Năm 2012 ông Trần Đỗ Cẩm đưa lên mạng bài tường thuật về trận Làng Vei 1968, căn cứ theo tài liệu của sách báo Mỹ.Tuy nhiên vì tác giả không rành về quân sự Bộ binh cho nên những nhận xét của ông đều không đúng dưới con mắt nhìn của những người từng ở trong Bộ binh :

– Trần Đỗ Cẩm :  “Như vậy, sở dĩ chiến xa địch đạt được thành quả vì cấp chỉ huy LLĐB đã ước đoán sai lầm khả năng xử dụng chiến xa của địch”.

– Bùi Anh Trinh :  Lực lượng chiến xa CSVN không đạt được thành quả chứ không phải là “đạt được thành quả”.  Bởi vì một khi đoàn chiến xa xuất kích thì phải đi nguyên và trở về đủ chứ không được để cho bị hạ chiếc nào.  Thế nhưng 11 chiếc đi mà đã có 7 chiếc bỏ xác tại trận thì nghĩa là thất bại nặng.  Một chiến xa được chế ra để đánh cả trăm trận, cả ngàn trận chứ không phải đánh 1 trận rồi bỏ.

Bộ chỉ huy LLĐB không hề ước đoán sai về khả năng có chiến xa xuất hiện, bằng chứng là họ đã bí mật đem tới đó 100 súng chống chiến xa loại tối tân nhất ( hỏa tiễn Law, M.72 ). Sách của Tướng Westmoreland và sách của Trung tá Phan Bá Kỳ có nói rõ là BTL/LLĐB Việt, Mỹ tại Nha Trang đã chuẩn bị chờ đón đoàn xe tăng tại Hạ Lào sau khi trận Mậu Thân bắt đầu khai diễn.

– TĐC :  Vị sĩ quan có cấp bậc cao nhất tại trại Lang Vei là Trung Tá Schungel, cũng là cấp chỉ huy trực tiếp của Trại Trưởng Willoughby.

– BAT :   Trung tá Schungel là chỉ huy trưởng LLĐB  tại Vùng 1 chiến thuật ( Trưởng toán C ).  Còn cấp chỉ huy trực tiếp của Đại úy Willoughby là Chỉ huy trưởng LLĐB khu chiến thuật nằm tại Đông Hà ( Trưởng toán B ). Schungel đến Làng Vei như là khách ở nhờ, nhiệm vụ của ông ta liên lạc với Trung tá Soulang của toán Biệt kích Lào.  Toán Biệt kích Lào cũng giống như lực lượng của Đại tá Vàng Pao, là lực lượng dân sự chiến đấu của CIA.

– TĐC :  Trung Tá Schungel đã từ chối không vào hầm chỉ huy để tiếp tay với BCH trại, điều này cho thấy ông không muốn nhận lãnh vai trò chỉ huy rất cần thiết trong lúc dầu sôi lửa bỏng.

– BAT :  Ông là khách ở nhờ cho nên ông không được quyền can thiệp vào chuyện của trại trưởng hay cố vấn trưởng, có chăng chỉ đưa ý kiến cố vấn cho trại trưởng mà thôi.  Đơn giản là vì ông khách cao cấp đó không biết quân lính và vũ khí trong đồn được bố trí ra sao, mỗi đơn vị đang nằm chỗ nào, mạnh yếu thế nào; mỗi đơn vị trưởng giỏi dở thế nào.

– TĐC :  Ngoài ra, với cấp bậc cao có uy tín hơn, Trung Tá Schungel có thể tiếp tay đảm trách việc liên lạc với các đơn vị yểm trợ bên ngoài. Rất có thể nếu đích thân Trung Tá Schungel vào máy yêu cầu pháo binh TQLC tại Khe Sanh bắn yểm trợ…”

– BAT :  Chuyện này không bao giờ xảy ra bởi vì hệ thống tổ chức trong quân đội chỉ cho phép người đồn trưởng mới được đưa ra các yêu cầu yểm trợ mà thôi.  Còn Schungel chỉ liên lạc về Đông Hà để nơi này chuyển cho Cố vấn trưởng Vùng 1 chiến thuật để ông này ra lệnh cho Căn cứ Khe Sanh đưa quân hoặc bắn pháo để tiếp cứu.

– TĐC :  Phân tách kỹ về phản ứng của TQLC ( Mỹ) trong trận Làng Vei, chúng ta thấy TQLC đã không làm tròn trách vụ yểm trợ như đã thỏa thuận. Về pháo binh, việc yểm trợ vừa chậm trễ lại kém hữu hiệu, không trợ giúp được gì nhiều.

– BAT :  Các trại dân sự chiến đấu của CIA có tính cách dân sự ( tự võ trang chống cộng, giống như tính cách của lực lượng nhân dân tự vệ ), không thuộc phạm vi trách nhiệm của quân đội Mỹ hay quân đội VNCH.  Các đơn vị Bộ binh VNCH đóng gần các trại Biệt kích biên phòng cũng không có nhiệm vụ tiếp cứu các trại BK, trừ khi có yêu cầu của BTL/Quân khu VNCH.  Nhiệm vụ tiếp cứu các trại BK là lực lượng Biệt kích tiếp ứng ( Mike Force ) nằm tại phi trường Nha Trang và Đà Nẵng.

Còn về yểm trợ pháo binh bị lúng túng là vì trong trại yêu cầu bắn diệt chiến xa thì pháo binh TQLC Mỹ không có nhiệm vụ diệt chiến xa, họ chỉ diệt bộ binh địch xung quanh trại mà thôi.  Nhưng ở đây thì chiến xa địch tới cách hàng rào vài chục mét, thậm chí đã vào vòng rào thì pháo binh không được phép bắn, bởi vì sẽ trúng vào phe ta ở trong đồn.

– TĐC :  “Sách báo, tài liệu và dư luận Hoa Kỳ thường có khuynh hướng bất công và thiên vị đối với đồng minh Việt Nam. Trong trận Làng Vei, tất cả 24 quân nhân Hoa Kỳ tham chiến đều đã chiến đấu rất anh dũng. …

 Những “Sao Bạc” Hoa Kỳ so sánh với quân nhân Việt Nam, chỉ là “Sao Lạc”. Nghe nói sau trận Làng Vei, đa số những quân nhân Việt Nam tham dự đều đã hy sinh vì tổ quốc tại các trại LLĐB khác sau đó không lâu”.

– BAT :   Cái này thì đúng quá, quân nhân LLĐB Mỹ chỉ có nằm dưới hầm hoặc chạy thoát thân. Trái lại trong khi chiến đấu họ được các chiến sĩ Biệt kích che chở tận tình cho nên trở thành gánh nặng cho quân Biệt kích chứ không phải là đỡ gánh cho quân Biệt kích.  Ngoài ra trong 6 ông cố vấn Mỹ tại đồn Làng Vei cũ thì chỉ có Trung sĩ Ashley làm việc, còn 5 ông kia không chiến đấu cũng được trực thăng cứu về Đông Hà nhưng vì huy chương có quá nhiều cho nên mỗi ông cũng được thưởng huy chương “Anh dũng bội tinh”.

Còn toán LLĐB/ VNCH được phái tới các trại DSCĐ thì chẳng khác nào “đem con bỏ chợ”, trên chẳng có ai lo mà dưới cũng chẳng có ai thương.  Có chiến đấu cho hết mình thì cũng chẳng được gì. Chẳng qua là vì lương tâm của người chiến binh,  một khi nguy hiểm ập đến thì chỉ biết tự cứu mình và cứu đồng đội theo bản năng của con người mà thôi.

Các chiến binh “Dân sự chiến đấu” người Sắc tộc thì mỗi khi đồn bị tấn công thì họ chỉ biết tìm cách thoát ra khỏi đồn để chạy về buôn làng dẫn vợ con chạy nạn ( Buôn làng thường cách đồn khoảng vài cây số, hễ lính trong đồn di chuyển đến đâu thì buôn làng cũng dời theo tới đó ).  Họ không có nhiệm vụ “tử thủ” hay “tử chiến” với quân CSVN.  Họ cũng không được giao nhiệm vụ “bảo vệ tổ quốc Việt Nam” hay nhiệm vụ “Tiêu diệt quân xâm lăng Cọng sản”.

Sự thật của các trại Biệt kích là như vậy cho nên các nhà quân sử dễ mắc sai lầm nếu bàn về chiến thuật hay kỹ thuật quân sự của quân BK.  Và các trại BK hoàn toàn của Mỹ cho nên nếu có chiến công thì phải tính là chiến công của Liên đoàn 5 LLĐB/HK, là một tổ chức tình báo của CIA.

BÙI ANH TRINH

  • Chú thích của người viết :

(1). Bài viết của Trần Đỗ Cẩm cho biết người trung úy Việt dùng xe jeep cứu các cố vấn Mỹ là Trung úy Lương Văn Quý.  Nhưng sách “Lực Lượng Đặc Biệt” của Trung tá Phan Bá Kỳ, xuất bản năm 2006, thì ghi rằng đó là Trung úy Lê Văn Quốc, trại phó của đồn Làng Vei.

(2) Trung tá Phan Bá Kỳ có trích nguyên văn bài viết của phóng viên chiến trường Robert Pisor; mà trong đó nêu rõ danh tánh của người dùng xe jeep chở nhiều chuyến cấp cứu các cố vấn Mỹ, Việt là Trung úy Lê Văn Quốc.  Cuối cùng Trung úy Quốc phải chạy bộ với lính BK về căn cứ Khe Sanh với nguyên quân phục và vũ khí, ông bị tước vũ khí tại cổng căn cứ.

Ngoài ra sách của Trung tá Kỳ cũng có vài chỗ nhầm lẫn khi viết về vũ khí cơ hữu của trại Làng Vei ( trang 190 và 191 ) :

–  “4 súng máy 57 ly không giật”, thực ra là 4 đại bác 57 ly không giật, nạp đạn từng viên, không phải là súng máy.

– “2 súng máy nòng 50 ly”, thực ra là 2 súng đại liên M.2, cỡ nòng 12,7 ly.  Trong tiếng Anh thì đại liên M.2 có tên là “Browning.50 caliber machine gun” ( Cỡ nòng 0.50 inch tức là 12,7 ly ).  Người Việt thì gọi là “đại liên 50”.

– “39 súng máy Browning với 200.000 viên đạn”.  Thực ra súng máy Browning là đại liên M.2.  Nhưng thực tế chỉ có 2 khẩu chứ không thể nào có tới 39 khẩu. ( Có lẽ là “đại liên 30” cũng của hãng Browning chứ không phải là “đại liên 50” )

Theo như kinh nghiệm của người viết bài này ( BAT, sĩ quan cố vấn trại Biệt kích của LLĐB/VN ) thì một đồn biệt kích có hỏa lực mạnh nhất chỉ có 20 đại liên 30 mà thôi. ( Đồn Pu Prang ).

– “47 súng máy 30 ly với 275.000 viên đạn”.  Thực ra là đại liên M.1917A6, cỡ nòng 7,62 ly ( 0.30 inch ) .  Tên tiếng Anh là “.30 caliber light machine gun”.  Cũng của hãng Browning.  Người Việt gọi là “đại liên 30”.  Và trên thực tế cũng không thể nào một đồn cấp tiểu đoàn mà lại có tới 47 đại liên 30.  Cao lắm thì chỉ có 20 khẩu mà thôi; bởi vì mỗi đại liên cần phải có 2 xạ thủ, cho nên trong đồn với 282 lính không đủ để sử dụng hoặc bảo vệ chừng đó súng đại liên.  Mỗi đại liên cần tối thiểu 5 tay súng trường cá nhân bảo vệ.

(3)  Trong đồn Làng Vei có 2 khẩu đại bác không giật 106 ly để chống chiến xa  nhưng 1 khẩu không sử dụng vì xạ thủ (một hạ sĩ quan Mỹ ) đi phép.  Khẩu còn lại mới hạ được 3 chiếc thì bị đại bác của chiến xa bắn hủy.  Còn 100 súng chống chiến xa M.72 ( Hỏa tiễn LAW ) hoàn toàn không hiệu quả.  Đây là loại vũ khí chống chiến xa mới nhất của Hoa Kỳ được sử dụng thử tại chiến trường Việt Nam, ngay lần này đã có kết quả là vô dụng nhưng các nhà máy sản xuất vũ khí tại HK đang mở hết công xuất để sản xuất M.72 cho quân đội Hoa Kỳ theo như đơn đặt hàng của Bộ Quốc Phòng.

Do đó  số súng M.72 lỡ sản xuất được dùng để trang bị cho quân đội VNCH nhằm mục đích trấn an tâm lý binh sĩ khi phải đối diện với xe tăng của CSVN.  Cho tới 1975, khi CSVN xua 3 sư đoàn tăng vào đánh chiếm Miền Nam thì quân đội VNCH cũng chỉ có M.72 để chống tăng..  Kết quả là xe tăng của CSVN đi tới đâu thì bộ binh VNCH tan hàng tới đó.

TRẬN MẬU THÂN 1968