“Điện Biên Phủ thứ hai” thất bại

Năm 1968, giữa tháng 3.  Hồi ký của Tướng Westmoreland : “Đến giữa tháng Ba có dấu hiệu cho thấy địch bỏ Khe Sanh;  mưu toan muốn tạo Khe Sanh thành Điện Biên Phủ thứ hai đã thất bại.  Quân Bắc Việt bắt đầu rút về bên kia biên giới Lào”…

 “ Từ Khe Sanh các đơn vị của Sư đoàn Không kỵ, quân đội VNCH, TQLC Hoa Kỳ bủa ra mọi hướng để thanh sát kết quả cuộc không tập và yểm trợ pháo binh trong suốt mấy tháng trước…ban tham mưu của tôi ước đoán quân Bắc Việt bị thiệt ít nhất từ 10.000 đến 15.000 trong nổ lực biến Khe Sanh thành Điện Biên Phủ nhưng bất thành. Hoa Kỳ bị thiệt 205 binh sĩ” (Bản dịch của Duy Nguyên trang 500).

  • Chú giải : Bom rải thảm

Trong khi đó tài liệu “Quân đội Nhân dân Việt Nam” của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân CSVN ghi nhận lực lượng CSVN tham dự trận Khe Sanh là :

“Các sư đoàn bộ binh 304, 320, 324B và 325 (từ tháng 5, Sư đoàn 308 và Trung đoàn 246 vào thay cho các sư đoàn 324B và 325 đi chiến trường khác), Trung đoàn 270 (Vĩnh Linh) và 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, 1 đoàn và 5 đại đội đặc công, 5 trung đoàn pháo binh (16, 45, 84 và 204), 3 trung đoàn pháo phòng không, 1 tiểu đoàn tăng – thiết giáp, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu đoàn trinh sát, 1 tiểu đoàn hoá học, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội súng phun lửa, 6 tiểu đoàn vận tải và lực lượng vũ trang các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hoá”.

Lực lượng này ( khoảng 70.000 người ) hơn hẵn so với lực lượng CSVN trong trận Điện Biên Phủ.  Trong khi quân phòng thủ tại Điện Biên Phủ là 12.000, còn quân phòng thủ tại Khe Sanh là 6.000.  Và kết quả cuối cùng là căn cứ Khe Sanh vẫn vững vàng suốt  một tháng rưỡi chiến đấu mà chỉ thiệt hại 205 người.

Tài liệu của quân đội CSVN ghi rằng Sư đoàn 325 (tức là 325C) và Sư đoàn 324B đi chiến trường khác nhưng thực ra là “đi về bên kia thế giới”.  Sư đoàn 320 nhập trận sau, trấn giữ chận viện trên Quốc lộ 9 nên thoát khỏi bị B.52 chôn vùi.  Sư đoàn 324B cũng nhập trận sau nhưng phải vào thay thế Sư đoàn 304B nên chịu chung số phận với 325C.  Còn 304B bị thiệt hại nặng ngay mấy ngày đầu nên được kéo ra ngoài chốt giữ các yếu điểm trên Quốc lộ 9, khu vực biên giới, nhờ vậy mà không đến nỗi bị xóa sổ.

Người đời đọc tài liệu quân sử của chiến tranh Việt Nam nghe nói nhiều về bom rải thảm B.52 nhưng ít ai được chứng kiến tận mắt hay được xem phim ảnh về kết quả sau một cuộc thả bom của B.52.  Chỉ có các toán thám sát của Lực lượng Đặc biệt VNCH và Mỹ mới lường được sức mạnh của bom B.52; *( Người viết bài này, BAT, đã từng nhảy toán kiểm chứng kết quả các phi vụ B.52 nên biết rõ ).

Mỗi phi tuần B52 thường là 3 chiếc bay theo hàng ngang, mỗi chiếc rải bom theo hàng, bề ngang khoảng 300 m và bề dài là 2.000 mét.  Trong diện tích 300 mét ngang và 2.000 mét dọc có 84 trái bom 500 cân Anh và 24 trái bom 725 cân Anh.  Mỗi trái bom 750 cân tạo ra một hố bom đường kính 15 mét, sâu từ 3 tới 5 m.  Mỗi trái bom 500 cân tạo ra hố bom nhỏ  đường kính 10m.  Do đó một khi có một phi tuần B.52 ném bom thì trong diện tích bề ngang 1 cây số, bề dài 2 cây số không có một sinh vật nào sống sót do bị sức ép của bom chứ chưa nói đến bị miểng.

Còn cây cối thì bị chặt đứt nằm chồng chéo ngổn ngang 3, 4 lớp không thể nào đi qua được.  Nếu ngồi  trên máy bay quan sát L.19 hay máy bay trực thăng nhìn xuống thì cũng không thể nào nhìn thấy được những gì dưới đống cây.  Cứ như vậy mà quân CSVN bị chôn vùi hằng trung đoàn, sư đoàn cùng một lúc mà không ai phát hiện ra được;  nghĩa là sau một trận B.52 thì nguyên một khu vực đóng quân trở thành một nấm mộ khổng lồ. Vậy mà Westmoreland đã cho thả tới 2.602 phi vụ, tức là 867 nấm mộ khổng lồ bao quanh căn cứ Khe Sanh, mỗi nấm mộ bề dài 2 cây số và bề ngang 1 cây số.

Tuy nhiên con số 2.602 phi vụ B.52 với 75.000 tấn bom, và mỗi ngày 300 phi xuất phản lực với 35.000 tấn bom dành cho 15.000 xác địch quân là quá phí, phí tới độ không chấp nhận nổi. Tính ra mỗi xác chết CSVN phải lãnh tới hơn 7 tấn bom.  Ngoài ra còn có 100.000 trái đạn  đại bác175 ly, tính ra mỗi xác chết CSVN cõng thêm 7 trái đạn 175 ly nữa ( Khối thuốc nổ trong 1 trái đạn 175 ly đủ sức nhấc một chiến xe tăng 27 tấn lên khỏi mặt đất ).

Hành quân giải tỏa Khe Sanh

Năm 1968, ngày 22-3, nhà sử học nổi tiếng của Mỹ là Schlesinger viết trên tờ Post về việc quân CSVN bao vây Khe Sanh hơn 1 tháng qua : “Các nhà lãnh đạo còn chút lương tâm và thông minh phải tìm cách di tản ngay tức khắc số binh sĩ bị kẹt trong vòng vây”….!!    Trong khi đó thực tế tại Khe Sanh cho thấy bài báo của Schlesinger vô cùng khôi hài.

Trước sự nôn nóng của dư luận báo chí Mỹ;  Tướng Westmoreland, Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN, quyết định mở một cuộc hành quân giải tỏa Khe Sanh sau khi ông biết chắc là toàn bộ quân CSBV đã rút về bên kia biên giới.  Tuy nhiên để cho chắc ăn ông đã điều động tới 2 sư đoàn làm nỗ lực chính và 2 sư đoàn làm nỗ lực phụ ( Tổng cộng khoảng 40.000 người ).  Nỗ lực chính gồm Sư đoàn 1 Kỵ binh không vận Mỹ.  Trung đoàn 6 và Trung đoàn 1 TQLC/Mỹ.  Lữ đoàn Nhảy dù VNCH.  Nỗ lực phụ gồm Sư đoàn 3/TQLC/Mỹ và Sư đoàn 1/BB/VNCH.

Ngày 1-4,  Nổ lực chính bắt đầu triển khai hành quân với 300 trực thăng và 148 khẩu đại bác.

Ngày 4-4, Lữ đoàn Nhảy dù VNCH được thả xuống khu vực phía Tây Khe Sanh, tức là vùng biên giới Lào Việt để chận quân CSVN từ Khe Sanh rút về biên giới, qua Lào.  Nhưng cũng là để bảo vệ an toàn cho các cánh quân Mỹ đang lục soát xung quanh Khe Sanh, ngăn chận quân CSBV có thể từ bên kia biên giới tràn sang với xe tăng và đại pháo.

Cũng trong ngày này Tiểu đoàn 1/5 Khinh kỵ Mỹ chạm súng với một tiểu đoàn CSVN đang cố thủ tại một đồn Pháp cũ trên khu vực Quốc lộ 9.  Quân Mỹ bị thiệt hại nặng, trung tá Tiểu đoàn trưởng bị tử thương.  Tiểu đoàn 2/5 Không vận HK được đưa vào tiếp ứng nhưng quân CSVN đã rút đi.( Một tiểu đoàn khinh kỵ Mỹ khoảng 550 người, một tiểu đoàn TQLC Mỹ khoảng 650 người ).

Cùng ngày, Tiểu đoàn 1/9/TQLC/HK từ căn cứ Khe Sanh mở cuộc hành quân chiếm lại đồi 471, đếm được 148 xác CSVN bỏ lại chiến trường.

Ngày 6-4, Tiểu đoàn 1/9/TQLC/HK lục soát tái chiếm các đồi 552 và 862 nhưng không gặp sự kháng cự.

Cùng ngày, Tiểu đoàn 2/26/TQLC/HK từ căn cứ khe Sanh bung ra lục soát tái chiếm đồi 558 nhưng gặp sự chống cự mãnh liệt của một đơn vị cấp đại đội ( khoảng 100 người ), phải 3 ngày sau quân Mỹ mới chiếm được đồi sau khi ngọn đồi đã biến thành bùn.  *( Có lẽ đại đội này sống sót giữa các trận bom nhưng mất liên lạc với Sư đoàn của họ.  Vì còn lương thực cho nên họ tiếp tục nằm lại tại đó để chờ lệnh cấp trên ).

Cũng trong ngày này, Lữ doàn Nhảy dù VNCH dàn đội hình hàng ngang từ biên giới Lào tiến về căn cứ Khe Sanh.  Khi đến gần căn cứ thì chạm địch.  Quân CSVN kêu pháo binh bắn tràn lên trận địa tiêu diệt cả hai bên khiến cho Đại đội 33 Nhảy dù tổn thất nặng. *( Đây là đơn vị CSVN sống sót nhờ bám sát Căn cứ Khe Sanh nên không bị bom B.52 ).

Ngày 8-4, cuộc hành quân giải tỏa Khe Sanh chấm dứt, tổng kết quân Hoa Kỳ có 92 chết, quân VNCH có 34 chết, quân CSVN bỏ lại tại trận 1.304 xác và 21 bị bắt.

  • Chú giải : Đánh trận theo áp lực của báo chí

Trước khi quyết định thiết lập Khe Sanh như là một “cứ điểm Bộ binh- Không quân” thì tướng Westmoreland đã tham khảo rất kỹ lưỡng với các nhà quân sự học, nhất là các tướng lãnh Pháp.  Các tướng Pháp từng tham chiến tại Việt Nam đều khuyên nên giữ Khe Sanh như một tiền đồn trấn ải cho vùng địa đầu giới tuyến.

Trong khi đó các ông tướng Ngũ Giác Đài lại sợ rơi vào một trận Điện Biên Phủ thứ hai.  Hồi ký của Westmoreland ghi lại : “Trong khi địch dồn quân tại Khe Sanh, ngày nào tôi cũng nhận được thư từ Hoa Thịnh Đốn gửi sang nhắc chừng tôi đừng để bị gài bẫy như Điện Biên Phủ và khuyên tôi nên bỏ Khe Sanh”.

Áp lực của các nhà quân sự tài tử, tức là các ông giáo sư dạy sử hay các nhà bình luận báo chí đã khiến cho Tướng Westmoreland có những cân nhắc quá đáng.  Ông đã mời một vị Đại tá quân sử của Ngũ Giác Đài phân tích chiến thuật chiến lược của Khe Sanh so với Điện Biên Phủ; nhưng đáng buồn là vị Đại tá này khuyên không nên giữ Khe Sanh.

Tướng Westmoreland sử dụng tới 7 tấn bom và 7 viên đạn 175 ly cho mỗi xác chết địch quân chứng tỏ ông tướng và ban tham mưu của ông quá tệ.  Nhưng vì tự cao và tự ái cho nên Westmoreland chớ hề tham khảo ý kiến của các tướng lãnh VNCH, không phải họ tài giỏi hơn các ông tướng Mỹ nhưng họ rành CSVN hơn.

*( Trung tá Ngô Quang Trưởng có thể ngồi một chỗ mà “đánh hơi” được quân CSVN giấu súng ở chỗ nào.  Hoặc ông ta đứng hút thuốc, ngắm giòng sông Ea Drang mà “tiên tri” ngày mai quân của ông đụng địch tại đâu, lúc mấy giờ.  Hoặc Trung tướng Trần Ngọc Tám ngồi một chỗ mà tiên tri quân CSVN sẽ đánh lớn trong tết Mậu Thân và họ sẽ thua ).

Mặc dầu quân CSVN chết chất đống dưới những nấm mộ khổng lồ của B.52 nhưng Lê Duẩn không màng tới những chuyện đó bởi vì con trai của ông ta đang du học tại Pháp hoặc đang nằm trị bệnh tâm thần tại Hà Nội, ông ta chỉ biết “tấn công, tấn công, đại tấn công…Và chiến thắng, chiến thắng, đại chiến thắng…”.

BÙI ANH TRINH

TRẬN MẬU THÂN 1968