Từ 1964 Lê Duẩn phấn khởi với tin chiến thắng của du kích Miền Nam như chiến dịch Đồng Khởi tại Bến Tre, trận Tua Hai ở Tây Ninh, trận Ấp Bắc, trận Bình Giả, trận Ba Gia.  Tuy nhiên với sự hiểu biết của một nhà hoạt động cách mạng dày dạn kinh nghiệm, ông không tin là dân quân du kích Miền Nam có thể thắng được “Mỹ ngụy”.

Nhưng  Lê Duẩn không còn gnhi ngờ gì nữa khi ông nhận được bức thư cầu hòa của Tổng thống Johnson ngày 8-2-1967.  Chính bức thư này là một bằng chứng xác thực nhất về hiệu quả chiến đấu của quân du kích CSVN.  Ông đã đích thân cầm lá thư này đi xin viện trợ vũ khí của Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa.  Cả hai nơi nhanh chóng thỏa mãn yêu cầu của ông.

Lê Duẩn thấy ngay là Mỹ đã thua mặc dầu Liên Xô và Trung Quốc chưa viện trợ vũ khí tối tân cho CSVN.  Chỉ có súng AK không thôi mà họ đã buộc Tổng thống Mỹ phải xuống nước cầu hòa, vậy thì một khi có đạn pháo và vũ khí chống tăng, chống máy bay thì chắc chắn quân du kích Miền Nam sẽ thắng.

Niềm tin chiến thắng mạnh đến nổi Lê Duẩn đích thân điều binh khiển tướng, gạt tay bợm đời Võ Nguyên Giáp qua một bên.  Đối với Lê Duẩn thì VNG thực sự chẳng có tài cán gì nhưng ông quên một điều là ông ta và cả tướng Tổng tham mưu trưởng là Văn Tiến Dũng chưa qua một trường lớp quân sự nào cho nên các ông không đủ kiến thức để thẩm định hay hoạch định chiến tranh.

Chiến tranh du kích chỉ cần kinh nghiệm trên địa bàn hoạt động của một địa phương nào đó.  Nhưng chiến tranh trên toàn quốc; chống lại máy bay, pháo binh, xe tăng và các đại đơn vị Bộ binh thì không tài nào áp dụng kinh nghiệm hoạt động du kích.  Thế mà Lê Duẩn đã quyết định đưa du kích quân ra chọi với đại đơn vị Bộ binh và đại bác, máy bay, xe tăng vào ban ngày thì chẳng khác nào xua chó đi bắt voi :

Thứ nhất là quân số quá ít so với quân số đối phương.  Thứ hai vũ khí quá thô sơ so với vũ khí của đối phương.  Thứ ba hệ thống vận chuyển và liên lạc không bì một góc của đối phương.  Thứ tư hệ thống tình báo chiến thuật của các cơ sở nằm vùng là con số không bởi vì những người cho tin chẳng hiểu gì về hoạt động quân sự.  Thứ năm địa bàn đánh nhau là thành phố, quân CSVN tránh cho khỏi bị đi lạc là may lắm rồi.  Cuối cùng là dân chúng thấy quân CSVN ở đâu thì họ đều chỉ cho quân đội VNCH.

Ngoại trừ Huế, trong vòng 1 tuần lễ quân đội VNCH đã dẹp xong toàn bộ lực lượng vũ trang của CSVN.  Điều này chứng minh được rằng thực lực quân CSVN chẳng có bao nhiêu so với các con số đang nằm trên các bàn giấy tại Ngũ Giác Đài.

Cái giá phải trả do sai lầm của chúng ta :

Hồi ký của Ủy viên Bộ chính trị Mai Chí Thọ đã dành một chương nói về hậu quả của trận Mậu Thân với tiêu đề: “Cái giá phải trả do sai lầm chủ quan của chúng ta sau trận Mậu Thân 1968”.  Trong đó ông viết :

“Sau Mậu Thân, địch phản kích dữ dội khiến lực lượng ta bị tiêu hao nhiều.  Lực lượng võ trang mà ta đã bí mật mai phục ở Miền Đông Nam bộ sau Hiệp định Geneve ( Cũng là lực lượng chủ lực đánh trận Tua Hai ), trong chiến tranh chống Mỹ, phát triển thành Trung đoàn chủ lực của Miền Đông Nam bộ, đã bị tiêu hao gần hết trong và sau Mậu Thân.  Có thể nói đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của Nam bộ trong kháng chiến chống Mỹ…”. 

Đoạn này cho thấy thực tế trước Mậu Thân quân CSVN tại chiến trường B.2 (Miền Đông Nam Bộ) chỉ có 2 Trung đoàn ( Khoảng 4.000 người ).  Hai trung đoàn này xuất thân từ 225 tay súng đánh trân Tua Hai vào năm 1960 và cả hai trung đoàn đã bị tiêu diệt trong trận Tổng công kích đợt 1….Thế nhưng theo ghi nhận của CIA và Phòng tình báo của MACV thì quân số của CSVN tại B.2 là 3 sư đoàn, gồm có Sư đoàn 5, Sư đoàn 7, và sư đoàn 9 (khoảng 30.000 người).

Quyển sách lịch sử  “Quân Khu 9, 30 Năm Kháng Chiến” do nhà xuất bản Quân đội Nhân dân xuất bản ghi lại tình hình tại riêng Quân khu 9 sau trận Mậu Thân:

“Sau Mậu Thân 1968, Quân khu 9 cũng như toàn chiến trường Miền Nam giành được thắng lợi lớn (sic); song, do ta chuyển hướng không kịp, nhất là các tỉnh vùng trung tâm sông Hậu, nên chủ lực và địa phương tổn thất nặng nề.  Mỗi tiểu đoàn xuất quân chiến đấu đông tới bốn, năm trăm người… khi trở về chỉ còn lẻ tẻ vài chục xuồng, mỗi xuồng vài ba người…

Đến cuối năm 1969, địch đã bình định lấn chiếm gần hết vùng giải phóng trước đây, chỉ còn căn cứ U Minh và khu giải phóng Nam Cà Mau…

Tỉnh Cà Mau có 13 xã giải phóng nhưng chỉ thu được có 7 tân binh bổ sung cho bộ đội chủ lực Khu, 6 người bổ xung cho bộ đội Huyện.  Trong khi đó toàn khu (Chưa tính Vĩnh Trà) có 12.000 chiến sĩ bỏ ngũ về nhà.  Còn ở Vĩnh Trà tình hình cũng tương tự như vậy…”. 

Đây là bằng chứng đáng tin cậy nhất về thực trạng của quân đội CSVN sau trận Mậu Thân.  Thế nhưng buồn cười là phía Mỹ ( CIA ) lại cho rằng sau trận Mậu Thân quân đội Cọng sản đã chiến thắng oanh liệt và họ đang lừng lên, sắp sửa giáng cho quân đội Mỹ một trận Điện Biên Phủ thứ hai tại Khe Sanh (sic).

Tài liệu của Hà Nội : Nghị quyết 21/Ban chấp hành Trung ương Đảng

 Năm năm sau trận Mậu Thân, và sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Trung ương Đảng CSVN có đủ bình tâm ngồi đánh giá lại kết quả của cuộc tổng công kích và ghi vào Nghị quyết 21/BCHTU ngày 13-10-1973 :

“Qua đợt tiến công nổi dậy 68, cả thế và lực của ta bị tổn thất nghiêm trọng.  Lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng đặc công biệt động nói riêng thiệt hại nặng nề.

Lực lượng chính trị quần chúng bị địch phát hiện và thẳng tay đàn áp.  Nhiều chi bộ, cấp ủy, đoàn thể quần chúng cách mạng ở vùng tạm chiếm, vùng tranh chấp bị phá vỡ.  Các vùng giải phóng rộng lớn ở nông thôn bị thu hẹp dần.

Thế trận chiến tranh nhân dân 3 vùng chiến lược bị suy giảm.  Mất dần bàn đạp tấn công, chỗ đứng chân cũng thu hẹp dần, nhiều đơn vị lực lượng vũ trang địa phương cũng như chủ lực, các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy các mặt trận, các địa phương phải cơ động lên biên giới, sang đất bạn tạm trú đóng quân, xốc lại đội hình, bổ sung người, vũ khí tiếp tục chiến đấu.

Và 28 năm sau, tài liệu “Tổng Kết Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước” phát hành tại Hà Nội năm 1996 ghi nhận : “ Sau đợt Tổng tiến công Tết ta không kịp thời rút kinh nghiệm, chậm chuyển hướng và không thấy hết được những âm mưu thủ đoạn mới của địch…

Cho đến những tháng cuối 68, đầu 69, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân ta ở Miền Nam đứng trước một tình thế đầy thử thách phức tạp và chồng chất khó khăn…Tình trạng mất dân, mất đất đã diễn ra ở nhiều nơi, vùng giải phóng và vùng tranh chấp bị thu hẹp…”.

Thú nhận của những người trong cuộc

  • Hồi ký của tướng CSVN Đặng Vũ Hiệp :

“Quân và dân Tây Nguyên bước vào năm 1969 gặp muôn vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể khắc phục được, nhất là lương thực.  Trong quyển sổ công tác số 16 của tôi còn ghi lại, toàn chiến trường vào thời điểm tháng 2 năm 1969 số gạo dự trữ chỉ còn khoảng 40 tấn.  Nguy cơ thiếu đói là không thể tránh khỏi đối với cán bộ, chiến sĩ Tây Nguyên” (trang 273).  Lúc này lực lượng của quân CSVN tại Tây Nguyên là 1 sư đoàn ( khoảng 10.000 người ), 40 tấn gạo chỉ đủ ăn trong 7 ngày.

  • Hồi ức của ông Võ Văn Kiệt được nhà báo Huy Đức ghi :

Mậu Thân quả là đã gây được những tiếng vang chính trị trong lòng nước Mỹ, nhưng những người trực tiếp ở chiến trường như ông đã phải chứng kiến sự hy sinh quá lớn. Ông nói: “Lúc đó tôi đau đến mức nhiều lần bật khóc”. Hơn 11 vạn quân giải phóng đã hy sinh trên toàn chiến trường.” ( Huy Đức, Hiện tượng Võ Văn Kiệt , chương 1 ). Nghĩa là tất cả 85 ngàn quân của Miền Nam và 30 ngàn quân chính quy Bắc Việt đã chết hết.

  • Tự truyện của Đại tướng Lê Đức Anh do Khúc Biên Hòa ghi :

“Tôi có gặp anh Trần Bạch Đằng ( Anh Trần Bạch Đằng cùng ở Tiền phương 2 với anh Võ Văn Kiệt ), anh Linh cũng đang có mặt tại đây.  Tôi đề xuất không nên mở đợt 2 đánh vào nội đô nữa vì không còn yếu tố bí mật bất ngờ…” ( Khúc Biên Hòa, Đại tướng Lê Đức Anh, trang 90 ).

  • Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời phỏng vấn với ký giả Walter Cronkite của đài CBS :

“ Cho tới nay tôi vẫn không hiểu nổi tại sao người Mỹ các anh lại chấm dứt thả bom Hà Nội (1972). Các anh đã tròng cổ được chúng tôi rồi.  Nếu các anh nhấn thêm một chút nữa, chỉ một hoặc hai ngày nữa, chúng tôi đã sẵn sàng đầu hàng.  Cũng giống như trận tết Mậu Thân, các anh đã đánh bại chúng tôi rồi”( Cuộc phỏng vấn tại Hà Nội ngày 8-12-2007 ).

BÙI ANH TRINH

TRẬN MẬU THÂN 1968