Tưởng thua, con tàu nước Mỹ quay đầu

Năm 1968, hai tháng sau trận Mậu thân, ngày 18-3 tại Washington, Đại sứ VNCH tại Mỹ là Bùi Diễm xin gặp Tổng thống Johnson.  Ông được Tổng thống mời tiếp kiến vào khoảng 5 giờ chiều.  Bùi Diễm kể lại :

“Lúc ngồi xuống, đối diện sát ông, tôi mới nhận thấy là mới cách đó vài tháng ( lần trước tôi gặp ông là tháng 11 năm 1967 ) mà ông già hẵn đi.  Trông ông có vẻ mệt mỏi, ưu tư hiện rõ trên nét mặt, dường như gánh nặng của chiến tranh Việt Nam đang thử thách sức chịu đựng của ông”

“Trong phòng không một tiếng động.  Bên ngoài trời đã sẩm tối.  Đến khi tôi dứt lời thì Tổng thống Johnson ngồi yên đến hai ba phút rồi mới chậm rãi phát biểu ý kiến.  Ông nói : “Nếu chúng ta không thắng thì rắc rối to.  Tôi đã cố gắng hết sức nhưng một mình tôi không thể cầm cự mãi được” ( Bùi Diễm, Gọng Kìm Lịch Sử, trang 363 ).

Năm 1968, ngày 20-3, Đại sứ Bùi Diễm đến gặp tân Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford.  Ông Diễm kể lại :

“Ông không ngần ngại, nói đốp chát, cộc lốc, đi thẳng vào vấn đề… Ông nói : “Lúc này không còn phải là lúc dùng những danh từ mỹ miều ngoại giao nữa… .. Dân chúng Hoa kỳ đã mất hết tinh thần, và sức ủng hộ của chúng tôi có giới hạn… … Chúng ta bắt buộc phải tìm ra một giải pháp nào đó, nếu không thì chắc chắn sẽ có tai họa”. ( Trang 365 )

Năm 1968, vài ngày sau 20-3, Đại sứ Bùi Diễm đến gặp Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk.  Và ông kể lại lời của Ngoại trưởng Mỹ : “Chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác, và mục tiêu của chúng tôi không còn là thắng lợi quân sự nữa, nhưng là hòa bình trong danh dự” ( Bùi Diễm, Gọng Kìm Lịch Sử, trang 366 ).

Năm 1968, ngày 31-3, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố giảm ném bom Bắc Việt và không ra tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2.  Để đáp lại, Hà Nội tuyên bố sẵn sàng gặp nhau tại Paris để thương lượng ngưng bắn.

  • Chú giải : Tính toán của chiến lược gia số 1 của Mỹ

Quyết định bất ngờ của Tổng thống Johnson có vẻ như là một biểu hiện của sự mệt mỏi và chán ngán;  khiến cho dư luận quốc tế, kể cả Hà Nội, tin rằng đây là hậu quả của đợt tổng công kích tết Mậu Thân.  Tuy nhiên hồi ký của Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford, người thay thế McNamara, cho biết Tổng thống Johnson không còn lựa chọn nào khác :

Johnson được coi như là “tác giả” của chiến tranh Việt Nam.  Nhưng giờ đây dân chúng Mỹ đòi hỏi phải chấm dứt chiến tranh, nghĩa là không còn ủng hộ ông nữa.  Do đó ông không thể quay 180 độ để biến thành người chống chiến tranh như Thượng nghị sĩ Robert Kennedy.

Nếu ông cứ giữ vững lập trường theo đuổi chiến tranh thì ông sẽ không đắc cử mà trái lại đảng Dân Chủ có thể mất đi cơ hội tiếp tục giữ chiếc ghế Tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ sắp tới.  Vì vậy ông rút lui để ứng cử viên Dân chủ Humphrey có cơ hội thắng cử với chiêu bài xúc tiến hòa đàm chấm dứt chiến tranh.

Ngoài vấn đề tranh cử, Tổng thống Johnson còn phải đối diện với vấn đề cải tổ xã hội, xóa khoảng cách khác biệt giữa giới giàu với người nghèo;  một chính sách mà ông đã hứa khi ra tranh cử năm 1964.  Mục sư Luther King đang mở một phong trào vận động phản đối Jonson không thực hiện lời hứa cải tổ xã hội cũng như phản đối chiến tranh Việt Nam.

Rõ ràng lúc đó Johnson không thể nào có đủ ngân sách cho chương trình cải tổ xã hội vì phải tăng thuế mới có đủ ngân sách thực hiện cải tổ xã hội trong khi một nửa ngân sách quốc phòng đã dồn hết cho chiến tranh Việt Nam.  Nếu chính phủ xin tăng thuế thì chắc chắn Quốc hội buộc Tổng thống phải rút quân trước khi chấp thuận tăng thuế.  Vì vậy giải pháp rút quân là chuyện “no choice” (không còn chọn lựa nào khác) đối với Tổng thống Johson.

Hơn nữa, những lời tham vấn của tân bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford đã cho Tổng thống Johnson thấy rằng vấn đề không phải là nên rút quân hay không, mà là nên theo đuổi chiến tranh Việt Nam hay không? Nếu không thì rút quân.

Sở dĩ Clifford có ý nghĩ đó vì sau khi nhận chức Bộ trưởng Quốc phòng thì ông nhận được thỉnh cầu của Tướng Westmoreland xin tăng thêm 206 ngàn quân, Clifford đã hỏi Tham mưu trưởng liên quân Mỹ là Tướng Wheeler cùng với các sĩ quan trong Bộ tham mưu liên quân:

  • Nếu thêm 200 ngàn quân chúng ta có biết chắc sẽ thắng hay thua không?
  • Nếu 200 ngàn quân vẫn chưa đủ thì bao nhiêu mới đủ?
  • Và một khi đã đủ thì có chắc sẽ không bao giờ xin thêm nữa không? Thí dụ như Hà Nội thấy Mỹ tăng quân thì họ cũng tăng quân thì tính làm sao?

Không có câu trả lời khẳng định nào được đưa ra, nghĩa là các ông tướng cũng mù mờ về những gì đang xảy ra tại Việt Nam, và rồi cũng không ai dám chắc những gì sẽ xảy ra. Từ buổi hội ý này, Bộ trưởng Clifford đã có quyết định dứt khoát phải rút quân khỏi Việt Nam.

Có thể nói thời bấy giờ, và cả 20 năm sau này, Clifford là một chính trị gia lỗi lạc nhất của Mỹ.  Từ một thiếu úy Hải quân đồng hóa ( không qua trường đào tạo sĩ quan căn bản ) vào năm 1944.  Nhờ tài năng và bản lĩnh, hai năm sau Clifford đã trở thành đại tá phụ tá Hải quân cho Tổng thống Truman, và 2 tháng sau khi mang lon đại tá, ông đã trở thành phụ tá đặc biệt của Tổng thống Truman.

Sau 6 năm làm việc với Truman, Clifford trở về hành nghề luật sư nhưng với uy tín đầy mình và quen biết hầu hết các nhân vật quan trọng của Mỹ cũng như của Thế giới.  Ông là cố vấn cho hầu hết các Tổng thống Hoa Kỳ trong hai thập niên 1960-1970.  Trong đời ông kết thân với 9 vị Tổng thống Mỹ.  Do đó khi ông nhận lời giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng thì cũng có nghĩa là ông quyết định ra tay giải quyết chính trị Mỹ trong thời kỳ sóng gió do cuộc chiến tranh VN.

Vừa mới nhập cuộc Clifford đã dễ dàng đi tới quyết định rút quân chỉ vì lý do là theo đuổi chiến tranh Việt Nam không có lợi.  Ông đã đưa ra cho chính ông và cho nhân dân Mỹ 2 lựa chọn :  một là theo đuổi chiến tranh với kết quả biết chắc là bất lợi, hai là rút quân về.  Điều này chứng tỏ Clifford không đủ bản lĩnh như danh tiếng của ông ta, chẳng qua là ông ta gặp may quá nhiều.

Clifford chớ hề nghĩ tới chuyện giao đại sự vào tay người Việt cho nên Mỹ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội bằng vàng. ( Stephen Young, Cuộc Chiến Thắng Bị Bỏ Lỡ ).  Tiếc là Washington không có cái đầu nào cao hơn cái đầu của Clifford nên mới đưa tới nông nỗi thảm bại của quốc gia Mỹ, một quốc gia chưa bao giờ biết rút lui kể từ ngày lập quốc.

Vấn đề gải quyết chiến tranh Việt Nam có tới hằng ngàn lựa chọn từ thấp tới cao, từ hay tới dở chứ không phải chỉ có 2 lựa chọn.  Chẳng hạn như lựa chọn thứ 3 là giao việc chống Cộng cho người Việt Nam.  Mỹ chỉ yểm trợ về tài chánh, vật liệu thì tức khắc người Việt Nam sẽ làm hay hơn các cố vấn Mỹ và quân đội Mỹ rất nhiều.

*( Điều này được chứng thực trong cuộc đọ sức giữa quân đội VNCH và 200.000 quân Bắc Việt vào năm 1972; mặc dầu năm đó quân đội VNCH như người bệnh mới dậy sau khi quân đội Mỹ đột ngột rút về gần hết, nhường chiến trường lại cho quân đội VNCH.  Nhưng quân đội VNCH chiến thắng dễ dàng ).

Những gì Nguyễn Văn Thiệu đối phó với Washington chứng tỏ ông ta rất cứng cựa và bản lĩnh.  Giờ đây nếu phải đối phó với Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh… thì ông ta thừa sức. *( Ông ta chỉ có một cái tội duy nhất là không nghe lời Mỹ ngồi vào bàn đàm phán trong thư thế thua cuộc cho nên người Mỹ nhìn ông ta như là “kẻ phá hoại hòa bình” ).

Người Việt bắt đầu tự lo cho số phận của mình

Năm 1968, ngày 3-4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ cùng xuất hiện trong một buổi họp báo.  Tổng thống Thiệu công bố cho dân chúng biết về quyết định giảm ném bom Bắc Việt của Tổng thống Mỹ.

Trả lời phỏng vấn, ông Thiệu cho biết giữa ông và Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ tuy có nhiều điểm dị biệt nhưng trong công việc  quốc gia, những vấn đề hệ trọng ông đều thảo luận với Phó Tổng thống và chỉ quyết định khi hai người cùng đồng ý.  Ông cũng loan báo việc Phó Tổng thống đảm trách chỉ huy Lực lượng Nhân dân tự vệ, là lực lượng bán vũ trang mới được thành lập trên toàn quốc.

Năm 1968, ngày 4-4, Mục sư Martin Luther King bị ám sát.  Chính phủ Mỹ giảm được một áp lực chống đối chiến tranh Việt Nam.  Nhưng dư luận lại cho rằng có thể ông mục sư bị giết do chủ trương phản chiến, do đó rộ lên phong trào tẩy chay các ứng cử viên chủ trương tiếp tục chiến tranh Việt Nam trong cuộc bầu cử sắp tới.

BÙI ANH TRINH

TRẬN MẬU THÂN 1968