Địa thế trận địa Khe Sanh

Quốc Lộ 9 của Việt Nam chạy song song với sông Bến Hải, cách 20 cây số về phía Nam,  bắt đầu từ vùng bờ biển Quảng Trị lên đến biên giới Lào-Việt và chấm dứt tại bờ sông Cửu Long, biên giới Lào- Thái.  Căn cứ Khe Sanh nằm giữa Đường 9 và sông Bến Hải, gần biên giới Lào, cách 12 cây số.

Từ sau Hiệp định Geneve 1954 Quốc lộ 9 là đường huyết mạch tiếp tế cho các tiền đồn hoạt động tại vùng cực Bắc của biên giới Lào, Nam Việt Nam. Và căn cứ Khe Sanh là tiền đồn ngăn chận vùng địa đầu giới tuyến, kiểm soát trục lộ xâm nhập của quân Bắc Việt vào Nam bằng đường xe hơi của Lào bên kia biên giới.

Đầu năm 1967 tướng tư lệnh quân đội Mỹ cho mở rộng căn cứ Khe Sanh thành một cứ điểm hỏa lực có cả sân bay như là cứ điểm Điện Biên Phủ trước kia.  Đơn vị trấn giữ là Trung đoàn 26 Thủy quân lục chiến Mỹ cùng với 1 tiểu đoàn Cơ giới (thiết giáp) và 1 đại đội tình báo chiến lược.  Tổng số quân khoảng 3.500 người.

Trên Quốc lộ 9, cách biên giới Lào 2 cây số có đồn Làng Vei là một đồn Biệt Kích Mỹ (CIDG) do một toán cố vấn Mỹ 14 người và một toán cố vấn Việt Nam 13 người làm cán bộ chỉ huy.  Quân số Biệt kích trong đồn là 450 người, hầu hết sắc tộc Bru (Vân Kiều).

Tháng 10 năm 1967, nằm trong kế hoạch Tổng công kích Mậu Thân, Hà Nội điều tới quanh Khe Sanh 2 sư đoàn là Sư đoàn 325.C ( Sư đoàn 325 thứ ba ) và Sư đoàn 304.B ( Sư đoàn 304 thứ nhì ).  Trong khi đó có 2 sư đoàn trừ bị nằm tại phía Bắc vĩ tuyến 17.  Đó là sư đoàn 320 và Sư đoàn 324.B. ( Mỗi sư đoàn khoảng 10.000 người )

Năm 1967, ngày 6 tháng 12, Hà Nội quyết định thành lập Bộ chỉ huy Chiến dịch Khe Sanh (Mặt trận B.5).  Do Thiếu tướng Trần Quý Hai làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Quang Đạo làm Chính ủy.  Lúc này quân CSVN tại khu vực Khe Sanh là 2 sư đoàn ( 20.000 người ).

Năm 1968, ngày 22-1, Tiểu đoàn 1/9 TQLC Hoa Kỳ được không vận đến tăng cường cho Khe Sanh.  Ngày 27-1, tăng cường thêm Tiểu đoàn 37 Biệt động quân VNCH, nâng tổng số lực lượng phòng thủ căn cứ là 7 tiểu đoàn ( khoảng 5.000 lính Mỹ và 1.000 lính VN ).

Sở dĩ có sự tăng cường quân số vì Tướng Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN là Westmoreland đọc được bài viết của Tướng Giáp đăng trên báo Quân đội Nhân dân;  trong đó Giáp hăm sẽ đánh lớn với quân Mỹ tại vùng Quảng Trị

Căn cứ Khe Sanh trong chiến dịch Tổng công kích Mậu Thân

Năm  1968, ngày 31-1, trận Tổng công kích Mậu Thân nổ ra trên toàn quốc, quân CSVN chiếm đóng thành phố Huế;  Hà Nội chỉ thị cho Mặt trận B.5 : ““Phải diệt căn cứ Làng Vây trong ngày 6 tháng 2 để phối hợp tác chiến chung với toàn Miền”.

Năm 1968, ngày 6-2, lúc 11 giờ 30 tối,  quân CSVN tấn công đồn Làng Vei, lực lượng tấn công gồm Trung đoàn 24 biệt lập, Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 675 pháo binh, Tiểu đoàn 198 của Trung đoàn 203 thiết giáp (14 chiếc xe tăng PT.76), 2 tiểu đoàn công binh, 2 đại đội đặc công, 1 đại đội súng máy phòng không, 1 trung đội súng phun lửa.

Lúc chiến trận nổ ra, trong đồn Làng Vei có 450 lính Biệt kích Mỹ người sắc tộc Bru, 14 cố vấn HK do Đại úy Willoughby làm trưởng toán và 13 cố vấn VN do Trung úy Phạm Duy Quân làm trưởng toán.

Lúc 1 giờ sáng ngày 7-2, quân CSVN tràn ngập khu trung tâm đồn Làng Vei. Quân phòng thủ bị đánh bại bởi xe tăng PT.76.

Năm 1968, ngày 7-2, buổi sáng, Tướng Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN là Westmoreland bay ra Đà Nẵng để theo dõi trận Làng Vei.  Trong đêm ông đã bị dựng dậy 2 lần vì Chỉ huy trưởng Liên đoàn 5 Lực lượng đặc biệt HK cho biết là quân TQLC/ Mỹ tại căn cứ Khe Sanh không chịu tiếp viện cho đồn Làng Vei theo như kế hoạch phối hợp hoạt động đã ấn định trước giữa LLĐB/Mỹ và TQLC/Mỹ.

Tướng Westmoreland đích thân ra lệnh giải cứu đồn Làng Vei bằng trực thăng, nhưng chỉ cứu được 14 trong số 24 cán bộ LLĐB/HK và VN, 10 người còn lại đã bị tử thương.  Còn lính Biệt kích Bru thì họ tự gải cứu bằng cách chạy về buôn làng dẫn vợ, ôm con chạy xuống Khe Sanh.

Cũng trong buổi sáng ngày 7-2, các tướng lãnh Mỹ tại Đà Nẵng đã báo cáo cho Westmoreland biết rằng quân CSVN hiện diện tại vùng giới tuyến là 7 sư đoàn;   gồm có 2 sư đoàn bao vây căn cứ khe Sanh, 2 Sư đoàn bố trí tại vùng bờ biển phía nam sông Bến Hải, 1 sư đoàn vùng thượng nguồn phía nam sông Bến Hải, 1 sư đoàn bố trí tại phía Bắc Đà Nẵng – Nam Thừa Thiên, và 1 sư đoàn đang đánh vào Thừa Thiên.

*( Tuy nhiên sự thực chỉ có  sư đoàn 325 và sư đoàn 304 tại Khe Sanh và 2 Trung đoàn đang đánh Thừa Thiên ).

* Chú giải :  Sai lầm của Tướng Westmoreland

Tướng Wesrtmoreland bị đè nặng với con số 7 sư đoàn xung quanh Huế khiến cho ông phải xin thêm quân.  Không phải do lỗi các ông tướng Mỹ báo cáo láo mà thực sự là cơ quan tình báo của quân đội Mỹ quá tồi, họ quá tin tưởng vào CIA nhưng CIA chỉ chuyên môn sưu tầm tin bằng cách mua tin.

*( Nhưng thói đời là hễ có người mua tin thì sẽ có “con buôn tin”. Mà hễ là con buôn thì luôn luôn xảy ra tình trạng “hàng dõm”.   Cái tai hại là người mua tin không thể nào kiểm chứng được là hàng thật hay hàng giả.  Điều này đã được ông Trùm CIA Frank Snepp nêu ra trong tác phẩm Decent  Interval.  Mãi tới sau 1975 thì CIA mới phát hiện ra điều này.  Trong khi người viết bài này, BAT, cũng từng là một “con buôn” tin cho CIA trước 1975 cho nên biết rất rõ ).

Trước đây Westmoreland mạnh dạn thành lập cứ điểm Khe Sanh bởi vì ông cho rằng nếu quân CSVN tấn công Khe Sanh bằng các sư đoàn bộ binh và pháo binh như tại Điện Biên Phủ thì ông sẽ dùng B.,52 thả bom rải thảm xung quanh căn cứ, giống như kế hoạch của Ngũ Giác Đài dùng để giải vây cho Điện Biên Phủ năm 1954.

Tuy nhiên cho tới khi quân CSVN tổng tấn công khắp Miền Nam thì báo chí thi nhau cảnh báo về một trận Điện Biên Phủ thứ hai tại Khe Sanh.  Những lời cảnh báo được lập đi lập lại với nhiều nhân vật khác nhau khiến cho Westmoreland cũng bắt đầu lo lắng.  Trong khi đó Washington liên tục nhắc chừng ông đừng để bị gài bẩy như Điện Biên Phủ và khuyên nên rời bỏ Khe Sanh.

Đến ngày 22-3-1968, một trong những nhà bình luận sử học nổi tiếng của Mỹ là Tiến sĩ Arthur Schlesinger, bình luận gia của tờ Post, đã viết về trận Khe Sanh đang diễn ra:

“Tổng thống Johnson muốn ví mình với Lincoln…nhưng ông không có lòng can đảm loại bỏ những ông tướng nào không đủ khả năng cầm quân để chiến thắng quân địch…Nếu là Lincoln thì ông ta không để Westmoreland ngồi lâu không quá 3 tháng.” ( Hồi ký của Wsetmoreland, trang 483.  Schlesinger được báo chí quốc tế gọi là “nhà thông thái” ).

Kế hoạch bom rải thảm

Năm 1968, ngày 9-2, một trận đụng độ xảy ra giữa 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 1/9 TQLC/Mỹ và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 101 D CSVN.  Kết quả trân đụng độ phía HK có 26 chết, 27 bị thương;  phía CSVN có 51 chết, 78 bị thương.

Ngày 10-2, hai trung đoàn 66 và 9 thuộc Sư đoàn 304 B; và hai trung đoàn 101 D, 95 C thuộc Sư đoàn 325 C của CSVN áp sát xung quanh căn cứ khe Sanh, chốt giữ 13 cao điểm để hình thành trận địa tấn công.

Ngày 11-2,  hai phi cơ  C.123 của Mỹ bị trúng đạn pháo kích tại phi trường Khe Sanh, một chiếc bị nổ tung, một chiếc bay về được tới Đà Nẵng.  Kể từ lần này máy bay tiếp tế cho Khe Sanh không đáp hẵn xuống phi trường mà bay sát mặt phi đạo rồi bấm dù cho dù lôi các kiện hàng ra cửa bụng sau phi cơ,  rơi xuống mặt phi đạo.

Ngày 23-2, liên tục trong 8 tiếng đồng hồ, quân CSVN pháo kích 1.300 quả đạn vào căn cứ Khe Sanh.  Một quả đạn rơi trúng kho đạn của căn cứ, kho đạn bị nổ khiến 10 binh sĩ HK bị chết và 51 bị thương.

Cũng bắt đầu từ ngày này, Tướng Westmoreland cho thi hành kế hoạch thả bom rải thảm dọn sạch chung quanh căn cứ Khe Sanh :

Bắt đầu từ giữa tháng 2 cho tới đầu tháng 4, mỗi ngày có 300 phi xuất rải bom, trung bình cứ 5 phút có 1 phi xuất, tổng cộng là 35.000 tấn bom (!).

Cũng trong thời gian trên, có 2.602 phi vụ B.52, tổng cộng 75.000 tấn bom.

Cũng trong thời gian trên, có trên 100.000 quả đạn pháo 175 ly bắn xung quanh Khe Sanh, trung bình mỗi ngày bắn 1.500 quả.

Với lượng bom đạn như vậy, chung quanh Khe Sanh trong vòng bán kính 10 cây số, tất cả đều biến thành bùn.  Hai sư đoàn quân CSVN ( 20.000 người ) đang bao vây Khe Sanh cùng chung số phận với cây cối và đất đá.

Ngày 29-2, lúc 9 giờ 30 tối, một tiểu đoàn CSVN tại phía Đông căn cứ Khe Sanh, là nơi chưa bị bom rải thảm, đã tấn công tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 37 BĐQ/VNCH nhưng bị đẩy lùi.  Sáng hôm sau quân VNCH lục soát đếm được 70 xác quân CSVN.

BÙI ANH TRINH

Bản đồ từ Quảng trị đi Khe Sanh

TRẬN MẬU THÂN 1968