Tự truyện của ông Võ Văn Kiệt do Huy Đức ghi :

 “Mậu Thân quả là đã gây được những tiếng vang chính trị trong lòng nước Mỹ, nhưng những người trực tiếp ở chiến trường như ông (Kiệt) đã phải chứng kiến sự hy sinh quá lớn. Ông nói: “Lúc đó tôi đau đến mức nhiều lần bật khóc”. Hơn 11 vạn Quân Giải phóng đã hy sinh trên toàn chiến trường. Phần lớn căn cứ địa Quân Giải phóng ở nông thôn đã trở thành “đất trắng” ( Huy Đức, Hiện tượng Võ Văn Kiệt , chương 1 ).

Theo thống kê của quân đội VNCH căn cứ theo lời khai của các tù binh trên 34 mặt trận xảy ra trên toàn quốc vào Tết Mậu Thân thì toàn bộ quân CSVN trước khi tham gia trận chiến là 85.000 quân, không kể 1 sư đoàn ( 10.000 người ) chính quy Bắc Việt tại Tây Nguyên và 2 sư đoàn ( 20.000 người ) chính quy Bắc Việt tại Khe Sanh.  Như vậy con số hơn 11 vạn của ông Võ Văn Kiệt có nghĩa là quân CSVN đã hoàn toàn chết hết.

Kế hoạch thai nghén từ khi Mao Trạch Đông quyết định cung cấp tiền và vũ khí

Năm 1966, tháng 6, 2 sư đoàn Quân Mỹ và VNCH mở cuộc càn quét từ vòng đai Sài Gòn, theo quốc lộ 13, đến vùng Mỏ Vẹt là biên giới Việt Miên, cách Sài Gòn 50 cây số.  Theo tự truyện của tướng Lê Đức Anh thì lúc này toàn bộ lực lượng quân sự của CSVN tại mặt trận B.2 ( Đông Nam Bộ ) mới chỉ có 1 sư đoàn gồm Trung đoàn Q.761, Q.762, và Trung đoàn 3.  Trung đoàn 3 là trung đoàn mới tuyển mộ từ Miền Tây.( Một sư đoàn quân du kích khoảng 4.500 người ).

Để đối phó với cuộc hành quân của Mỹ, Tướng CSVN Trần Nam Trung cho 2 trung đoàn Q.761 và Q.762 theo Trung ương cục dạt qua mặt trận B.1 ( tức là bên kia biên giới Cam Bốt ), còn Trung đoàn 3 và một phần của Chỉ huy sở Trung ương Cục “hòa tan” vào dân chúng ( Ban ngày là công dân VNCH, ban đêm là cán binh CSVN ).

Năm 1966, cuối năm, theo tự truyện của Tướng CSVN Lê Đức Anh :  “…cuối năm 1966 ông được Trung ương gọi ra miền Bắc …  Sau đó đồng chí Lê Duẩn cử ông là thành viên của phái đoàn Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn sang Trung quốc …”

Khi gặp đoàn Mao chủ tịch hỏi … : “Hiện nay cách mạng ở Miền Nam của các đồng chí có khó khăn gì?”.  …  Ông Anh cũng trả lời “… hiện nay có khó khăn rất lớn là xe tăng và máy bay của Mỹ rất nhiều nhưng Việt Nam thiếu vũ khí chống tăng, đánh máy bay và đánh tàu thủy;  thiếu đô la để mua gạo ở Căm Pu Chia và Thái Lan là chủ yếu, mà mua bên đó phải mua bằng đồng đô la”.   Nghe ông báo cáo vậy, ông Mao liền chỉ tay vào các quan chức, những người dưới quyền ông đang có mặt tại đó: “Hãy giải quyết cho các đồng chí Việt Nam súng đạn và tiền!”

Ông Anh nghĩ rằng ông Mao chỉ tay và nói thế thôi chứ cụ thể nếu có được thì chắc còn lâu.  Nào ngờ … ..khi trở về Miền Nam, ông đã thấy vũ khí được chở từ Trung Quốc sang cảng Si-ha-núc-vin, rồi từ đây ô tô chở thằng tới kho hậu cần của Bộ chỉ huy Miền ( Khuất Biên Hòa, Đại tướng Lê Đức Anh, trang 73).

Năm 1967, ngày 22-2, quân đội Mỹ mở cuộc hành quân mang tên Junction City, kéo dài 3 tháng trong khu vực Chiến Khu C của CSVN.  Lực lượng hành quân khoảng 25.000 người;  gồm các đơn vị thuộc Sư đoàn 1/BB, Sư đoàn 25/BB, Lữ đoàn 173 Dù, Lữ đoàn 196 Khinh binh, Lữ đoàn 199 Khinh binh, Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4/BB, 1 Lữ đoàn thuộc Sư đoàn 9/BB, Trung đoàn 11 Thiết giáp và 17 tiểu đoàn Pháo binh. Phối hợp với 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 5 VNCH.

Kết quả Trung ương cục CSVN trốn qua bên kia biên giới Cam Bốt, 100 cơ sở du kích địa phương bị phá hủy với 2.728 chết, 34 bị bắt, 139 xin ra hàng.  Phía Mỹ có 270 chết và 1.500 bị thương. Tịch thu 194 vũ khí các loại.

Hồi ký của Tướng Westmoreland cho rằng 3 trung đoàn của CSVN đã bị đánh tan với bằng chứng là 2.728 xác chết,  nhưng tự truyện của Tướng Lê Đức Anh cho biết thực ra 2 trung đoàn đang sống nhởn nhơ bên kia biên giới, còn lại 1 trung đoàn ban ngày là dân VNCH, ban đêm là du kích CSVN.

Con số 2.728 xác chết so với 194 vũ khí bị tịch thu đã chứng minh được rằng hằng ngàn xác chết không có súng.  Như vậy không phải là đánh trận, mà là tấn công vào khu dân cư của CSVN.  Dĩ nhiên tất cả đều là cán binh cọng sản, nhưng là những cán binh không có súng.  Còn con số 270 lính Mỹ chết và 1.500 bị thương thì có nghĩa là chết vì bị bắn tỉa và bị thương vì đạp hầm chông.

Johnson cầu hòa, Lê Duẩn không cho hòa

Năm 1967, ngày 8-2, Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B.Johnson gởi một bức thư cầu hòa cho ông Hồ Chí Minh :

Thưa ngài . Tôi viết cho ngài với niềm hy vọng là cuộc chiến Việt Nam có thể chấm dứt.  Cuộc chiến này gây tổn thất nặng nề – về sinh mạng, về thương tích, về tài sản và tình trạng khốn khó của con người.  Nếu chúng ta không tìm được một giải pháp hòa bình và công chính, lịch sử sẽ nghiêm khắc phán xét chúng ta”. ( Hồ sơ lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ.  Giáo sư Lê Văn Khoa trích dịch và đăng trong tác phẩm “Việt Nam 1945-1995”, trang 526).

Lúc này ông Hồ Chí Minh không còn họp Bộ chính trị cho nên bức thư tới tay Lê Duẩn, ông ta biết là Mỹ đã thối chí trong khi Hà Nội chưa ra quân.  Một mặt Lê Duẩn cầm thư này đi Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để vay thêm viện trợ, một mặt lên kế hoạch chuẩn bị Tổng tấn công chiếm Miền Nam.  Đồng thời trả lời cho Johnson :

Chỉ sau khi có sự chấm dứt vộ điều kiện các vụ oanh tạc và các hành động gây chiến khác của Mỹ chống VNDCCH thì VNDCCH và nước Mỹ mới ngồi vào bàn thương thuyết và thảo luận các vấn đề liên quan tới hai bên”.

“Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước sức mạnh, họ sẽ không bao giờ chịu thương thuyết trước sức mạnh của bom đạn. Chính nghĩa của chúng tôi tuyệt đối đúng.  Hy vọng rằng Chính phủ Mỹ sẽ hành động theo lý trí”. ( Hồ sơ lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ.  Giáo sư Lê Văn Khoa trích dịch và đăng trong tác phẩm “Việt Nam 1945-1995”, trang 528 ).

Lê Duẩn không cho hòa bởi vì ông chưa cung cấp vũ khí cho Miền Nam mà Mỹ đã đánh không lại.  Thế thì chỉ cần ông cung cấp súng đạn và kể cả đưa quân Miền Bắc vào thì ông sẽ lập nên kỳ tích đánh thắng nước Mỹ là nước mạnh nhất thế giới.

Năm 1967, tháng 2, bên kia biên giới Miên.  Tướng Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung ương cục Miền Nam bị thương trong một trận thả bom của B.52, ông được đưa ngay ra Hà Nội chữa trị.

Khi Nguyễn Chí Thanh về tới Hà Nội thì cũng là lúc Lê Duẩn bắt đầu lên kế hoạch đánh chiếm Miền Nam.  Từ đó hai ông cựu trùm của xứ Nam Bộ là Lê Duẩn và Phạm Hùng phối hợp với ông Bí thư Trung ương cục Miền Nam Nguyễn Chí Thanh cùng nhau bàn bạc về phương án tác chiến cho chiến dịch “Tổng công kích Tết Mậu Thân”. Lúc đó Phạm Hùng đang là Phó thủ tướng của nội các Phạm Văn Đồng.

Tình hình nội bộ Bắc Việt

Năm 1967, ngày 5-7, Tướng CSVN Nguyễn Chí Thanh đến chào Chủ tịch HCM để chuẩn bị lên đường trở lại Trung ương cục Miền Nam sau 5 tháng điều trị vết thương do một trận B.52 dội bom tại Cam Bốt..  Không ngờ chiều hôm đó ông bị lên cơn nhồi máu cơ tim và chết tại bệnh viện vào sáng hôm sau.

Cái chết của Tướng Nguyễn Chí Thanh được giữ bí mật cho đến năm 1984 sau khi ông Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Quốc và viết hồi ký tố cáo Lê Duẩn giết Nguyễn Chí Thanh bằng thuốc độc.  Để phản biện, Lê Duẩn cho người viết sách kể rõ về cái chết của Nguyễn Chí Thanh với lời chứng của gia đình Tướng Thanh.

Năm 1967, tháng 7, sau đám tang Tướng Thanh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và vợ đi nghỉ mát dài hạn tại Hungaria ( Nhằm đánh lừa tình báo của Hoa Kỳ .  Một khi Tướng Giáp cùng với vợ rong chơi tại Châu Âu thì có nghĩa là tình hình chiến trường tại Miền Nam không có gì ghê gớm ).

Trước khi lên đường Tướng Giáp phải viết sẵn một bài báo nhan đề “Chiến thắng vĩ đại, trách vụ to lớn”.  Bài viết được đăng báo và đọc trên đài phát thanh vào giữa tháng 9 năm 1967 để cho CIA in trí rằng trong thời gian nghỉ mát Tướng Giáp không hề nghĩ đến chiến tranh.

Năm 1967, ngày 24-7, Ông Hồ Chí Minh và Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng tiếp hai sứ giả hòa bình của Tổng thống Johnson là Raymond Aubrac và Herbert Marcovich.  Aubrac là người quen biết với HCM thời 1946, khi HCM tham dự hội nghị Fontainebleu có trú ngụ tại nhà của Aubrac.

Lúc HCM tiếp kiến hai sứ giả thì Tướng Nguyễn Chí Thanh vừa mới chết vì bệnh tim trước đó hai tuần;  và Tướng Võ Nguyên Giáp đã bị đưa đi “nghỉ mát” tại Hungaria. Theo tài liệu của Lưu văn Lợi thì hai bên đã gần như thỏa thuận các chi tiết thực hiện đàm phán với điều kiện Johnson phải tuyên bố ngưng ném bom Bắc Việt. *( Đây là động tác giả để câu giờ của Lê Duẩn ).

Trong khi đó Tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Hồ Chí Minh bị đưa ra ngoại quốc để giữ bí mật tuyệt đối cho kế hoạch. *( Các cuộc họp Bộ chính trị để bàn về kế hoạch tấn công sẽ không có mặt hai ông.  Ông Giáp chỉ trở về và biết được kế hoạch tấn công vào 5 tháng sau, chỉ 1 ngày trước khi trận đánh bắt đầu.  Sở dĩ Lê Duẩn phải đề phòng là vì Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp nguyên là cựu nhân viên tình báo của Mỹ vào năm 1944-1945 cho nên ông sợ CIA thông qua các ổ điệp báo Quốc tế tại Hà Nội có thể móc nối với hai người này ).

BÙI ANH TRINH

TRẬN MẬU THÂN 1968