Năm 2012 ông Trần Đỗ Cẩm đưa lên mạng bài tường thuật về trận Làng Vei 1968, căn cứ theo tài liệu của sách báo Mỹ, nhất là cuốn sách “Night of The Silver Star” của William R.Phillip.  Tác giả Trần Đỗ Cẩm cũng đưa ra nhiều nhận xét riêng của ông về chiến thuật, kỹ thuật tác chiến; cũng như về phối hợp hỏa lực và tổ chức phối trí lực lượng.

Tuy nhiên vì tác giả là một sĩ quan Hải quân, không rành về quân sự Bộ binh cho nên những nhận xét của ông đều không đúng dưới con mắt nhìn của dân Bộ binh, nhất là những người từng ở trong Lực lượng Đặc biệt VNCH :

– Trần Đỗ Cẩm : Như thường lệ, các tài liệu Hoa Kỳ đều coi trận đánh như “tài sản” riêng, chỉ có quân nhân Hoa Kỳ chiến đấu và có công, mặc dầu Làng Vei là một trại LLĐB của Việt Nam.

– Bùi Anh Trinh :  Đây là một trại dân sự chiến đấu ( CIDG ), tức là do người dân tự vệ chống cộng chứ không phải của chính phủ VNCH hay chính phủ Mỹ.  Lực lượng dân sự chiến đấu do CIA tuyển mộ và CIA trả tiền qua cơ quan MACV.  Không thuộc vào Quân đội VNCH, cũng không thuộc quân đội Mỹ.  Biệt kích quân DSCĐ không phải là quân nhân cho nên không có số quân và không qua một trường huấn luyện quân sự nào.

Thoạt đầu mỗi trại Biệt kích do một “toán A”/LLĐB Mỹ phụ trách ( Toán A điều hành 1 trại Biệt kích khoảng 1 tiểu đoàn, Toán B điều hành nhiều trại trong một Khu chiến thuật.  Toán C điều hành các trại trong một Vùng chiến Thuật ).  Toán A thường là 14 người, gồm 2 sĩ quan và 12 HSQ.  Nhưng vì các toán LLĐB/Mỹ không biết tiếng Việt (Kinh) cho nên LLĐB/VNCH phái tới các trại Biệt kích một “toán A”/LLĐB, cũng thường là 14 người, gồm 2 sĩ quan và 12 hạ sĩ quan.

Nhiệm vụ của toán A Việt là chỉ huy các đại đội dân sự chiến đấu, nhưng trên danh nghĩa là quân nhân cố vấn cho các nhóm chiến đấu dân sự. Còn nhiệm vụ của toán A Mỹ là phụ trách gọi máy bay Mỹ, kêu pháo binh Mỹ và phụ trách đếm người trả tiền lương, phụ trách cung cấp quân trang đạn dược;  nhằm tránh thất thoát vật liệu xây dựng cũng như tiếp liệu ( Đồn Làng Vei trị giá 1 triệu USD cho nên người Mỹ phải phụ trách quản trị tài sản đó ).

Mới đầu thì có trục trặc về chỉ huy, do vì không phân định rõ toán Mỹ hay toán Việt chỉ huy.  Sau nhiều lần phân xử thì mới đưa tới quyết định toán Việt Nam phụ trách chỉ huy, còn toán Mỹ chỉ cố vấn.  Do đó trại trưởng, trại phó là Sĩ quan Việt Nam, các sĩ quan và HSQ gọi là “cố vấn Việt”. Còn SQ và HSQ Mỹ được gọi là “cố vấn Mỹ”, đứng đầu là Cố vấn trưởng.

Trong khi đó các đại đội trưởng hay trung đội trưởng Biệt kích quân là người Sắc tộc hoặc người Kinh tùy theo lính trong đơn vị là người Sắc tộc hay người Kinh. Những người này không qua một trường huấn luyện quân sự nào cho nên không biết gì về chiến thuật hay xem bản đồ, gọi máy bay, pháo binh.  Vì vậy cần phải có SQ hoặc HSQ người Kinh để dẫn đường theo bản đồ,  kêu máy bay, pháo binh, sử dụng các vũ khí hạng nặng, hoặc điều động các đơn vị.

Báo chí hay sách vở Mỹ hễ nói về các trận đánh của các đồn dân sự chiến đấu thì đương nhiên coi đó là chiến công của Liên đoàn 5 LLĐB Mỹ, là một đơn vị tình báo của CIA, chứ không thể nói đó là chiến công của quân đội VNCH.

Đặc biệt trận Làng Vei 1968 là chiến công lớn nhất của quân đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam bởi vì đây là lần duy nhất quân nhân Mỹ có hân hạnh đụng độ với xe tăng CSVN và họ đã tiêu diệt được 7 chiếc trong số 11 chiếc tham chiến.  Rốt cuộc chiến công lớn nhất của quân đội Mỹ mà chỉ chia cho 24 người thành ra ai cũng có phần thưởng, mà là phần thưởng lớn : 1 Danh dự huân chương, 1 Biệt công bội tinh, và 22 Anh dũng bội tinh (19 bạc, 3 đồng ).

– TĐC : “…quân trú phòng như tê liệt khi bất ngờ chạm trán với hàng chục tấn thép hầu như không phá hủy nổi…”

– BAT :  Quân trú phòng là 3 đại đội biệt kích người Bru, 1 đại đội biệt kích người Kinh, 1 đại đội Biệt kích tiếp ứng người Hờ Rê.  Tất cả đều không được huấn luyện chiến thuật chống chiến xa và không được huấn luyện sử dụng vũ khí chống chiến xa.  Cho nên họ không có bổn phận tử chiến với chiến xa, mỗi khi gặp chiến xa thì họ chỉ có nhiệm vụ bỏ chạy, giao việc chống chiến xa cho cố vấn Việt, Mỹ ( Gọi máy bay ).

– TĐC :  Chúng ta có thể kết luận: chính sự đánh giá sai lầm khả năng xử dụng thiết giáp của địch đã đưa đến việc trại bị tràn ngập….Tuy Đại Úy Willoughby có đôi chút cảnh giác, yêu cầu cung cấp khoảng 100 hỏa tiễn chống chiến xa LAW, nhưng ông cho rằng chiến xa của địch quân nếu có cũng chỉ được dùng để yểm trợ như súng cối pháo kích từ ngoài hàng rào, thay vì trực tiếp tấn công như đã xảy ra.

– BAT :   Ngay từ khi lập ra các đồn Biệt kích biên phòng thì người ta đã tính tới chuyện có thể phải đối phó với xe tăng.  Cho nên đồn Làng Vei cũng giống như các đồn khác đã được trang bị 2 khẩu 106 ly không giật và 4 khẩu 57 ly không giật. Tất cả 6 súng này dùng để chống chiến xa.

– TĐC :  “…số hỏa tiễn còn lại không được phân phối cho các tổ chiến đấu nơi hàng rào phòng thủ mà tập trung trong hầm chỉ huy”.

– BAT :  Lúc này Hỏa tiễn Law (M.72) là loại “hỏa tiễn cầm tay”còn bí mật, chưa được sử dụng kể từ khi phát minh vào năm 1963.  Sau khi đồn Huội San bên Lào bị xe tăng PT.76 tấn công 3 tháng trước đó thì bắt buộc Tổng tư lệnh chiến trường Việt Nam là tướng Westmoreland phải tính tới chuyện xe tăng CSVN sẽ xuất hiện tại Khe Sanh.

Riêng căn cứ Làng Vei được tăng cường 100 khẩu chống tăng loại bí mật chứng tỏ không phải là Tướng Westmoreland hay Bộ tư lệnh LLĐB/Mỹ không đề phòng, trái lại họ dùng 100 khẩu M.72 ( LAW ) để phục kích, sẵn sàng chờ xe tăng CSVN để thử nghiệm.

– TĐC :  Rất tiếc, tuy toán diệt chiến xa do Trung Tá Schungel đích thân thành lập đã xử dụng nhiều LAW, nhưng một tỷ số rất cao đến 90% đã không nổ, số còn lại tuy khai hỏa trúng chiến xa nhưng không gây thiệt hại. Đây là điều rất đáng ngạc nhiên vì LAW được chế tạo để bắn hạ chiến xa hạng trung như T-54 có vỏ thép dầy hơn PT-76 nhiều. Sau này, có dư luận cho rằng vì LAW được thả bằng đường hàng không nên không hữu hiệu

– BAT :  Hỏa tiễn LAW tường được gọi là súng chống tăng M.72 là loại súng phóng hỏa tiễn, ống phóng làm bằng sợi thủy tinh, đường kính 66 ly.  Quả đạn có khối thuốc nổ nặng 2,4 ký;  toàn thể súng cân nặng 2,6 ký.  Súng được chế tạo năm 1963 để thay thế cho loại súng chống tăng Bazoka được sử dụng trong thời Thế chiến 2.  So với M.72 thì Bazoka quá lỗi thời vì nặng và cồng kềnh.  Lần này M.72 mới được đem ra sử dụng thử nghiệm tại chiến trường cho nên chỉ có các sĩ quan Mỹ, Việt mới biết cách sử dụng.

Khối thuốc nổ của M.72 chỉ nặng 2,4 Kg cho nên không đủ để khoan thủng vỏ thép của xe tăng T.54 nhưng có thể khoan thủng vỏ thép mỏng bên hông của P.76 ( xe tăng lội nước ).  Đa số trục trặc của súng M.72 là bộ phận kích hỏa, dây kích hỏa bằng sợi nilong thường bị kẹt.  Mới đầu người ta tưởng là trục trặc do kíp kích hỏa bị thối nhưng không phải. Ngoài ra toàn khẩu súng nặng 2,6 ký cho nên không việc gì phải thả bằng hàng không.

– TĐC : Một loại vũ khí chống chiến xa rất hữu hiệu nữa là mìn đặt tại những nơi dự trù chiến xa hoạt động.

– BAT :   Lúc thiết lập các đồn Biệt kích biên phòng thì người ta không tính tới chuyện giao nhiệm vụ diệt chiến xa cho các chiến binh dân sự, cho nên không tính tới chuyện gài mìn để bẫy chiến xa.  Chỉ tính tới chuyện đồn bị chiến xa xông vào mà thôi.

– TĐC : Quanh trại Làng Vei chỉ có 3 ngả chiến xa có thể dùng để xâm nhập: đó là đường số 9 tương đối lớn từ hướng Tây và hướng Đông và đường từ hướng Làng Troài về phía Nam.

– BAT :   Các chi tiết tường thuật cho thấy có tới 7 chiến xa từ hướng Làng Troài, tức là hướng Nam.  Có 5 chiếc tham gia tấn công cổng Đông Nam và 2 chiếc chạy vòng từ cổng Đông Nam ra cổng Đông Bắc chứ không phải 2 chiếc này chạy từ hướng Đông, trên Quốc lộ 9.  Bởi vì hướng Đông trên Quốc lộ 9, cách 1 cây số,  là đồn Làng Vei cũ đang do Biệt kích Lào trú đóng. Và phía Đông của đồn Làng Vei cũ là thị trấn Khe Sanh.

7 chiến xa này cũng không xuất phát từ Làng Troài ( Sẽ bị đồn tiền tiêu phát hiện ) mà vượt sông Tchephone tại khu vực phía Bắc Làng Troài, tức phía Nam trại Làng Vei.  Sau khi vượt sông thì chạy theo hướng Đông để gặp con lộ đi Làng Troài, leo lên lộ mà đến trại.

Còn 4 xe tăng tấn công góc Tây Bắc cũng không phải đi trên Quốc lộ 9 từ hướng Tây, mà là vượt sông Tchepnone tại phía Nam của trại rồi mới đâm lên phía Bắc, leo lên Quốc lộ 9 mà vào cổng Tây Bắc. Trên QL.9, cách trại 3 cây số về phía Tây cũng có 1 đồn tiền tiêu do 40 BKQ, 1 HSQ Việt và 2 HSQ Mỹ trấn thủ.  Đoàn xe tăng phải tránh tiền đồn này bằng cách vượt sông ở phía Nam.

– Trần Đỗ Cẩm :  Một phương tiện khác để phát hiện và có thể tiêu diệt chiến xa địch trước khi chúng xâm nhập hàng rào phòng thủ là toán tiền đồn …

…chỉ có một Trung Đội Mike Force của Trung Úy Longgrear nằm tiền đồn tại mặt Tây, cách hàng rào phòng thủ trại chừng 500 thước, còn các Trung Đội Mike Force khác được kéo về phòng thủ trại. Nếu có thêm các toán tiền đồn được đặt tại mặt Nam và mặt Đông, chắc chắn chiến xa địch đã bị phát hiện sớm hơn, không cần phải chờ tới lúc chúng đã tiến sát hàng rào phòng thủ…

– Bùi Anh Trinh :   Các toán “nằm tiền đồn” có nhiệm vụ thám báo cho nên không có nhiệm vụ chống chiến xa.  Một khi phát hiện có chiến xa thì họ báo về đồn và tìm cách trốn làm sao cho chiến xa địch hoặc bộ binh tùng thiết  không phát hiện ra họ.

Hằng đêm có 1 hoặc 2 trung đội thám báo hoạt động “nằm tiền đồn” bên ngoài trại.  Còn toán MF có nhiệm vụ đi tiếp cứu các đồn biên phòng bị đánh.  Cho nên nhiệm vụ của MF lúc đó là ứng chiến trong trại, chờ tiếp ứng cho các đồn tiền tiêu của trại hoặc các trại khác gần đó.

BÙI ANH TRINH

TRẬN MẬU THÂN 1968