BTTM do Đại úy Phát chỉ huy.
  • Thiết đoàn 5 Kỵ binh do Trung tá Trần Văn Nô chỉ huy.
  • Pháo binh Sư đoàn: Tiểu đoàn 180 (155ly), và các TĐ/Pháo 105ly: 181, 182, 183.
  • 2 khẩu đại bác tự hành 175ly của PB/QĐIII tăng phái.
  • Tiểu đoàn 82/BĐQ do Thiếu tá Vương Mộng Long chỉ huy.
  • Lữ đoàn 1 Nhảy Dù do Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy (được trực thăng vận vào Xuân Lộc kể từ 12.4).
  • Các đơn vị ĐPQ và NQ/LK tại Xuân Lộc của Đại tá Phạm Văn Phúc.

            Chiến đoàn 52 do Đại tá Ngô Kỳ Dũng chỉ huy, gồm Trung đoàn 52 (trừ Tiểu đoàn 2/52 của Đại úy Huỳnh Văn Út xuất phái cho Xuân Lộc từ đêm 11.4, và đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Lê Xuân Hiếu, Trung đoàn trưởng 43BB), Chi đoàn 2/5 TK của Đại úy Vũ Đình Lưu và 1 Chi đội Chiến xa, Tiểu đoàn 182 Pháo binh Sư đoàn của Thiếu tá Nguyễn Thanh Trước, Trung đội Hỏa tiễn TOW, và 1 Toán Công binh Sư đoàn. Nhiệm vụ của CĐ52 là hoạt động bảo vệ an ninh QL20 từ ngã ba Dầu Giây đến Kiệm Tân, nằm ngoài tuyến phòng thủ Xuân Lộc.

            Đại đội Trinh sát 43 của Trung úy Dương Trọng Khoát hoạt động vùng Núi Ma, vào hệ thống truyền tin của CĐ52, nhưng hoàn toàn độc lập với Chiến đoàn. Do đó khi CĐ52 bị quân CSBV tràn ngập, phải bỏ phòng tuyến chạy về Trảng Bom, đơn vị này vẫn giữ vững vị trí cho đến đêm 20.4. Khi có lệnh triệt thoái, ĐĐ43/TS đã cùng di chuyển một lúc với TĐ2/43, nhưng theo hướng Tây về Trảng Bom.

            Tiểu đoàn 2/43 của Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế hoạt động vùng Núi Thị, cách xa thị xã Xuân Lộc hơn 3 cây số về hướng Tây. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn là bảo vệ căn cứ hỏa lực gồm 2 Pháo đội 105ly và 1 Pháo đội 155ly, đồng thời chận đứng quân CSBV xâm nhập từ hướng Suối Tre ở phía Bắc và hướng đèo Mẹ Bồng Con ở phía Tây. Khi Xuân Lộc được lệnh triết thoái, Tiểu đoàn 2/43 có nhiệm vụ đánh nghi binh chận hậu. Do đó đơn vị này vẫn nằm tại chỗ, hoạt động bình thường cho đến khi có lệnh rút. Lúc đó là 3 giờ sáng ngày 21.4.

            Khi quân CSBV nổ súng tấn công thị xã Xuân Lộc, Tiểu đoàn 2/48 của Thiếu tá Đổ Duy Luật đang đồn trú tại tỉnh Bình Thuận của Đại tá Trần Bá Thành, bảo vệ an ninh cho thị xã Hàm Tân, và chỉ được kéo về vào buổi chiều ngày hôm sau.

C/- PHỐI TRÍ LỰC LƯỢNG

Phóng Đồ Kế Hoạch Điều Quân Mặt Trận Xuân Lộc (Trần Đỗ Cẩm) (Tại mặt trận Ngã ba Dầu Giây, chính xác là Chi đoàn 2/5/TK của Đại úy Vũ Đình Lưu)
Phóng Đồ Kế Hoạch Điều Quân Mặt Trận Xuân Lộc (Trần Đỗ Cẩm)
(Tại mặt trận Ngã ba Dầu Giây, chính xác là Chi đoàn 2/5/TK của Đại úy Vũ Đình Lưu)

1/- Địch:

  • Sư đoàn 6/CSBV do Đặng Ngọc Sĩ, Phó Tư lệnh Quân khu 7 chỉ huy. Từ những cánh rừng vùng Tánh Linh và Hoài Đức, vượt qua QL.1 (khu vực Rừng Lá), vượt qua LTL.2 (Xuân Lộc – Bà Rịa), nhanh chóng di chuyển xuyên qua đồn điền cao su Ông Quế, tiến về hướng Bắc, Sư đoàn này tung các đơn vị áp sát QL.1 tại vùng ngã ba Dầu Giây. Chỉ huy sở Sư đoàn đặt tại Suối Râm, cách ngã ba Dầu Giây 9 cây số về hướng Nam:
    • Trung đoàn 274 chiếm đèo Mẹ Bồng Con, một phần ấp Trần Hưng Đạo, tổ chức hệ thống kiềng chốt để ngăn chận quân bạn từ ngã ba Dầu Giây hay từ Xuân Lộc.
    • Trung đoàn 33 tiến chiếm ấp Phan Bội Châu, tổ chức hệ thống kiềng chốt đến xã Hưng Lộc.
    • Trung đoàn 812 làm lực lượng trừ bị.
    • Sư đoàn có 2 khẩu DKZ, 3 khẩu pháo 105ly và 2 khẩu cối 120ly, bố trí cách ngã ba Dầu Giây 5 cây số về hướng Nam, tại vùng Suối Bi, Suối Hòn.
  • Sư đoàn 7/CSBV do Lê Nam Phong chỉ huy. Từ những cánh rừng cao su vùng đồn điền An Lộc, tiến sát thị xã Xuân Lộc ở hướng Đông – Nam:
    • Trung đoàn 165 áp sát vòng đai thị xã ở hướng Đông – Bắc, tiến đánh khu vực hậu cứ Sư đoàn 18BB và các đơn vị thống thuộc.
    • Trung đoàn 209 áp sát hướng Đông – Nam. Tiến chiếm sân bay thị xã và Tòa Hành chánh Tỉnh. Đơn vị này bị Tiểu đoàn 82/BĐQ chận lại, không tiến lên được.
    • Trung đoàn 141 làm lực lượng trừ bị. Nhưng bước qua ngày 10.4, tên Tham mưu trưởng Sư đoàn đã sử dụng đơn vị trừ bị này và Tiểu đoàn Phòng không vào chiến đấu. Trung đoàn 141 phối hợp cùng Trung đoàn 165 tiến đánh hậu cứ SĐ18BB, hậu cứ Thiết đoàn 5 Kỵ binh và hậu cứ Trung đoàn 52. Nhưng chúng đã bị các chiến binh 18 chận đứng từ bên ngoài.
  • Sư đoàn 341/CSBV do Trần Văn Trấn chỉ huy. Từ những cánh rừng cao su đồn điền Bình Lộc, di chuyển áp sát thị xã ở hướng Bắc. Chỉ huy sở Sư đoàn đặt tại vùng Suối Đá Bàn trong đồn điền Bình Lộc, cách Xuân Lộc lối 6 cây số về hướng Bắc, nhưng Sư trưởng Trần Văn Trấn đi theo cánh quân Trung đoàn 266 tiến chiếm thị xã:
    • Trung đoàn 266 áp sát Cua Heo, tiến qua làng TPB, đánh khu bến xe Long Khánh, chợ Xuân Lộc, và tư dinh Tỉnh trưởng.
    • Trung đoàn 270 áp sát Núi Thị, tiến đánh TĐ2/43 đang bảo vệ căn cứ hỏa lực gồm 12 khẩu pháo binh Sư đoàn.
    • Trung đoàn 273 làm lực lượng trừ bị.

2/- Bạn:

  • Chiến đoàn 43: Phòng thủ thị xã Xuân Lộc.
    • Tiểu đoàn 3/43 do Thiếu tá Nguyễn Văn Dư chỉ huy, phối hợp với các đơn vị Chiến xa và Thiết kỵ của Thiết đoàn 5 Kỵ binh, phòng thủ từ Trại Huỳnh Văn Điền (Hậu cứ Trung đoàn 52), vòng ra phía Đông, vòng đai bên ngoài hậu cứ Sư đoàn và hậu cứ các đơn vị.
    • Tiểu đoàn 2/43 do Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế chỉ huy, trấn giữ cao điểm Núi Thị, cách thị xã hơn 3 cây số về hướng Tây, nằm bên ngoài tuyến phòng thủ của Xuân Lộc, vào hệ thống truyền tin trực tiếp với Sư đoàn.
    • Tiểu đoàn 1/43 do Đại úy Đổ Trung Chu chỉ huy, biệt phái Trung đoàn 48 (sau khi Xuân Lộc bị tấn công, Tiểu đoàn 2/48 từ Hàm Tân (tỉnh Bình Tuy được trả về), thì đơn vị này trở lại với Trung đoàn.
    • Thiết đoàn 5 Kỵ binh (- Chi đoàn 2/5 Thiết kỵ và 1 Chi đội Chiến xa M-41).
    • Tiểu đoàn 82/BĐQ do Thiếu tá Vương Mộng Long chỉ huy, bố trí quân tại sân bay thị xã.
    • Đại đội 43 Trinh sát do Trung úy Dương Trọng Khoát chỉ huy, hoạt động vùng Tây – Nam Núi Ma, vào hệ thống truyền tin của Chiến đoàn 52.
  • Chiến đoàn 48: Hoạt động bảo vệ an ninh QL.1 từ Xuân Lộc đến Gia Ray. Ngày 12.4.75, Trung đoàn 48 bàn giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 1 Nhảy Dù, sau đó di chuyển về bố trí dọc theo LTL.2 từ ngã ba Tân Phong đến Long Giao, làm lực lượng trừ bị cho Sư đoàn.
    • Tiểu đoàn 1/48 do Thiếu tá Trần Cẩm Tường chỉ huy.
    • Tiểu đoàn 2/48 do Thiếu tá Đổ Duy Luật chỉ huy.
    • Tiểu đoàn 3/48 do Thiếu tá Nguyễn Phúc Sông Hương chỉ huy.
    • Đại đội 48 Trinh sát.
    • Các đơn vị yểm trợ.
  • Chiến đoàn 52: Hoạt động bảo vệ an ninh QL.20 từ ngã ba Dầu Giây đến Kiệm Tân.
    • Tiểu đoàn 1/52 do Thiếu tá Cam Phú chỉ huy, bố trí quân tại ngã ba Dầu Giây.
    • Tiểu đoàn 2/52 do Đại úy Huỳnh Văn Út chỉ huy. Đêm 11.4.75, Tiểu đoàn được lệnh di chuyển vào Xuân Lộc, vào hệ thống chỉ huy của Chiến đoàn 43.
    • Tiểu đoàn 3/52 do Thiếu tá Phan Tấn Mỹ chỉ huy, trấn giữ đồi Móng Ngựa.
    • Đại đội 52 Trinh sát
    • Chi đoàn 2/5 Thiết Kỵ và 1 Chi đội CX/M-41 do Đại úy Vũ Đình Lưu chỉ huy.
    • Tiểu đoàn 182 Pháo binh do Thiếu tá Nguyễn Thanh Trước chỉ huy.
    • Trung đội Hỏa tiễn TOW.
    • Một toán Công binh
    • Đơn vị Địa phương quân và Nghĩa quân Long Khánh.
  • Đại đội 18 Trinh sát: do Đại úy Phạm Hữu Đa chỉ huy, bố trí quân trên các cao ốc, khu vực trường học và nhà thờ. Một Trung đội lập tuyến phòng thủ tại cổng số 1, một Trung đội bảo vệ BTL/TP và TTHQ/SĐ đặt tại Dinh Tướng Tư lệnh.

D/- DIỄN TIẾN

1/- Từ ngày 9 đến 11.4.1975:

Tờ mờ sáng ngày 9 tháng Tư năm 1975, quân CSBV bắn vào thị xã Xuân Lộc hàng ngàn trái đạn pháo. Pháo rơi vào khu dân cư và bệnh viện, khu trường học, nhà thờ và chùa chiền, khu bến xe Long Khánh và chợ Xuân Lộc. Một số đạn pháo rơi vào các trại gia binh, hậu cứ các đơn vị Sư đoàn và Tiểu khu Long Khánh. Nhưng pháo giặc chỉ gây thiệt hại nhẹ cho quân trú phòng. Bởi vì tất cả các chiến binh Sư đoàn 18BB đang nằm trong các chiến hào trên tuyến phòng thủ bao quanh thị xã.

Tư dinh Tướng Tư lệnh trúng pháo. Pháo giặc rót vào như mưa, cùng khắp, kiểu như vãi trấu. Không một thước đất nào của thị xã Xuân Lộc là không bị đạn pháo giặc cày nát. Một số đạn xuyên qua mái nhà. Ngôi nhà hai tầng lầu, mái ngói. Vài trái đạn rớt xuống ngay phòng ngủ. Nhưng thật may mắn! Ông Tướng không có ở trong nhà. Ông đang ở BTL/SĐ tại Long Bình. Tưởng cũng nên biết, khi Sư đoàn 18BB nhảy vào An Lộc thay thế Sư đoàn 5BB của Tướng Lê Văn Hưng, đơn vị đã đặt BTL/Tiền Phương tại căn cứ Long Bình. Các đơn vị yểm trợ và tiếp liệu của Sư đoàn cũng dời về Long Bình để tiện việc ra vào An Lộc bằng cầu hàng không. Sau đó khi hết nhiệm vụ ở An Lộc, Sư đoàn 18BB trở thành lực lượng cơ động của Quân đoàn III, hành quân hoạt động cùng khắp lãnh thổ Vùng 3 Chiến thuật. Chuẩn tướng Lê Minh Đảo đã trình xin Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng Tham Mưu Phó Tiếp Vận, được tiếp tục xử dụng một phần căn cứ Long Bình. Từ đó Hậu cứ Sư đoàn với các Phòng Ban, và cơ sở Tiếp vận đều di chuyển về đây. Hậu cứ BTL/SĐ tại Long Bình được đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Huỳnh Thao Lược, Tham Mưu Trưởng Sư đoàn. Vào những ngày biến động, chuẩn bị trận chiến, Xuân Lộc chỉ là nơi đặt BTL/Tiền Phương Sư đoàn. Tướng Lê Minh Đảo thường xuyên đi về giữa Tiền phương (Xuân Lộc) và Hậu cứ (Long Bình).

Buổi chiều ngày hôm trước, nghe tin Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư lệnh phó Quân đoàn III tử nạn, ông bay về Biên Hòa để xem hư thực về cái chết của Tướng Hiếu. Đồng thời ông cũng ghé lại Hậu cứ Sư đoàn gặp Đại tá Lược, để biết rõ hơn về thực trạng tiếp liệu của đơn vị. Ông đã nghỉ qua đêm tại đây. Vào lúc quân CSBV bắn pháo và mở cuộc tấn công vào Xuân Lộc, ông được Đại tá Hứa Yến Lến, Tham Mưu Trưởng Hành quân Sư đoàn báo cáo. Ngay tức thì, ông bay vào Xuân Lộc, có mặt tại Trung tâm Hành quân Sư đoàn vừa di chuyển đến ngã ba Tân Phong, gần quận đường Xuân Lộc.

1

Quân CSBV ấn định giờ “G” tấn công là 5 giờ 30. Nhưng tại Chỉ huy sở Sư đoàn 341, 10 phút trước khi khai hỏa pháo, các Tiền sát viên pháo cộng sản thấy sương mù chưa tan, vẫn còn dày đặc. Màn sương hạn chế tầm quan sát, nên xin trễ lại 10 phút. BTL/Quân đoàn 4 của Thiếu tướng Hoàng Cầm chấp thuận. Đúng 5 giờ 40 phút sáng, Quân đoàn phát lệnh. (Theo George J. Veith & Merle L. Pribbenow II – “Fighting Is An Art”).

Các đơn vị pháo Quân đoàn 4/CSBV đồng loạt nổ súng. Hàng ngàn trái đạn pháo đủ loại trút xuống vùng đất nhỏ, diện tích chỉ vài cây số vuông. Trận mưa pháo dữ dội và tàn bạo, có tính cách hủy diệt. Pháo bắn liên tục, dồn dập đúng 1 tiếng đồng hồ. Hai trái pháo hiệu màu đỏ bắn lên trời cao, lóe lên, xuyên qua màn sương sớm. Tín hiệu tấn công đã phát đi.

a/- Góc chiến trường hướng Đông:

  • Sư đoàn 7/CSBV:

Sư đoàn để Trung đoàn 141 làm lực lượng trừ bị, đồng thời cầm chân Chiến đoàn 48 đang hoạt động trên QL.1, vùng ngã ba Tân Phong, tung 2 Trung đoàn tấn công Xuân Lộc bằng 2 mũi:

  1. Mũi tấn công của Trung đoàn 165:

Đơn vị này có xe tăng và bộ đội đặc công dẫn đường tấn công vào hướng Đông thị xã. Chiếc xe tăng T-54 đầu đàn trúng mìn, nổ tung. Quân trú phòng với M-16, M-60, đại bác 90ly của chiến xa đồng loạt nổ súng. Pháo từ Núi Thị bắn chận, ào ạt phá tan đội hình tấn công của giặc:

“Trúng ngay chiếc tăng T-54 rồi. bây giờ chiếc xe đã bị lật, nằm ngang trên ụ đất phía ngoài vòng đai…”
“Trúng ngay chiếc tăng T-54 rồi. bây giờ chiếc xe đã bị lật, nằm ngang trên ụ đất phía ngoài vòng đai…”

Tiếng báo cáo oang oang trên máy PRC-25 của Trung úy Pháo binh Đinh Văn Phùng tại chiến tuyến cho Đại úy Nguyễn Hữu Nhân, Pháo đội trưởng PĐA đang sát cánh cùng Trung đội 1A của Trung úy Trung tại Núi Thị, đã làm nức lòng quân bạn, làm phấn chấn tinh thần các chiến binh trong giờ phút sinh tử. (Theo Pháo thủ Nguyễn Hữu Nhân – Những Giờ Phút Sau Cùng ở Xuân Lộc Long Khánh).

Khi mặt trời lên, máy bay chiến đấu của Sư đoàn 3/KQ/QLVNCH cất cánh từ Phi trường Biên Hòa bắt đầu can thiệp. Những phi tuần A-37, F-5E thay nhau trút bom lên đầu giặc. Đám bộ đội CSBV xâm nhập, vượt qua được vài hàng rào kẽm gai thì vướng  mìn banh xác. Đám bộ đội “cụ Hồ” đang lúng túng trong các bãi đất trống trải thì bị lưới đạn dày đặc của quân trú phòng bắn chận, chết phơi thây! Đám giặc ở tuyến sau thì nằm im bất động, nét mặt sợ hãi, ngơ ngác, chỉ muốn tìm cách chém vè! Chúng như con cá nằm trên thớt, đang chờ những nhát dao thành thạo của người nội trợ! Sau những loạt đạn pháo, là những đợt bom của không quân. Bom pháo thay nhau trút lên đầu giặc. Một số xe tăng bị trúng bom đạn cháy hoặc đứt dây xích, lúng túng, quằn quọai trong vũng lầy. Quân CSBV đã bị vướng vào “hàm cá mập”, không cách nào thoát ra được. Càng cố vùng vẫy, càng bị nuốt gọn!

Đợt tấn công đầu thất bại, giặc tổ chức đội hình mở đợt tấn công lần thứ hai. Nhưng các tay súng Chiến đoàn 43 đã chờ sẵn. Với loại hỏa tiễn 2.75 gắn trên dàn phóng tự tạo, phối hợp cùng pháo binh Sư đoàn, máy bay ném bom của Sư đoàn 3/KQ, xe tăng và bộ đội CSBV đang phơi mình trên vùng đất trống trải trước phòng tuyến, chỉ là món đồ chơi trẻ con. Trong một thời gian ngắn, 4 chiếc xe tăng của giặc đã bị tiêu hủy, rất nhiều bộ đội “cụ Hồ” bị phơi thây. Mũi tấn công này của Trung đoàn 165 đã bị chận đứng, đã thất bại hoàn toàn:“Sư trưởng Nam Long hét vào điện thoại chỉ huy hết mũi tiến công này đến mũi tiến công khác. Ông đang chỉ huy trận đánh mà nói năng rất tếu. Sư trưởng điện cho anh Đình chính trị viên D2 (tiểu đoàn 2): ‘Cái chốt bằng cái l. trâu ấy mà một ngày rồi các anh không ăn được à? Tôi ra lệnh nội đêm nay phải ăn cho hết cái l. trâu đó, nghe rõ chưa!’. Câu ra lệnh làm mọi người trong hầm chỉ huy ôm bụng mà cười”. (Ngô Minh, Sư đoàn 7/QĐ4 “Kể Về Trận Tấn Công Cứ Điểm Xuân Lộc).

  1. Mũi tấn công của Trung đoàn 209:

Từ QL.1 ở hướng Đông, có xe tăng và bộ đội đặc công dẫn đường, Trung đoàn 209/Sư 7 tiến về hướng sân bay thị xã. Nhưng đơn vị này gặp Tiểu đoàn 82/BĐQ của Thiếu tá Vương Mộng Long chận lại:

“Khi chiếc PT-76 vướng vào cuộn kẽm gai vòng nơi góc rào tây bắc của trại 181 Pháo binh Sư đoàn 18 thì cũng là lần đầu đoàn quân xâm lăng khựng lại hoảng hồn bởi những tiếng hô, ‘Biệt Động! Sát!’ ‘Biệt Động! Sát!’ Chiếc xe tăng đầu tiên lãnh trọn một quả M.72. Chiếc PT-76 xấu số cháy bùng. Những anh bộ đội Cộng sản tùng thiết rút lui trối chết về hướng rừng lau”.

“…Ngày qua ngày, …những tổ chống tank 3 người của TĐ82/BĐQ ẩn hiện như ma trơi, sau ô mối, sau gốc xoài, trong bụi chuối, cứ từ từ rang hết con cua T-54 này đến con cua T-54 khác.” (Thiếu tá Vương Mộng Long – Tháng Tư Lại Về).

Sau nhiều ngày vừa đi vừa chiến đấu để vượt thoát từ Cao Nguyên Miền Trung về, Tiểu đoàn 82/BĐQ chỉ còn khoảng 200 tay súng . Dù quân số ít, đang mệt mỏi, nhưng họ đã chiến đấu rất dũng cảm. Đơn vị này đã chống đở 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 209/CSBV có xe tăng yểm trợ. Đó là TĐ5 và TĐ7 bốn lần tấn công vào sân bay, nhưng không thành công. Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo đã đánh giá cao đơn vị này.

“Tiên Giao (Thiếu tá Long) đây Hằng Minh (Tướng Đảo) gọi!”

   “Hằng Minh, Tiên Giao nghe”

   “Come on! Gắng lên nghe em! Đánh cho nó tà đầu, hết cục cựa! Okay?”

   “Vâng, tôi nghe 5, đánh cho nó tà đầu hết cục cựa!”

   “Okay! You’re a man! Don’t let ‘em run away! Okay?”

   “Vâng, không cho nó ôm đầu mà chạy!”

   “Kill ‘em! Kill ‘em Okay!”

“Vâng! Đây là cái tank thứ hai, ba…đó nghe Hằng Minh! Nó vào cái nào, tôi hạ cái nấy nhé!”

    “Okay! I like the way you fight!”

    “Vâng, tôi nghe rõ 5!”

    “You’re great! You’re excellent!”

(Hồi ký của Thiếu tá Vương Mộng Long – Tháng Tư Lại Về)

Điều đặc biệt của Tướng Đảo, mỗi khi có một đơn vị chạm địch từ cấp Đại đội trở lên, ông liền bay trực thăng C&C bao vùng. Từ cao nhìn xuống, ông có cái nhìn chính xác vị trí của ta và của giặc, hầu giúp đơn vị trưởng dưới đất điều quân. Để địch kiểm thính mà không hiểu được nội dung cuộc điện đàm khẩn cấp, ông xử dụng cả ba ngôn ngữ: Việt – Pháp – Anh. Trên đây là mẫu đối thoại bình thường của Tướng Đảo với các đơn vị trưởng ngoài mặt trận. Lệnh của ông truyền ra rất thân tình, rất “Huynh đệ chi binh”, chứ không thô lỗ, cộc cằn và hách dịch như cấp chỉ huy của CS.

b/- Góc chiến trường hướng Tây – Bắc:

  1. Sư đoàn 341/CSBV:
  • Mũi tấn công của Trung đoàn 266:

Sư đoàn 341 để Trung đoàn 273 làm lực lượng trừ bị, đồng thời cầm chân Chiến đoàn 52 của Đại tá Ngô Kỳ Dũng. Tên Sư trưởng Đại tá Trần Văn Trấn theo sát Trung đoàn 266, xuất phát từ những cánh rừng cao su thuộc đồn điền Bình Lộc, vượt qua ngã ba Cua Heo, qua làng Phế Binh, tiến vào khu vực bến xe, và khu chợ. Ba Tiểu đoàn của Trung đoàn 266 xâm nhập được vào vùng ven thị xã, nhưng bị pháo binh Sư đoàn và đại liên 20ly từ chiếc C.119 của Sư đoàn 3/KQ bắn hạ. Một toán bộ đội đặc công đột nhập Tư dinh Tỉnh trưởng treo cờ. Vài toán bộ đội khác đi lạc vào khu phố, khu trường học và nhà thờ thì gặp Đại đội Trinh sát 18 của Đại úy Phạm Hữu Đa chận lại. Một số bị tiêu diệt. Những tên sống sót tìm cách ẩn núp trong các cống rãnh, để rồi sau đó lần lượt 20 tên bị bắt làm tù binh. Chúng đều ở trong độ tuổi 17, chưa được huấn luyện đã bị đưa vào Nam. Đám này như Mán về thành. Thật sự thì chúng là đám khỉ trên rừng Trường Sơn mới xuống. Sợ chết, sợ tiếng súng, không quen trận mạc, chúng trốn chui trốn nhủi, hoặc tìm cách “chém vè”. Lúc bị bắt, cấp số đạn ít ỏi 70 viên mang theo, nhưng chưa bắn một viên nào!

Đợt đầu tấn công thất bại. Sư trưởng Trần Văn Trấn cho tổ chức lại đội hình, mở đợt tấn công lần thứ hai. Hắn điều quân chuyển hướng về hướng Đông, nhưng quân giặc lại gặp các chiến sĩ ĐPQ/LK chận lại. Ta với giặc đánh nhau ác liệt.

Lúc 11 giờ sáng, Tiểu đoàn 1/48 của Thiếu tá Trần Cẩm Tường và Chi đoàn 3/5 Thiết kỵ của Đại úy Lê Sơn được lệnh phản công tái chiếm làng Thương Phế Binh ở gần Cua Heo. Dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đại úy An, Tiểu đoàn Phó, Đại đội 2/1 của Trung úy Dự, và Đại đội 3/1 của Trung úy Kiệt, cùng với hỏa lực hùng hậu của Chi đoàn 3/TK của Đại úy Lê Sơn, CĐT, quân bạn đã tiến công như vũ bão, quyết tái chiếm mục tiêu. Chúng cố thủ trong những căn nhà, cố gắng ngăn chận cuộc phản công của ta. Trận chiến diễn ra thật gay go. Nhưng do đơn vị địch quá bất ngờ trước một đối thủ thiện chiến với tinh thần quyết chiến quyết thắng, chúng đã bị đè bẹp. Đại úy Lê Văn Dự (cùng với Kiệt, được thăng cấp Đại úy sau chiến thắng này) cho biết: “Đây là một chiến thắng lớn, ta tịch thu rất nhiều vũ khí. VC chết vô số kể, không tản thương được, do ta với địch sát gần nhau. Tiếng la khóc của thương binh VC dậy trời. Số lượng vũ khí địch bị quân ta tịch thu quá nhiều, tôi đã cho bó lại từng 5 cây AK làm một, xin Lao công Đào binh vận chuyển. Điều đáng nói là quân ta hoàn toàn vô sự!”

Theo hồ sơ trận liệt, đám giặc cỏ này là Trung đoàn 266, do đích thân tên Sư trưởng Trần Văn Trấn chỉ huy. Theo báo cáo của Hạ sĩ Nhất Kim Mỹ (ĐĐ3/1, hiện định cư tại Úc): “Ta bắt sống 3 tù binh, hàng trăm tên giặc bị hạ sát, trong đó có tên Chính ủy Trung đoàn, nhiều vũ khí bị tịch thu.”

Ngày 11 tháng Tư, lúc 11 giờ 30, giặc tấn công trại Huỳnh Văn Điền (hậu cứ Trung đoàn 52), nằm trên đường Hoàng Diệu. Đây là căn cứ cũ của Trung đoàn Kỵ binh Mỹ do Đại tá Patton, con trai của cố Danh tướng Thiết giáp Mỹ Patton, chỉ huy. Lực lượng phòng thủ chỉ là quân nhân hậu cứ, những quân nhân loại 2 chờ giải ngũ, những bệnh binh đang nghỉ dưỡng sức, và một vài gia đình binh sĩ không chịu xa chồng. Nhưng Sư trưởng Sư 7 Lê Nam Phong tung Trung đoàn 141 có chiến xa yểm trợ, từ hướng ấp Bảo Vinh A tấn công. Quân nhân hậu cứ 52 đã chống trả quyết liệt. Tất cả bọn họ đã trở thành những chiến sĩ dũng cảm. Cổ nhân từng nói: “Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh”. Huống hồ họ là lính, là vợ, là con của lính. Đây là trận chiến có tính cách quyết định. Họ phải chứng tỏ cho CSBV thấy rằng quân dân Miền Nam yêu chuộng Tự Do, dù phải chết, cũng chiến đấu đến cùng. Họ không bao giờ chấp nhận chế độ độc tài Cộng sản. Kết quả phe ta đã hạ sát hơn 50 tên giặc xâm lược, tịch thu 32 vũ khí đủ loại, bắn cháy 2 xe tăng T-54. Thật là một kỳ công!

Đêm 11.4.75, từ ấp Nguyễn Thái Học, tuyến phòng ngự của CĐ52 tại ngã ba Dầu Giây, Tiểu đoàn 2/52 của Đại úy Huỳnh Văn Út được lệnh khẩn cấp hành quân tăng viện cho Xuân Lộc. Buổi sáng ngày 12, sau khi vượt qua tuyến giặc tại đèo Mẹ Bồng Con do Trung đoàn 274 của Sư 6 đóng chốt, đơn vị của Út đã tao ngộ chiến với quân CSBV tại ấp Suối Tre, tiêu diệt một đoàn xe chở quân và đồ tiếp tế, hạ sát hơn 100 tên bộ đội “cụ Hồ”, tịch thu nhiều vũ khí, trong đó có 1 thượng liên phòng không 37ly gắn trên xe. Đơn vị của Đại úy Út tiếp tục tiến vào Xuân Lộc để bắt tay CĐ43. Lại một cuộc tao ngộ chiến nữa, khi gặp địch đang đưa lưng ra, đang chăm chăm hướng về thị xã. Đám giặc bất ngờ bị đánh tập hậu. TĐ2/52 đã tiêu diệt gọn trên 60 tên và tịch thu toàn bộ vũ khí của giặc.

  • Mũi tấn công của Trung đoàn 270:

Quyển lịch sử cái gọi là “Quân đội Nhân dân Việt Nam” (mà khẩu hiệu của quân đội này lại là chỉ trung với Đảng!), viết rằng trong đợt pháo đầu tiên bắn vào Xuân Lộc, đã làm tê liệt hệ thống truyền tin của Sư đoàn 18BB, và đánh sập cây anten 292 tại Núi Thị. Nhưng chỉ là tưởng tượng! Hệ thống truyền tin của Sư đoàn vẫn hoạt động tốt, cây anten 292 tại Núi Thị không hề bị đánh sập.

Có một điều quân CSBV không biết. Buổi trưa ngày 13 tháng Tư, sau khi phái đoàn báo chí Tây phương vừa rời Xuân Lộc, pháo CS đánh hơi được, đã pháo kích tàn bạo vào vị trí mà Tướng Đảo vừa gặp gỡ báo chí. Trận mưa pháo của giặc đã đánh sập cây cây antenna 292 của TTHQ/SĐ. Hệ thống truyền tin bị gián đoạn một lúc. Đại úy Truyền tin Sư đoàn Đặng Trần Hoa cùng các nhân viên thuộc cấp đã “đội pháo” giặc, lập tức dựng lại cây antenna. Một Thượng sĩ già, thấy pháo giặc bắn rát quá, sợ pháo giặc làm hư hỏng mấy khẩu pháo 105ly, liền cùng một vài pháo thủ, tìm cách kéo pháo ra khỏi trận địa pháo. Từ hầm chỉ huy, Tướng Đảo say sưa quan sát những hành động dũng cảm của quân nhân thuộc quyền, một mảnh đạn pháo giặc ghim vào cánh tay của ông. Rất may mắn, mảnh đạn chỉ gây thương tích nhẹ cho Tướng Đảo.

Núi Thị, căn cứ của TĐ2/43 với tòa lâu đài cỗ
Núi Thị, căn cứ của TĐ2/43 với tòa lâu đài cỗ

Khu vực Núi Thị, nơi trấn giữ của Tiểu đoàn 2/43, là vị trí quan trọng trong trận chiến Xuân Lộc. Nếu là một cấp chỉ huy giỏi, có học trường lớp đàng hoàng, Tướng Trà và Tướng Cầm phải ưu tiên tiêu diệt vị trí này. Núi Thị không cao lắm, diện tích lối ½ cây số vuông, nằm cách xa thị xã hơn 3 cây số về hướng Tây. Tại đỉnh cao nhất, một cây thị lớn còn sót lại, nay trở thành cây cổ thụ có thân cây lớn hơn hai vòng tay ôm, nên ngọn núi được người dân địa phương gọi là Núi Thị. Về phương diện chiến thuật, cao điểm Núi Thị có thể khống chế Xuân Lộc về hướng Đông, và Dầu Giây về hướng Tây. Trước khi trở thành điểm cao quân sự, Núi Thị là sở hữu của viên chủ đồn điền cao su người Pháp. Núi có hình thế yên ngựa. Một tòa lâu đài cỗ, với những bức tường dày bằng bê tông cốt sắt, sừng sững chiếm hết đỉnh cao của ngọn núi. Không khí trong các phòng ốc mát lạnh như khí hậu ở Đàlạt, hàn thử biểu thường chỉ trên dưới 22 độ C. Được biết hàng năm Bộ Quốc Phòng VNCH phải trả tiền trưng dụng tòa lâu đài đó với số tiền 3 triệu đồng. Từ lâu, Núi thị là Hậu cứ của Tiểu đoàn 2/43, từng bị VC đánh đặc công một lần, khi đơn vị này đang hành quân vượt biên sang Kampuchia năm 1970. Trong những ngày chuẩn bị trận chiến, Tướng Đảo cho thiết lập tại đây một Trung tâm Hành quân dự phòng cho Sư đoàn với đầy đủ thiết bị, có đài siêu tầng số. Hệ thống truyền tin tại Núi Thị hoạt động rất tốt. Suốt trong 12 ngày đêm của trận chiến, truyền tin tại Núi Thị không hề bị gián đoạn. Hai pháo đội 105ly, một pháo đội 155ly được kéo lên đây để có thể bắn yểm trợ cho Xuân Lộc và Dầu Giây. Trung đội pháo 105ly diện địa vốn được bố trí tại đây, được kéo trả về cho Tiểu khu Long Khánh. Những người lính Tiểu đoàn 2/43 rất sung sướng khi được chỉ định trấn giữ đất nhà. Nhưng việc bảo vệ điểm cao chiến thuật, và giữ gìn an ninh cho giàn pháo hùng hậu của Sư đoàn không phải là dễ. Tuyến phòng thủ của đơn vị phải mở rộng, phải có những toán tiền đồn, phục kích từ xa, hầu ngăn chận không cho cộng quân mon men đến gần dùng đạn bắn thẳng hay súng cối, bắn vào uy hiếp các pháo thủ. Trung đội Biệt kích Tiểu đoàn (BK/TĐ), một tổ chức ngoài bảng cấp số, được thành lập từ khi Tướng Đảo về giữ chức Tư lệnh, với quân số đầy đủ trên 42 chiến sĩ, đặt dưới quyền chỉ huy của một Thiếu úy tốt nghiệp Võ bị Đàlạt, phụ tá là một Trung sĩ Nhất từng phục vụ trong Binh chủng Lực lượng Đặc biệt, nằm tiền đồn xa, hoạt động rất hữu hiệu. Các chiến binh của Trung đội này đều được gửi đi học các khóa Viễn Thám và Rừng Núi Sình Lầy tại Trung tâm Huấn luyện BĐQ/Dục Mỹ. Họ là những chiến binh đa năng đa dụng, rất dũng cảm. Họ từng nhảy vào Tánh Linh cắm cờ và rút lui an toàn, khi quận này bị quân CSBV đánh chiếm hồi mùa Thu năm 1974. Trước khi trận chiến mở màn, các toán trinh sát và cấp chỉ huy của Sư đoàn 341/CSBV tìm cách mon men đến gần Núi Thị điều nghiên, đã bị các toán phục kích và tiền đồn của TĐ2/43 tiêu diệt. Đêm 8.4.75, tại sườn đông Núi Ma, cách căn cứ hoả lực Núi Thị lối 2 cây số về hướng Tây-Bắc, một toán trinh sát địch trên 10 tên, gồm có tên tiền sát viên pháo và các tên chỉ huy cao cấp lọt vào tuyến phục kích của Trung đội BK/TĐ. Chúng đã bị diệt gọn do các trái mìn clamore được kích nổ kịp thời, và những tràng tiểu liên M.16 bắn chính xác. Từ đó, các toán trinh sát của địch không còn dám mạo hiểm đến gần. Suốt trong trận chiến, căn cứ hỏa lực Núi Thị không hề bị đạn bắn thẳng hay súng sối địch quấy phá. Mặc dù Tiểu đoàn Đặc công thường xuyên bám sát.

Sáng sớm ngày 9 tháng Tư, sau trận mưa pháo kéo dài lối một tiếng đồng hồ, Sư 341 tung Trung đoàn 270 có đơn vị đặc công dẫn đường, mở cuộc tấn công biển người, quyết san bằng căn cứ hỏa lực Núi Thị.

Dưới cặp mắt của một nhà quân sự, hai việc cần phải ưu tiên làm truớc nhất để đánh chiếm Xuân Lộc là:

  • Thứ nhất, phải triệt hạ Núi Thị, vì đó là một cao điểm quân sự quan trọng, có thể khống chế Xuân Lộc và ngã ba Dầu Giây.
  • Thứ hai, tiêu diệt Chiến đoàn 52 ở ngã ba Dầu Giây, vì từ đây, quân bạn có thể tiếp cứu Xuân Lộc, cũng là vị trí nối liền Biên Hòa và Xuân Lộc.

Tướng Trà đã thấy được điểm này, nên ngay sau khi từ sào huyệt Lộc Ninh xuống đến chỉ huy sở Quân đoàn 4 của Cầm đóng trên bờ sông La Ngà, sau khi nghe báo cáo tình hình thực tế, Trà đã đồng ý với ý kiến của Hoàng Cầm là phải “Tiêu diệt Trung đoàn 52 ngụy ở ngả ba Dầu Giây và Núi Thị. Sau đó đánh chiếm Xuân Lộc…”

Thật ra Cầm chậm hiểu, hay nói một cách khác là Cầm đã không tiên liệu được hoạt động hữu hiệu của căn cứ hỏa lực Núi Thị. Với suy nghĩ đơn giản, nếu không chiếm đuợc Núi Thị, thì chỉ cần khống chế bằng các loại pháo là được. Nhưng Cầm đã lầm. Các pháo thủ Sư đoàn 18 tại Núi Thị đã “đội pháo” giặc để bắn yểm trợ đơn vị bạn khi cần thiết. Quân đoàn 4 đã không chỉ thị rõ ràng và quyết liệt cho Đại tá Trần Văn Trấn, Chỉ huy Sư 341 phải ưu tiên triệt hạ Núi Thị, trước khi tiến đánh khu vực cổng số 1 của thị xã. Với trình độ chỉ huy tác chiến kém cỏi của Trấn, sau khi tung Trung đoàn 270 tiến đánh Núi Thị thất bại, đã cho lệnh rút ra, để tăng cường cho mũi tấn công của Trung đoàn 266 đang bị cầm chân ở làng Thương Phế Binh và đầu thị xã. Trấn đã không có “tư duy” của một nhà chỉ huy quân sự cấp Sư đoàn.

 Mũi tiến công của Trung đoàn 270 đã bị chận đứng ngay tại tuyến phòng ngự bên ngoài. Bộ đội CSBV từ ấp Suối Tre, từ hướng giữa đèo Mẹ Bồng Con và Núi Ma, với chiến thuật biển người cố hữu, sau khi dứt loạt đạn pháo cuối cùng, và khi nhìn thấy hai trái hỏa châu lóe sáng trên bầu trời, như dấu hiệu tấn công, đã ồ ạt vượt qua sân bay đồn điền cao su, vượt qua đường QL1, tiến vào phòng tuyến Đại đội 1 của Trung úy Chánh  và Đại đội 2 của Trung úy Mười. Đám bộ đội vượt qua khu đất trống trải là miếng mồi ngon cho những trái mìn claymore được kích nổ kịp thời, những tràng đạn tiểu liên M.16, đại liên M.60 nổ dòn, những trái lựu đạn M-26 được ném ra, đã đốn ngã tất cả bọn chúng. Một số nát thây khi lọt vào bãi mìn. Lớp trước ngã, lớp sau tiến lên, chúng như những con thiêu thân lao vào ánh đèn, với những tiếng la xung phong đặc sệt giọng Nghệ – Tỉnh rất man rợ. Dù liều chết, dù quyết tâm, chúng đành phải “sinh Bắc-tử Nam”, vẫn không chọc thủng được phòng tuyến quân bạn. Xác địch nằm la liệt trước phòng tuyến. Trời sáng dần. Chúng cố gắng mang theo đồng đội bị thương vong, nhưng vất lại vũ khí, lủi sâu vào ấp Suối Tre và Núi Ma.

Tấn công Núi Thị thất bại, tên Thủ trưởng được lệnh cho rút bớt 1 Tiểu đoàn, di chuyển về thị xã, hợp lực cùng Trung đoàn 266, tấn công  cạnh sườn Tiểu đoàn 1/48 và Chi đoàn 3/5 Thiết kỵ đang phản công chiếm lại làng TPB và Cua Heo.

Khi màn đêm xuống, toàn bộ Trung đoàn 270 được lệnh bỏ mục tiêu Núi Thị, chi viện Trung đoàn 266 đang bị cầm chân ở thị xã, chỉ để lại Tiểu đoàn đặc công. Tấn công bằng quân bộ chiến thất bại, chúng chuyển qua tấn công bằng pháo. Những trận mưa pháo tàn bạo, có tính cách hủy diệt, liên tục trút lên Núi Thị. Nhưng những pháo thủ vẫn can trường “đội pháo” bắn yểm trợ quân bạn. Dù sao, những trận mưa pháo của giặc cũng gây tổn thất đáng kể cho Tiểu đoàn. Một Đại úy Đại đội trưởng, một Thiếu úy Đại đội phó, một Sĩ quan Tham mưu và nhiều binh sĩ bị thương vong. Trực thăng tản thương phải liều lĩnh đáp xuống trong lưới đạn phòng không dày đặc, để kịp đưa các chiến sĩ bị thương nặng về Long Bình cứu chữa. Những chiến binh bị thương nhẹ vẫn ở lại tiếp tục chiến đấu. Những ai chẳng may qua đời, đơn vị đành phải an táng tại chỗ. “Vùi nông một nấm”, và sau ngày 21.4.75, đành phải “mặc tình cỏ hoang”.

Tiểu đoàn được tăng phái một Toán Kỹ thuật thuộc Biệt đội Kỹ thuật của Đại úy Phát, Phòng 7/BTTM. Trưởng toán là một Trung sĩ trẻ, anh Út, hiện định cư ở San Diego,  California, rất thành công. Út thông minh và nhanh nhẹn. Nhờ giải mã mau lẹ các cuộc điện đàm của địch, đơn vị đã giảm thiểu được tối đa sự tổn thất. Rất nhiều lần, Út báo cho TĐT những đợt tấn công pháo của Bắc quân. Có lúc lệnh cho quân sĩ xuống hầm, chờ mãi một hai phút sau đạn pháo địch mới đến. Toán Kỹ thuật cũng đưa cho xem những bản mật điện trao đổi giữa cấp chỉ huy của  quân CSBV có nội dung rất bi đát, nhưng cũng khá là khôi hài. Có một bản văn do một Thủ trưởng D, tức TĐT, gửi cho Thủ trưởng E, tức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 266 với nội dung:

“Báo cáo đồng chí Thủ trưởng, đơn vị chỉ còn 25 chiến sĩ, lương thực hết, đạn dược hết, nước uống không có, xin được rút ra”.

Bản văn trả lời của tên Thủ trưởng:

“Phải bám sát trận địa, sẽ có quân chi viện. Các đồng chí phải khắc phục!”

Đại loại nội dung các bản văn đều gần giống nhau. Cấp dưới thì tuyệt vọng, tinh thần xuống thấp. Cấp trên thì cứ hứa hẹn suôn, và giải quyết vấn đề là hai chữ “Khắc phục”, như một liều thuốc tiên!

Các Toán Kỹ Thuật là những quân nhân làm việc âm thầm trong một căn phòng nhỏ, với nhiều máy móc truyền tin. Họ là những chiến sĩ vô danh, nhưng đã gián tiếp góp công lớn trong chiến thắng Xuân Lộc. Khi bắt được những bức điện mật của quân CSBV, họ giải mã mau lẹ, và gửi ngay về Sư đoàn. Tại đây, Trung tá Thịnh, Trưởng Phòng 2/SĐ và bộ tham mưu của ông phân tích, đánh giá, phân loại, rồi trình lên tướng Tư lệnh. Nhờ những tin tức tương đối chính xác đó, đối chiếu với nhiều nguồn tin khác, Tướng Tư lệnh cho bắn pháo và xin đánh bom. Mỗi ngày Sư đoàn 3/KQ đã cung cấp đến 50 phi xuất, với những loại bom 250, 500, và 750 cân Anh đánh lên đầu giặc. Pháo binh Sư đoàn thì rất dồi dào trong những ngày đầu của trận chiến. Đây cũng là điểm son của ông Tư lệnh. Như ta đã biết, đạn dược và quân dụng của QLVNCH bị giới hạn bởi điều khoản “một đổi một” của Hiệp định Paris, nên ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, Tướng Đảo đã chỉ thị các đơn vị trưởng báo cáo con số tiêu thụ đạn dược gấp hai hay ba lần con số thực. Số sai biệt đó, các đơn vị chôn dấu để qua mắt Phái đoàn Thanh tra của BTTM/QLVNCH. Chính nhờ số đạn dự trử được chôn dấu đó, được các chiến binh Sư đoàn 18BB đem ra xử dụng tối đa trong những ngày đầu của trận chiến, đã ngăn chận được những đợt tấn công biển người của quân giặc.

Suốt 12 ngày đêm của trận chiến Xuân Lộc, căn cứ Núi Thị vẫn đứng vững. Trung đoàn 270 thuộc Sư 341/CSBV do tên Đại tá Trần Văn Trấn chỉ huy, phối hợp cùng 1 Tiểu đoàn Đặc công, đã hai lần mở cuộc tấn công qui mô, nhưng đều thảm bại. Bộ đội địch đã không thể nào vượt qua khỏi tuyến chiến đấu ngoài cùng của đơn vị phòng thủ. Vô số bọn cán binh CSBV bị thương vong, vẫn không chọc thủng được phòng tuyến. Tên Sư trưởng Trấn đành phải bỏ cuộc, lệnh cho đơn vị này nằm tại chỗ bao vây, và đơn vị đặc công tìm cách đột nhập quấy phá. Mười hai khâu pháo tại căn cứ là miếng mồi ngon cho những tên “sinh Bắc tử Nam” này. Nhưng dù có liều lĩnh, dù “cố đấm ăn xôi”, trước sau đều thất bại. Trong số xác cộng quân để lại tại trận địa, ta phát hiện một tên cấp Thiếu úy, chức vụ C trưởng (đại đội trưởng). Thế nhưng CSBV vẫn lếu láo. Và Tướng Trà trong quyển “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, trang 262, đã viết: “Đêm 13 rạng ngày 14.4, theo quyết tâm mới của quân đoàn 4, sư đoàn 6 đã tiêu diệt gọn một tiểu đàn của trung đoàn 52 thuộc sư đoàn 18 và mộ chi đoàn thiết giáp, giải phóng ngã ba Dầu Giây. Tiếp theo hôm sau đã chiếm Núi Thị…”

c/- Góc chiến trường hướng Tây:

  • Sư đoàn 6/CSBV:
    • Trung đoàn 812 làm lực lượng trừ bị. Trung đoàn này thuộc Quân khu 6, còn có tên là Sư đoàn Sông Mao. Trong những ngày cuối tháng 3, tham gia chiến dịch đánh chiếm Võ Đắc và Võ Su của quận Hoài đức. Sau đó tiến về hướng Bắc, đánh chiếm Di Linh của tỉnh Lâm Đồng.
    • Trung đoàn 274 tiến chiếm Đèo Mẹ Bồng Con, cách Núi Thị lối 3 cây số về hướng Tây. Đơn vị này đã tổ chức hệ thống kiềng chốt khá kiên cố để có thể ngăn chận quân bạn cứu viện từ Dầu giây, từ Xuân Lộc hay ngược lại. Một con suối nhỏ chảy qua Đèo, nối liền Núi Ma đến cánh rừng phía Nam, đi ngang qua đồn điền cao su de Suzannah. Đó là con đường tiến sát rất an toàn, có rừng cây che mắt phi cơ quan sát. Một bộ phận tiến chiếm ấp Trần Hưng Đạo (chỉ có 1 Trung đội NQ giữ an ninh).
    • Trung đoàn 33 tiến chiếm ấp Phan Bội Châu (cách ngã ba Dầu Giây hơn 1 cây số về hướng Nam), và đánh xã Hưng Lộc – Hưng Nghĩa. Tại đây, lực lượng trú phòng chỉ là NQ và Nhân Dân Tự Vệ. Nhưng các chiến sĩ áo đen đã chống trả quyết liệt. Họ đã giữ được Hưng Nghĩa, nhưng Hưng Lộc lọt vào tay giặc. Ngã ba Dầu Giây được Tiểu đoàn 1/52 của Thiếu tá Cam Phú trấn giữ, và chỉ mất vào tay giặc buổi tối ngày 13.4.75. Trung đoàn 33 còn có tên Trung đoàn Quyết Thắng Long Khánh. Đơn vị này dù mang danh là Quyết Thắng, nhưng đã hơn ba lần đại bại trước Tiểu đoàn 2/43 (Trận đánh Cẩm Mỹ, trận đánh tại ngã ba Dầu Giây ngày đình chiến tháng 1.73, và trận Võ Đắc – Võ Su tháng 12 năm 1974). Tên Thủ trưởng Trung đoàn 33 đã chỉ thị cho bộ đội của hắn tránh đụng độ TĐ2/43. Khi tao ngộ chiến, phải tìm cách chém vè, nếu không muốn bị tiêu diệt (Theo cung từ tên tù binh Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 33 bị bắt tại trận đánh ở ngã ba Dầu Giây, và một mảnh giấy viết vội để lại trên một đống vũ khí tại Võ Đắc ghi: “chúng tôi thua phen này, hẹn gặp lại”).

Tình thế đã bất lợi về phía quân CSBV. Trần Văn Trà thú nhận trong tập hồi ký “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm”: “… vào cuối ngày 10 trở đi tình hình trở nên căn thẳng. Địch phản kích điên cuồng tuy chúng bị thiệt hại nặng. Máy bay địch đánh phá ác liệt, có tính chất hủy diệt các mục tiêu chúng đã mất (sai, chỉ mất khu bến xe và khu chợ trong buổi sáng đầu tiên, nhưng chỉ tái chiếm bằng bộ binh, không hề đánh bom, vì nằm bên trong thị xã). Quân đoàn đã kêu thiếu đạn các loại nhất là sư đoàn 1 (tức 341) và sư đoàn 6. sư đoàn 7 thì thiếu quân số…Rồi báo báo cáo từng vị trí ta chiếm được phải bỏ lần lượt. Có vị trí thay đổi chủ vài lần (khu bến xe và khu chợ). Số thương vong của sư đoàn 1 cao hơn các đơn vị khác vì kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều ở chiến trường ác liệt. Tình hình rất gay go.”

Lịch sử cái gọi là “Quân đội Nhân dân” viết: “Trong 3 ngày đầu tiên (9,10,11/4/75) Sư đoàn 7 thiệt hại 300 chiến sĩ, và Sư đoàn 341 tổn thất 1,200, hầu hết pháo 85ly và 57ly bị tiêu hủy”.

Lê Đức Thọ: “Kết cục là anh em cũng không đánh được Xuân Lộc, bị thương vong nặng, phải rút ra”.

Ngày 11.4, sau 3 ngày tấn công vào Xuân Lộc thất bại, tên “Thái Thượng Hoàng” không ngai Lê Đức Thọ cùng  Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Đinh Đức Thiện (Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) và Trần Văn Trà họp khẩn cấp để tìm “phương án” mới.

Sau cuộc họp của các tên đầu sỏ, Trần Văn Trà được phái đến mặt trận Xuân Lộc tìm hiểu cụ thể để có thể đề ra “phương án” mới thực tế hơn, thích hợp hơn với tình hình đang biến chuyển mau lẹ, nếu cần, Trà sẽ trực tiếp nắm quyền chỉ huy mặt trận Xuân Lộc.

Chiều ngày 11 tháng Tư, Trà lên đường đến thẳng chỉ huy sở của Quân đoàn 4 đóng trên bờ sông La Ngà. Trà vượt sông Đồng Nai bằng phà tại bến Tà Lài, ra gặp QL.20 ở Phương Lâm. Sau khi quan sát thế trận tại chỗ, theo dõi hoạt động không quân và pháo binh của ta, được báo cáo kỹ tình hình diễn biến trận đánh, tình hình quân ta và thực lực của chúng, Trà quyết định chọn một giải pháp mới.

Quân đoàn 4 được tăng cường thêm Trung đoàn 95B vừa từ ngoài Trung vào. Đó là một trong những đơn vị thiện chiến nhất của quân CSBV. Đơn vị này đã tham gia chiến dịch tấn công Ban Mê Thuột, rồi được tăng cường cho Sư đoàn 320 ngăn chận đoàn quân di tản của Quân đoàn II từ Cao Nguyên, trên con đường 7B. Các đơn vị của Cầm gấp rút được bổ sung quân số và đạn dược, chúng lại được tăng cường thêm 1 đại đội xe tăng, một số pháo tầm xa và cao xạ phòng không.

Trận chiến đã bước sang ngày thứ ba, bộ đội của Cầm vẫn dậm chân tại chỗ. Sau khi quan sát tình hình thực tế, nhất là khi thấy Xuân Lộc được quân Dù tăng viện, Trần Văn Trà quyết định triễn khai kế hoạch mới. Với kế hoạch này, giặc không đánh trực diện, mà tìm cách đánh vào những vị trí ngoại vi của Xuân Lộc:

1/- Ngã ba Dầu Giây: Tuyến phòng thủ chỉ là CĐ52 (-) của Đại tá Ngô Kỳ Dũng (TĐ2/52 của Đại úy Huỳnh Văn Út đã được lệnh xuất phái cho Xuân Lộc từ chiều ngày 11.4). Tuyến bố phòng chưa được vững chắc vì mới di chuyển về đây chiều ngày 8.4 thì rạng sáng ngày 9.4 trận chiến đã mở màn. Quân số không nhiều.

2/- Núi Thị: Tuyến phòng thủ chỉ có một Tiểu đoàn. Dù hệ thống bố phòng vững chắc, nhưng nếu lực lượng tấn công là cấp Trung đoàn, được tăng cường thêm đơn vị đặc công, lấy nhiều đánh ít, thì lực lượng trú phòng khó chống đở. Nếu là mộ cấp chỉ huy quân sự giỏi, Tướng Trà và Tướng Cầm phải bằng mọi cách triệt hạ Núi Thị trước khi tiến đánh Xuân Lộc. Hay là cùng tiến đánh, nhưng mục tiêu Núi Thị phải ưu tiên hàng đầu. Trà và Cầm đã bỏ lỡ cơ hội “ngàn vàng”.

Lúc này lực lượng trấn thủ Xuân Lộc đã có thêm TĐ2/48 của Thiếu tá Đổ Duy Luật đang bảo vệ thị xã Hàm Tân (Bình Tuy) được trực thăng vận về; TĐ2/52 của Đại úy Huỳnh Văn Út đang trấn đóng vùng ngã ba Dầu Giây được lệnh tăng cường Xuân Lộc. Như vậy đến cuối ngày 11.4.75, lực lượng trú phòng tại Xuân Lộc đã có 2 Trung đoàn Bộ binh, 1 Tiểu đoàn BĐQ, 1 Thiết đoàn (-), và ĐĐ18TS.

Tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân “Giải Phóng” và Tướng Hoàng Cầm, TL/QĐ4 đều nhận định không thể tiếp tục đánh Xuân Lộc. Vì đánh lớn thua lớn, đánh nhỏ thua nhỏ, càng đánh càng thua. Trà chỉ thị Hoàng Cầm:

  • Xử dụng 1 Sư đoàn tiêu diệt CĐ 52 ở Dầu Giây và TĐ 2/43 ở Núi Thị.

Lực lượng mạnh của QĐ4 (Sư 7) kèm chặt Xuân Lộc.

1

Ngày 12 tháng Tư, Quân đoàn III xử dụng một trong hai lực lượng trừ bị cuối cùng (lực lượng kia là Lữ đoàn 3 Xung kích của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi), là Lữ đoàn 1 Dù của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh, cho trực thăng vận vào Xuân Lộc. Đơn vị này vừa từ ngoài Trung vào, chưa kịp nghỉ ngơi, nhưng với quyết tâm “Nhảy Dù! Cố gắng!”, những thiên thần mũ đỏ gồm các Tiểu đoàn 1, 8, 9, ĐĐ1/TS, ĐĐ3/CB, ĐĐ1/QYDù và TĐ3/PBDù, đã làm cho Sư 7 của Lê Nam Phong thất điên bát đảo!

Khi Lữ đoàn 1 Dù vào, Chiến đoàn 48 bàn giao trách nhiệm, di chuyển về bố trí dọc theo LTL.2 từ ngã ba Tân Phong (Chi khu Xuân Lộc), phía Nam thị xã, đến căn cứ Long Giao (Hậu cứ Trung đoàn 48); trở thành lực lượng trừ bị cho Sư đoàn.

Theo Hồi ký Chiến trường của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh, Lữ đoàn trưởng LĐ1Dù, vừa nhảy vào trận địa, các đơn vị Dù liền mở cuộc hành quân phản công địch. TĐ9Dù tiến quân về hướng Đông, tìm cách bắt tay với lực lượng Nghĩa Quân tại hai ấp Bảo Định và Bảo Bình. Mặc dù là lực lượng bán quân sự với quân số rất khiêm nhường, nhưng các chiến sĩ Nghĩa Quân đã chiến đấu kiên cường, giữ được xã ấp cho đến khi quân Dù đến. Nhưng một tin xấu đã đến với quân Dù, do không liên lạc được với nhau, những trái đạn súng cối từ trong ấp bắn ra đã gây thương tích trầm trọng cho vị TĐT, Trung tá Nho và hai binh sĩ. Sau khi bắt tay được với lực lượng trú phòng, TĐ9 và TĐ1 hoán đổi nhiệm vụ.

TĐ8Dù tiến quân tảo thanh hướng Bắc QL.1, đã chạm súng mạnh với TĐ1/141/CSBV, hạ sát nhiều quân giặc. Với lối đánh thần tốc và táo bạo của các thiên thần mũ đỏ, vòng vây quân CSBV bị tan rã dần.

Tại trận chiến Xuân Lộc, Biệt Đội Kỹ Thuật thuộc Phòng 7/BTTM, với những chuyên viên giải mã giỏi, đã góp công lớn tạo nên chiến thắng mà bớt đổ máu. BĐKT bắt được những mật điện của chúng với nội dung hoàn toàn tuyệt vọng:

“Tình hình thật khẩn trương. Đồng chí N. (TĐT/TĐ1) và nhiều đồng chí khác hy sinh, phải chôn tại chỗ. Chúng tôi đang tìm đường rút, nhưng bị quân Dù ngụy bao vây mọi hướng.”

      Nhưng sau 35 năm trận chiến, Lê Nam Phong đã là Trung tướng, được đề bạt chỉ huy Quân đoàn 1, trong một bài phỏng vấn, đã nói khoác: “Bộ đội chúng tôi ngừng tấn công thị xã, chuyển ra tấn công trên QL.1 để bao vây Xuân Lộc, chỉ để lại một đơn vị nhỏ bám sát trận địa. Nhưng địch lầm tưởng chúng đã đẩy chúng tôi ra…” Thật ra chúng không bị đẩy ra, mà bị bao vây chia cắt, bị tấn công tiêu diệt, không rút ra được. “Đơn vị nhỏ” mà Tướng Lê Nam Phong nói là Sư đoàn 7 do hắn chỉ huy!

Một bức điện mật khác:

“Lương thực hết. Hơn 100 chiến sĩ hy sinh, phải vùi họ ngay tại chỗ. Nhiều đồng chí bị thương. Chúng tôi không thể mang theo số vũ khí và máy truyền tin. Xin đồng chí Thủ trưởng cho chỉ thị…”

Mật điện trả lời của tên Thủ trưởng:

“Nếu không mang theo được thì hãy chôn và đánh dấu…Tôi muốn nhắc nhở các đồng chí…hãy nhớ đến chiến thắng Điện Biên Phủ và Tàu Ô. Đêm nay tôi sẽ cho Đại đội Trinh sát vào mang các đồng chí ra”.

Nhờ BĐKT giải mã kịp thời, quân bạn biết được ý định của quân CSBV, cho dàn trận phục kích. Đêm đó, khi đơn vị trinh sát địch xuất hiện, chúng đã lọt vào bẫy sập của TĐ1Dù, tất cả bị diệt gọn.

Một vài bức điện mật khác của quân CSBV:

“Hiện tại chúng tôi chỉ còn 39 chiến sĩ, nhưng đã có gần 200 đồng chí bị thương. Việc di chuyển rất khó khăn. Chúng tôi không thể bắt tay được với đơn vị trinh sát”.

“Đêm nay TĐ2 sẽ chi viện các đồng chí. Các đồng chí phải giữ vững tinh thần.”

TĐ1Dù lại áp dụng chiến thuật cũ, nhưng lần này, TĐ3/PBDù đã góp công lớn. Những loạt đạn với đầu nổ cao, đầu chạm nổ, đã tiêu diệt hoàn toàn những tên sống sót của đơn vị thuộc Trung đoàn 141, Sư đoàn 7/CSBV.

Chính nhờ hoạt động hữu hiệu của Toán BĐKT, quân bạn đã có hành động đúng lúc, đúng chỗ. Do đó sự thiệt hại của quân CSBV là không tránh khỏi.

Nhưng tên cựu Sư trưởng Sư 7 Lê Nam Phong đã nói dốc không biết ngượng miệng: “…Đối diện với hiểm nguy bị tiêu diệt, Tướng Đảo phải bỏ Xuân Lộc và đã chuồn đi trong đêm mưa. Ngày 21 tháng Tư, 1975, sau 13 ngày chiến đấu ác liệt, thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh long Khánh hoàn toàn được giải phóng.

Tiêu diệt cánh cửa thép Xuân Lộc, Quân đoàn 4 đã mở con đường cho đại quân của ta tiến về Sàigòn, với tinh thần ‘một ngày bằng 20 năm’…”

Nếu không được lệnh bỏ ngõ Xuân Lộc, vẫn giữ trận địa, cứ để cho QĐ2 và các đơn vị QK5 do Lê Trọng Tấn thống lĩnh từ hướng QL.15 đánh lên, QĐ3 từ hướng QL.20 đánh xuống, ta xử dụng bom BLU-82 hay CBU-55 đánh hủy diệt các mũi tiến công của chúng, rồi lực lượng ta từ Xuân Lộc đánh tập hậu, thì liệu quân CSBV có vượt qua được sông Đồng Nai để tiến về Sàigòn ngày 30.4.75 (?), hay đã bị tan tác.

Qua các bức điện mật, và những cuộc điện đàm được giải mã, ta thấy rõ TĐ1 Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn của hắn đã bị quân Dù xóa sổ, các đơn vị khác cũng kiệt quệ, có tiểu đoàn chỉ còn 39 tên. Nhưng cái bệnh ba hoa khoác loác, làm láo báo cáo hay của con người cộng sản thì đã thành cố tật, không thể sửa chữa được. Cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã để lại một câu nói để đời:

“Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm”.

Từ chủ động tấn công, chọn thời gian, chọn địa điểm, bây giờ quân xâm lăng CSBV đã rơi vào thế bị động. Chúng chỉ lo co cụm và chống đở, hoặc tìm cách “chém vè” để sống sót. Các đơn vị tham chiến của Hoàng Cầm hầu như hoàn toàn tan rã và mất tinh thần. Cái hào quang Điện Biên Phủ năm nào, khi Cầm là Trung đoàn trưởng cùng bộ đội Việt Minh cắm lá cờ chiến thắng lên nóc hầm của Tướng bại trận de Castries, đã tiêu tan. Bây giờ Cầm chỉ là tên bại Tướng! Tên Hoàng Nghĩa Khánh, Tham mưu trưởng Quân đoàn làm một bản phân tích tình hình, rồi đề nghị:

“Bỏ Long Khánh, đi vòng diệt Trảng Bom rồi đánh Biên Hòa”. Hoàng Cầm thì đề nghị: “…diệt Trung đoàn 52 ở ngã ba Dầu Giây và Tiểu đoàn 2/43 ở Núi Thị, rồi đánh chiếm Xuân Lộc.”

Sau khi tổng hợp các ý kiến, Trà kết luận:

“Xuân Lộc là điểm then chốt quan trọng, nên địch cố giữ. Hiện nay lực lượng chúng đã chiếm ưu thế. Ta không còn giữ được yếu tố bất ngờ. Vì vậy tiếp tục đánh vào Xuân Lộc là không lợi…Địch từ Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây không mạnh. Ta phải tận dụng lợi thế này của đường 20 và sơ hở này của địch …”

Căn cứ vào những phân tích ấy, Trà quyết định:

  • Xử dụng 1 sư đoàn tiêu diệt Trung đoàn 52 ở Dầu Giây và Tiểu đoàn 2/43 ở Núi Thị. Chận và diệt quân tiếp viện từ Trảng Bom ra.
  • Lực lượng mạnh của Quân đoàn 4 kèm chặt Xuân Lộc.

Chính Trà quyết định lực lượng mạnh của Quân đoàn 4 kèm chặt Xuân Lộc, thế mà Tướng Lê Nam Phong nói: “chỉ để lại một đơn vị nhỏ…”. Thật là láo khoét. Lịch sử được viết lại theo quan điểm của kẻ thắng. Mặc dù Sư 7 của Lê Nam Phong, Quân đoàn 4 của Hoàng Cầm bị đại bại, nhưng đứng trong phe chiến thắng, nên chúng tha hồ “vẽ rắn thêm chân”. Bảo Ninh, một tên văn nô Hànội, cũng với giọng điệu Lê Nam Phong, viết trong quyển “Nổi Buồn Chiến Tranh”, rằng “…Hồi bọn tớ tràn qua Xuân Lộc đuổi đánh bọn lính sư đoàn 18, ở những rãnh xích đầy những thịt với tóc. Giòi lúc nhúc. Thối khẳn. Xe chạy tới đâu ruồi bâu tới đấy…” Thật là dị hợm! Nói không biệt ngượng miệng. Nhưng thật đáng tiếc, sách của hắn đã được Hànội cho dịch ra rất nhiều thứ tiếng để tuyên truyền, và lừa bịp những ai cả tin. Người đọc mấy ai biết được sự thật. Trong suốt 12 ngày đêm chiến trận, không một chiếc xe tăng nào của Bắc quân vào được bên trong thị xã. Chỉ có vài chiếc chạy về hướng sân bay thì bị các chiến sĩ Mũ Nâu săn lùng và bắn hạ. Còn lại phần lớn bị thiêu hủy từ ngoài vòng rào kẽm gai. Một số mon men đến gần thì bị trúng mìn, bị M.72 hay súng nòng dài của chiến xa Thiết đoàn 5 Kỵ binh bắn hạ.

Quân CSBV đã thay đổi kế hoạch trước khi quân Dù đến. Thi hành chỉ thị của Trần Văn Trà,  Sư đoàn 341 được lệnh của Hoàng Cầm rút ra, lùi về phía sau để tránh bị tiêu diệt. Ngay trong đêm, Trung đoàn 266 đã hoàn tất việc rút quân, Trung đoàn 270 được lệnh trở lại Núi Thị, tăng cường Tiểu đoàn Đặc công, tiếp tục  mở những cuộc tấn công vào căn cứ hỏa lực đơn độc này. Sư đoàn 6 vẫn ở nguyên vị trí, phối hợp cùng Trung đoàn 95B, một đơn vị thiện chiến của CSBV, từ Cao Nguyên vừa được Tướng Văn Tiến Dũng điều động xuống tăng cường Quân đoàn 4.  Giặc đang triễn khai kế hoạch mới. Theo kế hoạch này, Sư đoàn 7 phải chận đứng các cuộc tiến công của quân Dù. Nhưng “lực bất tòng tâm”. Mặc dù cố gắng, mặc dù hạ quyết tâm, Sư 7 cũng đã bị đánh tan tác, bị đại bại. Tội nghiệp cho Lê Nam Phong phải chịu đựng những quả đấm mạnh của các Thiên thần Mũ đỏ.

Trong lúc đó lực lượng Quân đoàn 2 của Thiếu tướng Nguyễn Hữu An và Sư đoàn 3 của Quân khu 5 do Lê Trọng Tấn thống lãnh, từ ngoài Trung đang tiến vào theo đường duyên hải. Chúng được vận chuyển bằng xe molotova, chạy phon phon trên đường QL.1. Giặc đã xuất hiện ở Rừng Lá. Rừng lá chỉ cách Xuân Lộc hơn 1 giờ xe hơi!

Ngày 13 tháng Tư, Trung đoàn 95B đã vào vùng. Ngoài ra Quân đoàn 4 cũng được tăng cường thêm 1 đại đội xe tăng, một số pháo và cao xạ, đồng thời gấp rút bổ sung quân số và đạn dược.

  • TUYẾN THÉP XUÂN LỘC (9 tháng Tư - 20 tháng Tư, 1975)

    Sau khi trình bày diễn tiến trận đánh cho các phóng viên báo chí, ông Tướng nói tiếng Anh theo yêu cầu của một số…

  • TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT

    TÌNH HÌNH TỔNG QUÁT A/- PHƯỚC LONG: TRẬN ĐÁNH THĂM DÒ Vào đầu tháng 1 năm 1975, sau gần một tuần lễ mở cuộc tấn…

  • TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU: MẶT TRẬN ĐỊNH QUÁN

    III.    TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU: MẶT TRẬN ĐỊNH QUÁN         A/- TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG 1/- Địch: Trung đoàn 812/QK6. Sư đoàn 7/QĐ4, gồm các Trung…

  • MẶT TRẬN PHÍA TÂY: NGÃ BA DẦU GIÂY

    V- MẶT TRẬN PHÍA TÂY: NGÃ BA DẦU GIÂY        1/- PHÒNG TUYẾN CHIẾN ĐOÀN 52: Chiến đoàn 52 do Đại tá Ngô Kỳ Dũng chỉ…

  • LUI BINH

    VII- LUI BINH “Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết Như một vành tang bịt đất trời! Chân theo quân rút, hồn ta ở Sông…

  • NHẬN XÉT

    VIII- NHẬN XÉT         1/- LINH HỒN TRẬN CHIẾN XUÂN LỘC Có người nói, “mạnh quân, mạnh chi tướng”. Đúng. Chiến thắng Xuân Lộc là chiến…

  • DƯ LUẬN VỀ TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG XUÂN LỘC

    IX- DƯ LUẬN VỀ TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG XUÂN LỘC             Chiến trận Xuân Lộc bùng nổ với tương quan lực lượng của hai bên…

  • TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN XUÂN LỘC

    X- TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN XUÂN LỘC 1/. ĐIỆN BIÊN PHỦ        Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tại lòng chảo Điện Biên Phủ,…

  • SỰ TRẢ THÙ MAN RỢ

    XI- SỰ TRẢ THÙ MAN RỢ        Bộ đội của cái gọi là “Quân Đội Nhân Dân” phải học thuộc nằm lòng câu: “Quân đội…

  • SÀIGÒN THẤT THỦ

    XII- SÀIGÒN THẤT THỦ 1/- NGÀY NHỤC NHÃ         Ngày 8.4.1949, Hiệp ước Élysée công nhận Chính phủ Quốc gia Việt Nam nằm trong Liên…

  • KẾT

    XIII- KẾT             Ngày 11 tháng Ba năm 1945,  Quân phiệt Nhật đảo chính thực dân Pháp, lợi dụng tình thế,  Hoàng đế Bảo Đại…

Nguyễn Hữu Chế – TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG