Năm 1968, ngày 31-1, mùng một tết.  Lúc 3 giờ sáng, đội Biệt động số 11 thuộc Đoàn F.100 CSVN gồm 17 người dùng bộc phá đánh vỡ một mảng tường rào Tòa đại sứ Mỹ và tràn vào trong khuôn viên, bắn chết 4 Quân cảnh rồi chia nhau tấn công vào nhà riêng của Đại sứ, tòa nhà làm việc của Tòa Đại sứ và các nhà khác;  nhưng họ bị lính Thủy quân lục chiến từ trong các tòa nhà bắn ra nên lần lượt bị tiêu diệt; 16 chết, Đội trưởng bị bắt sống.

Lúc 8 giờ30 sáng, trong khuôn viên tòa đại sứ Mỹ đang còn ngún khói chiến trận, Tướng Wesmoreland họp báo trấn an dư luận báo chí Mỹ và Quốc tế, ông cho rằng với tầm cỡ của một cuộc chiến rộng lớn như thế này, quân CSVN chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại.

Tuy nhiên báo chí đã tung tin ngược với lời tuyên bố của Westmoreland : “Dường như người ta nói láo bằng một sự bênh vực mỹ miều và một chiến thắng ngoạn mục mà Westmoreland cùng nhiều người khác muốn tô điểm”;  “Westmoreland đang đứng trên đống gạch vụn mà dám huênh hoang rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp…” ( Hồi ký của Westmoreland, bản dịch của Duy Nguyên trang 470 ).

Một tuần sau khi trận tổng tấn công mở màn

Năm 1968, một tuần sau trận tổng tấn công, Tổng thống Thiệu xuất hiện trên đài truyền hình Mỹ qua chương trình “Face The Nation”.

Tài liệu của Đại sứ Bunker ghi nhận : “Ellsworth đã xem chương trình ấy qua đài truyền hình Quân đội Hoa kỳ : Ngoại trừ Bob Shaplan còn giữ được phong cách lịch sự, những người khác đều có thái độ hằn học khi chất vấn ông ta. 

Thế nhưng bằng những dẫn chứng xác đáng, bằng Anh ngữ, Thiệu đã trả lời trôi chảy mọi vấn đề.  Ông ta luôn luôn chủ động, trầm tỉnh và lịch sự ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 190 ).

Ông Thiệu trầm tỉnh bởi vì ông ta nắm rõ tình hình và ông ta biết làm thế nào để đối phó với tình hình.  So với cuộc trả lời phỏng vấn trước đó của Tướng Westmoreland thì rõ ràng Tướng Thiệu bản lĩnh hơn.  Ông đã thuyết phục được giới báo chí bằng những lập luận có dẫn chứng và chứng minh.  Trong khi đó những câu trả lời của Westmoreland chỉ càng làm cho các phóng viên nghi ngờ thêm, cuối cùng thì họ kết luận rằng ông tướng nói láo.

Năm 1968, ngày 8-2, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy mở màn cuộc tranh cử chức tổng thống Hoa Kỳ với lời tuyên bố : “Đã đến lúc Hoa Kỳ phải đối diện với sự thật rằng một cuộc chiến thắng bằng quân sự chẳng bao giờ tìm thấy được và sẽ chẳng bao giờ xảy ra” .  Cuối cùng ông kêu gọi thỏa thuận cho CSVN được tham gia chính quyền Miền Nam Việt Nam.  Đây là một đề nghị tưởng như là mưu tìm hòa bình nhưng thực chất là “bỏ rơi Nam Việt Nam”.

Năm 1968, ngày 11-2, bình luận gia của đài truyền hình CBS Mỹ là Walter Cronkite đến Việt Nam để quan sát tình hình sau trận Mậu Thân.  Khi trở lại Mỹ ông  phát biểu trên đài truyền hình rằng “Hoa kỳ đã lún sâu vào chỗ không lối thoát”“Đó là hậu quả của một cuộc chiến bi thảm… Tôi sẽ làm mọi thứ có thể làm được để chấm dứt cuộc chiến”.

*( 39 năm sau Cronkite trở lại Việt Nam và được Tướng Võ Nguyên Giáp cho biết là CSVN đã thua trắng tay trong trận Mậu Thân ).

Năm 1968, ngày 13-2, qua một cuộc điện đàm, Tướng Westmoreland yêu cầu Tướng Tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ là Earle Wheeler tăng quân khẩn cấp cho chiến trường Nam Việt Nam.  Wheeler đến Sài Gòn để lượng giá yêu cầu tăng quân của Westmoreland, sau đó ông trở về Mỹ và tỏ ra bi quan :

“Wheeler cho rằng trong đợt tấn công đầu tiên, cộng quân gần như đã thành công trong việc chiếm giữ hằng chục thành phố, thị trấn, điều đó có nghĩa là, hy vọng một cuộc chiến thắng bằng quân sự của phe đồng minh còn trong mong manh, xa vời” (Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 204 ). Tuy nhiên sau đó ông cũng chấp thuận đề nghị tăng 206.000 quân của Tướng Westmoreland.

*Chú giải : Theo thông tin tình báo từ CIA, Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu QL/VNCH ghi nhận trước tết quân CSVN được ước tính khoảng 323.500 người (Tài liệu của Đại tá Hoàng Ngọc Lung, Trưởng phòng tình báo Bộ TTM/ VNCH ).  Trong khi sự thực toàn bộ lực lượng của CSVN trước trận Mậu thân chỉ có 85.000 quân…(!!).  So sánh con số ước tính 323.500 với con số thực tế 85.000 cho thấy cơ quan tình báo CIA siêu đẳng tới mức nào.

Và theo tài liệu báo cáo của Bộ Tổng tham mưu QLVNCH do Nha quân sử phổ biến thì trong tháng 2 năm 1968, nghĩa là sau 30 ngày nổ ra trận chiến, quân CSVN bỏ xác tại các chiến trường là 41.181 người;  bị bắt làm tù binh là 7.391 người.  Thống kê này không tính số xác được mang đi hoặc bị thương.  Và trong tháng 3 năm 1968 thì quân CSVN bỏ xác tại chỗ là 17.192; bị bắt làm tù binh 2.070 người.  Tổng cộng nội trong 2 tháng đã có 60.000 người chết và 9.400 người bị bắt.

Số còn lại đã bỏ ngũ trở về quê sinh sống, chỉ riêng tại Quân khu 9 (Miền Tây) con số bỏ ngũ là 12 ngàn ( Quân Khu 9, 30 Năm Kháng Chiến;  Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ).

Nghĩa là lực lượng quân đội của CSVN đã bị tiêu diệt hoàn toàn.  Thế nhưng theo như thông tin tình báo mà Bộ TTM/VNCH nhận được từ CIA thì sau tháng 2 năm 1968 quân CSVN còn tới 283.500 người.  Gồm 97 tiểu đoàn và 18 đại đội biệt lập.  Chia ra Vùng 1 chiến thuật 35 tiểu đoàn và 18 đại đội biệt lập.  Vùng 2 chiến thuật 28 tiểu đoàn.  Vùng 3 chiến thuật 15 tiểu đoàn. Và vùng 4 chiến thuật 19 tiểu đoàn ( Tài liệu của Trung tá Phạm Văn Sơn, Giám đốc Nha Quân sử/VNCH ).

Chính con số ước tính này của CIA đã khiến cho Tướng Westmoreland quyết định xin tăng thêm 206.000 quân.  Chuyện xin tăng quân làm cho ông mất uy tín đối với dân chúng Mỹ và cả với Tổng thống Johnson.

Nhận xét bi đát của CIA

Năm 1968, ngày 26-2, “Cơ quan tình báo CIA tại Hoa Thịnh Đốn đã đệ nạp chính phủ một bản  nghiên cứu tổng hợp nhằm tái lập chính sách tại Miền Nam Việt Nam từ A đến Z.  Bản báo cáo này đưa ra nhận định rằng chính quyền Miền Nam Việt Nam quá yếu kém, vì vậy trong tương lai không thể nào đủ khả năng để đương đầu với Cọng sản Hà Nội.

Một bản phúc trình thứ ba, cũng tương tự như thế, CIA cho rằng, trong vài tháng sắp tới, tình hình nguy khốn sẽ xảy ra cả về phía quân đội lẫn chính quyền Miền Nam Việt Nam, vô phương cứu vãn ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 185 ).

Năm 1968, ngày 29-2, một tháng sau trận Mậu Thân.  Tân Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clipfford thay thế cựu bộ trưởng MacNamara.  Ngày 1-3-1968, Clark Clifford nhận được một bản phúc trình của các chuyên gia quân sự tại Ngũ Giác Đài : “Phải thay đổi toàn bộ, nếu không thì không thể thực hiện (kịp) kế hoạch chấm dứt chiến tranh”. (  Tức là kế hoạch đầu hàng trong danh dự:  rút quân và điều đình chung tiền lấy lại tù binh ).

*Chú giải :  Theo hồi ký của MacNamara thì ông đã xin với Tổng thống Johnson được thôi chức từ đầu tháng 11 năm 1967 và Tổng thống đã chấp thuận.  Nhưng theo sách “Vietnam: A History” của Stanley Karnow thì tác giả quả quyết rằng Tổng thống Johnson yêu cầu MacNamara từ chức.

Nhưng sau này tài liệu mật của Nhà Trắng được giải mã cho thấy Tổng thống Johnson phát hiện McNamara đi đêm với Robert Kennedy, ngầm ủng hộ Kennedy tranh cử với Johnson trong nhiệm kỳ tới cho nên ông thông báo chia tay với McNamara, nhận được thông báo của Johnson, McNamara nộp đơn từ chức.  Vô tình đơn từ chức của ông vừa nộp thì xảy ra trận Mậu Thân cho nên Nhà Trắng đợi 1 tháng sau tết Mậu Thân mới loan báo.

Năm 1968, cuối tháng 2. Tài liệu của Đại sứ Bunker do Stephen Young phổ biến : “Thiệu ước tính, cộng quân sẽ không trở lại cuộc chiến du kích với những đơn vị lẻ tẻ tại nông thôn.  …

Thiệu tiên liệu, Hà Nội sẽ ngồi vào bàn hội nghị vào cuối năm 1968 và đầu năm 1969.  Điều Thiệu tiên đoán đã xảy ra đúng” ( Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 199 )… “Thiệu sau đó đã chỉ thị cho các đơn vị quân đội Miền Nam Việt Nam quay trở lại bảo vệ nông thôn” (trang 211).

Năm 1968, giữa tháng 3, văn bản xin tăng thêm quân Hoa Kỳ của Tướng Westmoreland bị một nhân viên dân sự làm việc trong Bộ Quốc phòng tiết lộ cho tờ báo New York Time ( Sau này được xuất bản với tên “The Pentagon Papers” ).  Dư luận Mỹ nổi lên công kích Westmoreland dữ dội, cho rằng ông ta đã lừa bịp khi đứng trong khuôn viên tòa đại sứ tuyên bố rằng CSVN sẽ thất bại khi mở cuộc tổng công kích.

Tin tức bay về Hà Nội, Lê Duẩn quyết định xua 2 sư đoàn Bắc Việt (16.000 quân) tấn công căn cứ Khe Sanh đang được 5.000 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và 1.000 Biệt động quân VNCH trấn giữ. Washington rúng động, phóng viên báo chí quốc tế đổ xuống sân bay Huế để săn tin về một trận Điện Biên Phủ thứ hai.

Năm 1968, ngày 23-3, Tướng Westmoreland được thông báo chuẩn bị rời chức vụ Tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam để về Washington nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Lục quân.

Năm 1968, ngày 31-3, Tổng thống Johnson đọc diễn văn loan báo giảm ném bom Bắc Việt, kêu gọi hòa đàm;  và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ 2.

BÙI ANH TRINH

TRẬN MẬU THÂN 1968