Trọng Đạt – Ông Thiệu và cuộc tranh cử Tổng thống Mỹ 11- 1968

      Gần đây, cuối tháng 8-2016 chương trình Nhịp Sống Quanh Ta  trên đài truyền hình Vietv Houston Texas trình chiếu cuộc nói chuyện giữa ông Hoàng Bách và Luật sư Steven Điều có liên quan tới tình hình bầu cử Mỹ năm 1968.

      Luật sư Điều có kể lại chuyện ứng cử viên Nixon vào tháng 10-1968 cử sứ giả tới Sài Gòn khuyến khích TT Thiệu đừng tham gia cuộc hòa đàm Paris giữa chính phủ Johnson và Cộng Sản Việt Nam. Ông Thiệu đã hưởng ứng không cử người đi Paris trước ngày bầu cử 5-11-1968 khiến Nixon (Cộng Hòa) thắng phó Tổng thống Humphrey (Dân Chủ) với hơn 500 ngàn phiếu (phổ thông)

      Chuyện này đã được Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng kể lại trong Chương Một của cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy xuất bản năm 2005 và  năm sau 2006 ông Trần Đông Phong cũng bàn kỹ về đề tài này từ trang 41 tới trang 69 trong cuốn Việt Nam Cộng Hòa, 10 Ngày Cuối Cùng.

      Trước hết tôi xin đề cập những điểm chính của sự kiện lịch sử này sau đó đóng góp thêm một số ý kiến riêng.

       Sơ lược vấn đề.

      Tại Chương một: Làm Sao Thoát Khỏi Vũng Lầy trong cuốn sách kể trên của GS Nguyến Tiến Hưng cho biết.

      Sau trận Tết Mậu Thân cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1968 phong trào chống đối chiến tranh Việt Nam lên rất cao tại Mỹ trong khi Tướng Westmoreland, Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN lại xin thêm 200 ngàn lính tăng cường. Cuối tháng 3-1968, TT Johnson tuyên bố không ra tái tranh cử nhiệm kỳ hai, nhường lại cho Phó TT Humphrey và cho ngưng oanh tạc Bắc Việt từ trên vĩ tuyến 20 để kêu gọi đình chiến, sau đó sẽ rút quân.

      Mấy ngày sau khi TT kêu gọi đàm phán, Hà Nội nhận lời, tháng 5 Mỹ và CSVN gặp gỡ lần đầu tiên tại cuộc hòa đàm, VNCH khi ấy chưa chịu tham gia vì muốn nói chuyện trực tiếp với Hà Nội chứ không công nhận Mặt trận giải phóng. Gần ngày bầu cử đại sứ Mỹ Bunker hối thúc ông Thiệu tham gia đàm phán.

      Trong khi ấy, đối thủ của Humphrey là ứng cử viên Richard Nixon (Cộng Hòa) lại ve vãn ông Thiệu qua trung gian bà Anna Chennault, quả phụ Thiếu tướng không quân Mỹ. Bà Chennault (người Hoa, họ hàng với Tống Mỹ Linh) sang Sài Gòn thường xuyên năm 1968, khuyên ông Thiệu đừng tham dự hòa đàm làm lợi cho Dân Chủ, chờ Nixon thắng cử, ông sẽ có chính sách ủng hộ VNCH tích cực hơn. Ông NT Hưng cho biết năm 1985, tại Luân Đôn ông Thiệu kể lại rằng hồi ấy nếu Humphrey (DC) đắc cử thì nửa năm sau sẽ có liên Hiệp với CS tại miền nam VN, sau đó Mỹ sẽ rút, nên ông Thiệu đi với Nixon (CH) còn hy vọng hơn. Ông Thiệu tìm cớ này cớ khác để trì hoãn không tham dự hòa đàm. Johnson cho FBI, CIA nghe lén điện thoại của Chennault với VNCH nhưng không cho công bố để tố giác Nixon vì sợ bị kết tội nghe lén.

      Tối 31-10-1968, Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc BV để giúp cho Humphrey thêm phiếu, ông Hưng cho biết trong ngày bầu cử 5-11-1968 Nixon thắng cử chỉ có 43.4% so với 42.7% của Humphrey, hơn nhau chỉ nửa triệu phiếu (phổ thông). Ông NT Hưng trích hồi ký của Johnson xác nhận ngày 1-11, ông Thiệu nói sẽ tham dự hòa đàm, sau đó lại không tham dự nên đã khiến Humphrey thất cử.

      Ngoài ra ông Trần Đông Phong trong cuốn Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng cũng đã đề cập và bàn luận về đề tài này rất kỹ. Tác giả nhắc lại lời ông NT Hưng trong Palace File nói ông Thiệu tin là ông từ chối dự hòa đàm, ông ta không nói công khai nhưng việc từ chối đã khiến Nixon đắc cử trước Humphrey (trang 42). Ngày 31-3-1968 Johnson tuyên bố không ra tranh cử nhiệm kỳ hai để tìm hòa bình, đưa Mỹ ra khỏi cuộc chiến. Mấy ngày sau Hà Nội chấp thuận, ngày 13-5-1968, hai bên họp lần đầu tại Paris. Tháng 10-1968, Mỹ và Hà Nội đồng ý mời VNCH và Mặt trận giải phóng vào Hòa đàm. Ông Thiệu chống đối mãnh liệt, chính phủ Mỹ ép ông vào đàm phán trước bầu cử Tổng thống ngày 5-11 để có lợi cho Humphrey (Dân Chủ).

      Đại sứ Bunker tại Sài Gòn phúc trình TT Johnson không thuyết phục được Thiệu. Ngày 31-10-1968 Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc  BV. Ông Thiệu phản đối Mỹ vì để Mặt trận giải phóng miền nam (Việt Cộng) được tham dự Hội nghị. Ngày 5-11 Bunker kêu gọi (trên đài quân đội Mỹ) VNCH ngưng tẩy chay hòa đàm, Thiệu trả lời không tham dự vì Việt Cộng được tham dự như một phái đoàn, kết quả bầu cử, 73 triệu cử tri đã đi bầu, Nixon thắng Humphrey 500 ngàn phiếu (tức 0.7%)

       Ông Phong nói bà Chennault là người đã gây ảnh hưởng kết quả cuộc bầu cử (có lợi cho Nixon), William Safire, một phụ tá của Nixon cho rằng nếu ông Thiệu không tẩy chay Hòa đàm thì Nixon có thể không trở thành Tổng thống Mỹ.  Tác giả TĐ Phong dẫn lời ông NT Hưng trong Palace File (Hồ sơ mật dinh Độc lập) nói ông Thiệu tin là nhờ ông mà Nixon đắc cử, nó đóng vai trò quyết định trong chiến thắng của Nixon (trang 51, sách đã dẫn). Bà Chennault sang Sài Gòn thường xuyên, luôn nhắn ông Thiệu cứ trì hoãn hòa đàm, nếu Nixon thắng sẽ có lợi hơn Dân Chủ.

       Johnson đã cho FBI, CIA nghe lén (trang 52, 53) điện thoại của bà Chennault và biết rõ Nixon đang khuyến khích Thiệu tẩy chay hòa đàm. Ông được báo cáo đầy đủ, có thông báo cho Humphrey biết nhưng không cho công bố trước dư luận vì nó sẽ lòi ra cái tội nghe lén. Ông Phong dựa theo cuốn Palace File của Nguyễn Tiến Hưng nhận định: ông Thiệu tin là nếu Humphrey đắc cử thì Hoa Kỳ sẽ có chính sách mềm dẻo hơn đối với VC, Mặt trận giải phóng.

      Ông Thiệu nói nguyên văn.

     “Nếu Phó TT Humphrey đắc cử thì sẽ có một chính phủ liên hiệp trong vòng sáu tháng, với ông Nixon thì ít ra chúng ta còn có cơ may”

     (trang 58 sách đã dẫn, phỏng vấn Nguyễn Văn Thiệu)

      Theo ông Phong, Nguyễn Cao Kỳ trong hồi ký Buddha’s Child (Con Phật) viết năm 2002 có nói Mỹ ép VNCH tham dự hòa đàm Paris và họ chấp nhận Việt Cộng ngang hàng VNCH. Bà Chennault đã nói với hai ông Thiệu, Kỳ giúp Nixon bằng cách khoan đi Paris và ông Kỳ quyết định khoan tham dự.

      Ông Phong cũng cho biết ông Hoàng Đức Nhã (bí thư TT Thiệu hồi 1968) là kể lại trong một bài báo trên tờ Ngày Nay Houston Texas và báo Người Việt dăng lại ngày 4-1-2003. Ông Phong cho đăng một phần bài của ông Nhã trong đó ông này phủ nhận việc bà Chennault được cử sang Sài Gòn thuyết phục hai ông Thiệu, Kỳ như lời ông Nguyễn Cao Kỳ nói. Trong khi tòa Bạch Ốc chỉ thị Bunker đốc thúc Thiệu dự hòa đàm. Phía Nixon dùng đường dây Bùi Diễm và Nguyễn Văn Kiểu (Đại sứ tại Đài Loan). TT Thiệu khó xử, tham dự Paris nhưng không biết lập trường Mỹ ra sao, không đến Paris nhưng sau này dễ làm việc với Nixon hơn.

      Ông HĐ Nhã nói nguyên văn

      “Sau cùng Tổng thống đã quyết định không gửi phái đoàn VNCH qua Ba Lê, không phải là để giúp cho ứng cử viên Nixon như …bà Anna Chennault sau này đã từng tuyên bố, hoặc là được các sứ giả của VNCH thuyết phục. Lý do quan trọng nhất sau lưng sự quyêt định đó là việc phía Hoa Kỳ không hề đồng ý với phía VNCH về lập trường chung phải như thế nào và những điều kiện phía Cộng Sản sẽ phải chấp thuận trước khi bắt đầu các cuộc thương thuyết. Hoa Kỳ đều bác bỏ rất nhiều đề nghị của phía VNCH, từ những điểm then chốt của lập trường phía đồng minh cho đến những chi tiết như là hình thù của bàn hội nghị, cách danh xưng…”  

  (trang 60, 61)

       Nhận xét

       Có nhiều chỗ GS NT Hưng gây khó hiểu, ông nói cuối tháng 3-1968 Johnson cho lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt, và rồi lại nói  Johnson cho lệnh ngưng oanh tạc BV cuối tháng 10-1968. Thực ra cuối tháng 3 Johnson cho ngưng oanh tạc phần lớn lãnh thổ BV và cuối tháng 10 ngưng oanh tạc BV toàn bộ (100%). Ông nói ngày 5 tháng 11 cho khai mạc Hội Nghị Ba Lê mở rộng khiến người ta tưởng đó là ngày khai mạc Hòa đàm mà thực ra Hòa đàm khai mạc từ ngày 10-5-1968 (có tài liệu nói ngày 13)

      Tôi xin lược thuật dựa theo báo chí và đài phát thanh Sài Gòn hồi ấy. Ngày 31-3-1968 (2 tháng sau Tết Mậu Thân 1-2-1968) TT Johnson tuyên bố không ra tranh cử, ngưng oanh tạc phần lớn BV và kêu gọi Hà Nội chấp nhận đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh. CSBV phần vì thảm bại sau trận Tổng công kích, phần sợ Johnson làm mạnh nên nhận lời 3 ngày sau đó. Ngày 10-5 Xuân Thủy, đại diện CSVN và Harriman, đại diện Hoa Kỳ gặp nhau lần đầu tại Paris. Đây là cuộc Hội nghị được chú ý nhất và nhiều phóng viên nhất thế giới từ trước tới nay, có hơn 3,000 ký giả quốc tế tới tham dự lấy tin.

      Phía CS cứng rắn, láo xược đòi giải tán VNCH, lật đổ Thiệu, lập chính phủ Liên Hiệp, chỉ đàm phán với Mỹ. BV coi Hội nghị là nơi để tuyên truyền, nằng nặc đòi Mỹ phải ngưng oanh tạc toàn diện mới nói chuyện được. Ngày 31-10 Johnson nhượng bộ cho ngưng oanh tạc BV 100%.

       Như trên GS Hưng và LS Steven Điều nói vì ông Thiệu không tham gia Hội nghị Paris nên Nixon đã thắng Humphrey chỉ có nửa triệu phiếu (phổ thông) tức 0.7%. Nhận định này không đúng vì tại Mỹ họ bầu Tổng thống theo cử tri đoàn, (mỗi tiểu bang có số phiếu tùy theo dân số ít hay nhiều) ai đủ 270 phiếu cử tri đoàn là thắng, phiếu phổ thông không được tính tới. Năm 2000, Al Gore hơn Bush con 543,895 phiếu phổ thông nhưng thất cử, Bush được 271phiếu cử tri đoàn đắc cử trong khi Gore được 266 phiếu.

      Cuộc bầu cử Tổng thống năm 1968 Nixon được 301 phiếu cử tri đoàn trên 32 tiểu bang, Humphrey được 191 phiếu trên 13 tiểu bang và DC, Wallace (ucv độc lập) được 46 phiếu, trên 5 tiểu bang.  Nixon thắng cử với tỷ lệ 56%

       Chuyện ông Thiệu tẩy chay hòa đàm đã giúp Nixon đắc cử chỉ thấy xuất hiện qua lời nhận xét của vài chính khách trong cuộc như TT Johnson, Thiệu, Safire phụ tá Nixon… nhưng trên thực tế không có bằng chứng cụ thể và tài liệu nào cho thấy ông Thiệu đã ảnh hưởng tới cán cân bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1968. Lại nữa không thấy các nhà học giả Mỹ nghiên cứu về chiến tranh VN cũng như các chính khách Mỹ bàn luận, đề cập tới sự kiện lịch sử này.

      Tôi xin đề cập lý do tại sao Humphrey lại thất cử năm 1968. Người dân Mỹ quá chán cuộc chiến sa lầy của Johnson nên họ đã bầu cho Cộng Hòa với hy vọng sẽ lấy lại được hòa bình. Dân Chủ đã làm hai nhiệm kỳ (8 năm) từ 1960 cho tới 1968, đã thất bại trong chính sách ngăn  chận CS khiến người dân vô cùng phẫn nộ. Tôi đã viết riêng một số bài về giai đoạn này (1) ở đây chỉ vắn tắt về những khuyết điểm của Johnson.

       Năm 1960 Kennedy đắc cử Tổng thống, cuộc chiến tại VN đã bắt đầu trước đó một vài năm. Từ 1960 cho tới cuối 1963 (Kennedy bị ám sát, Johnson lên thay) CSVN chỉ đánh du kích, mức độ cấp tiểu đoàn vì hồi đó Thủ tướng Nga Krushchev chủ trương sống chung hòa bình, chỉ giúp quân viện giới hạn. Sang năm 1964, Krushchev bị Brezhnev lật đổ, Nga đổi chính sách, giúp VC ồ ạt. Lại nữa tại miền Bắc, Lê Duẩn một lãnh đạo hiếu chiến đã thâu tóm nhiều quyền lực trong tay, trong Nam ông Diệm bị đảo chính.. khiến cuộc chiến ngày càng mở rộng.

      Ngày 7-8-1964 Quốc hội Mỹ thông qua Nghị quyết vịnh Bắc Việt với tỷ lệ ủng hộ 99.6% (2) trao quyền hạn rộng lớn cho Tổng thống trong cuộc chiến chống CS tại Đông nam Á.

      CSBV bắt đầu cho xâm nhập nhiều trung đoàn chính qui để đánh lớn, VNCH có nguy cơ sụp đổ. TT Johnson cho oanh tạc BV và năm 1965, đưa quân ồ ạt vào miền nam tới cuối năm lên gần 200 ngàn, cho tới 1968 lên tới 530 ngàn người. Johnson đã đưa Hoa Kỳ đi vào con đường can thiệp ồ ạt về quân sự tại VNCH. Cuối cùng nó đã hủy hoại nhiệm kỳ của ông và phân hóa nước Mỹ chưa từng có từ thời Nội chiến. (3)

      Người dân Mỹ ủng hộ cuộc chiến chống CS bành trướng tại ĐNA từ 1964, 65 nhưng rồi ngày một giảm, số người chống ngày càng tăng: Từ cuối 1965 tới cuối 1966 tỷ lệ số người ủng hộ giảm từ 61% xuống còn 51%, từ đầu 1967 tới cuối 1967 giảm từ 52% xuống còn 45%, từ đầu 1968 tới tháng 10-1968 giảm từ 42% xuống còn 37% (4). Phong trào phản chiến lan mạnh khắp nơi, người dân biểu tình chống chính phủ Johnson đầy đường đầy chợ

       Sở dĩ họ ngày một chán vì Johnson lãnh đạo cuộc chiến tồi tệ, ông và McNamara chủ trương đánh cho nó sợ để phải vào bàn hội nghị nhưng thất bại, năm 1966, 67 Johnson kêu gọi hòa đàm bị BV từ chối.

       Số lính Mỹ tử trận ngày một gia tăng: năm 1965 gần 2,000 người, năm sau 1966 lên 6,350 người, năm 1967 lên 11,363 năm 1968 lên gần 17,000 tổng cộng hơn 35,000. Đó là động cơ chính cho sự phẫn nộ, chống đối của người dân (5).

       Mới đầu người Mỹ ủng hộ cuộc chiến bảo vệ ĐNA, nhưng họ chỉ muốn đưa quân vào với cái giá vừa phải, và rồi số quân tăng lên quá cao tới hơn nửa triệu. Đã thế chính phủ lại thất bại không đưa được BV vào bàn đàm phán, chưa biết bao giờ có hòa bình. Sau trận Têt Mậu thân phản chiến vọt lên cao không gì cứu vãn nổi, sở dĩ Johnson không ra tranh cử vì biết chắc không được người dân ủng hộ, ai bỏ phiếu cho ông ta?

       Johnson sai lầm giao cho McNamara, một người dân sự không biết gì về quân sự lại giữ quá nhiều quyền, trong khi phong trào phản chiến ngày càng tiến nhanh lại áp dụng chiến tranh hạn chế chậm như rùa (6)

      Người Mỹ chán ngấy đến tận cổ cuộc chiến sa lầy của Johnson chẳng lẽ họ lại bầu cho Dân Chủ ở lại Tòa Bạch Ốc thêm một nhiệm kỳ thứ ba? TT Johnson đổ thừa cho ông Thiệu là hoàn toàn vô căn cứ. Dù ông Thiệu tham gia đàm phán trước hay sau ngày bầu cử Tổng thống 5-11 cũng không ảnh hưởng gì tới kết quả của nó, người ta chọn một chính phủ khác (Cộng Hòa) để có thể rút ra khỏi cuộc chiến.

      Nguyên do Humphrey thất cử vì người dân không tin tưởng vào đường lối của Dân chủ tìm hòa bình. Như trên ông Thiệu có nói nếu Humphrey đắc cử thì sáu tháng sau miền nam VN sẽ bị liên hiệp với CS, tôi tin là ông nói đúng. Cử tri Mỹ năm 1968 và 1972 không bầu cho Dân Chủ mà bầu cho Nixon (Cộng Hòa) vì không đồng ý với đường lối đầu hàng CS của Dân Chủ, người ta muốn hòa bình danh dự nghĩa là không làm sụp đổ đồng minh ít ra là sau khi ký Hiệp định. Cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11 năm 1972, Nixon đại thắng với tỷ lệ 96% phiếu cử tri đoàn (520/17), hơn McGovern 18 triệu phiếu phổ thông vì ông đã đem 95% quân về nước , hòa bình trong tầm tay và nhất là không làm sụp đổ VNCH lúc ấy.

      Ông Hoàng Đức Nhã, bí thư Tổng thống xác định ông Thiệu không cử phái đoàn tham dự Hòa đàm Paris không phải vì để giúp Nixon mà là chống lại sự bắt ép của chính phủ Johnson, họ chỉ muốn được việc cho họ. Năm 1968 báo chí, đài phát thanh Sài Gòn đều đã loan tin, từ tháng 5-1968 sau khi hai mạc hòa đàm, CSVN đòi giải tán chính phủ VNCH, lật đổ Thiệu, lập chính phủ Liên Hiệp, Mỹ rút quân không điều kiện, ngoài ra không có gì để đàm phán…VNCH bị xúc phạm nên ông Thiệu đã phản ứng như vậy.

      TT Thiệu không tham dự hòa đàm trước hết vì thể diện quốc gia và có thể vì sự khuyến khích của phía Nixon nhưng ảnh hưởng của nó đối với cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11-1968 nếu có cũng chỉ là khiêm tốn, làm lệch cán cân tranh cử Hoa Kỳ không phải là chuyện dễ.

       Nhà sử gia Dallak cho là “nỗ lực của Nixon có lẽ cũng không ảnh hưởng gì vì Thiệu không muốn tham dự Hội nghị, vả lại (người dân thấy) rất ít hy vọng có Hiệp định trước cuộc bầu cử” (7)

       Năm 1968, người Mỹ chán ngấy cuộc chiến tranh VN của Dân Chủ nên đã bầu cho Cộng Hòa với hy vọng có sự đổi thay. Đúng 40 năm sau, vào năm 2008 họ lại quá chán cuộc chiến Iraq sa lầy của Cộng Hòa (Bush con) và  bầu cho Dân Chủ (Obama) để rút quân về nước.

       Lịch sử luôn tái diễn như điệp khúc của một bản nhạc, năm 1968 Dân Chủ không thể có hy vọng ở lại tòa Bạch Ốc thêm một nhiệm kỳ thứ ba và cũng khó có thể tin được là họ thất cử vì tại ông Thiệu tẩy chay cuộc hòa đàm tại Ba Lê.

      Trọng Đạt

Cước chú

(1) Johnson Quyết Định Leo Thang Chiến Tranh,

Những sai lầm của Lyndon Johnson trong chiến tranh Việt Nam.

(2) No more Vietnams trang 75

(3) McNamara, In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam, trang 169

(4) Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war

(5) National archives Statistical Information about Fatal Casualties of the Vietnam War.

(6) Larry Berman: Lyndon Johnson’War, The Road to Stalemate in Vietnam  trang 114 The Big Sell: The Tortoise of Progress vs. the Hare of Dissent

(7) Dallek wrote that: Nixon’s efforts “probably made no difference,” because Thieu was unwilling to attend the talks and there was little chance of an agreement being reached before the election. – (US presidential election 1968-Wikipedia)

Đã xem 9154 lần

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

9 Comments

  1. Tác giả cho rằng :
    “Chuyện ông Thiệu tẩy chay hòa đàm đã giúp Nixon đắc cử chỉ thấy xuất hiện qua lời nhận xét của vài chính khách trong cuộc như TT Johnson, Thiệu, Safire phụ tá Nixon… nhưng trên thực tế không có bằng chứng cụ thể và tài liệu nào cho thấy ông Thiệu đã ảnh hưởng tới cán cân bầu cử Tổng thống Mỹ năm 1968. Lại nữa không thấy các nhà học giả Mỹ nghiên cứu về chiến tranh VN cũng như các chính khách Mỹ bàn luận, đề cập tới sự kiện lịch sử này”.
    Xin tác giả tìm xem hồi ký “Gọng Kìm Lịch Sử” của ông Bùi Diễm. Ông Bùi Diễm dành nguyên chương 28 với đề mục “Đại sứ Việt Nam bị cáo buộc là xen vào nội bộ chính trị của Hoa Kỳ, và bị CIA, FBI theo dõi”. Trong đó ông tường thuật tỉ mỉ về việc ông làm con thoi liên lạc giữa Nixon, bà Chennault và Thiệu; và bị chính giới Mỹ kết án ra sao.
    Riêng về việc tác giải không thấy tài liệu về vụ này thì ông Bùi Diễm cũng có mách trong trang 386 như sau :
    “…cho đến nay đã có gần mười cuốn sách viết về vai trò của bà Chennault và cá nhân tôi trong việc tạo điều kiện cho ông Nixon đắc cử, trong số đó có thể kể những cuốn có nhiều chi tiết như “The Man Who Kept The Secrets” của Thomas Powers, “The Education of Anna Chennault” của Anna Chennault, “The Power Peddlers” của Waren Howe và Sara Trutt, “Hoover’s FBI” của DeLoach, và cuốn “Counsel To The President” của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford”.

  2. Tác giả viết :
    “Tôi xin đề cập lý do tại sao Humphrey lại thất cử năm 1968. Người dân Mỹ quá chán cuộc chiến sa lầy của Johnson nên họ đã bầu cho Cộng Hòa với hy vọng sẽ lấy lại được hòa bình”
    “Người Mỹ chán ngấy đến tận cổ cuộc chiến sa lầy của Johnson chẳng lẽ họ lại bầu cho Dân Chủ ở lại Tòa Bạch Ốc thêm một nhiệm kỳ thứ ba?”
    “Nguyên do Humphrey thất cử vì người dân không tin tưởng vào đường lối của Dân chủ tìm hòa bình.”
    “Cử tri Mỹ năm 1968 và 1972 không bầu cho Dân Chủ mà bầu cho Nixon (Cộng Hòa) vì không đồng ý với đường lối đầu hàng CS của Dân Chủ”
    “…năm 1968 Dân Chủ không thể có hy vọng ở lại tòa Bạch Ốc thêm một nhiệm kỳ thứ ba và cũng khó có thể tin được là họ thất cử vì tại ông Thiệu tẩy chay cuộc hòa đàm tại Ba Lê”.
    Nhằm bác bỏ các tài liệu quốc tế cho rằng hành động của Tổng thống Thiệu đã làm lệch cán cân tranh cử Tổng thống Mỹ năm 1968, tác giả cho rằng dân chúng bầu cho đảng Cọng Hòa vì : (1) Họ quá ngán chiến tranh, (2) Họ hy vọng Đảng Cọng Hòa sẽ lấy được hòa bình (3) Họ không muốn bầu cho đảng Dân Chủ thêm nhiệm kỳ thứ ba (4) Họ không tin tưởng vào đường lối ĐDC tìm hòa bình (5) Họ không đồng ý với đường lối đầu hàng CS của ĐDC.
    Tuy nhiên tác giả không nêu ra được vì sao quá ngán chiến tranh mà họ lại bầu cho ĐCH trong khi chủ trương của ĐCH là “diều hâu”. Tác giả cũng không giải thích vì sao dân chúng tin rằng ĐCH sẽ “lấy lại được hòa bình” trong khi họ thừa biết ĐCH chủ trương hiều chiến? Tác giải có tự mâu thuẩn không?
    Thử so lại với hồi ký “Counsel To The President” của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Clifford : Clifford cho biết cuộc thăm dò dư luận cuối tháng 9/68 Humphrey thua Nixon tới 15 điểm ( 28/43 ). Sau đó Humphrey báo cho Clifford rằng ông ta đã tuyên bố với cử tri là nếu đắc cử ông ta sẽ ngưng dội bom Bắc Việt để thương lượng với Hà Nội và rút quân khỏi VN năm 1969.
    Sau đó Humphrey đã chính thức tuyên bố như vậy trong bài diễn văn đọc tại Salt Lake City ngày 30-9-1968. Chỉ 48 tiếng đồng hồ sau, cử tri gởi tới 5.000 lá thư ủng hộ và gởi theo tiền. Mười ngày sau Humphrey nhận được 1 triệu USD ủng hộ quỹ tranh cử, là một số tiền khá lớn thời bấy giờ. Rồi cuộc thăm dò dư luận vào giữa tháng Mười cho thấy Humphrey chỉ thua Nixon có 5 điểm.
    Ngoài ra hồi ký “Before The Fall” của William Safire, cố vấn tranh cử của Nixon, cho biết cuộc thăm dò ý kiến 5 ngày trước bầu cử cho thấy Humphrey dẫn trước 4 điểm. Như vậy có thề kết luận rằng lá bùa hòa đàm và rút quân là lá bùa sẽ đưa tới chiến thắng cho Humphrey.
    Nhưng rồi ngày 1-11-1968 Tổng thống Thiệu đọc một bài diễn văn nẩy lửa trước Lưỡng viễn Quốc hội VNCH, tuyên bố chính phủ VNCH sẽ không tham dự đàm phán cùng với Hoa Kỳ. Việc này đã khiến cho cử tri Mỹ nghĩ rằng những lời tuyên bố sẽ đàm phán của Humphrey chỉ là tuyên truyền bịp bợm. Nhờ đó mà Nixon thắng phiếu. Nếu ngày đó TT Thiệu chịu ký vào bản tuyên bố chung với Johnson về hòa đàm với CSVN thì chắc chắn Humphrey thắng cử.
    Gần đây nhất, ngày 20-3-2013, BBC đưa tin với tựa đề “Richard Nixon suýt bị buộc tội phản quốc” :
    “Giải mật các băng ghi âm điện đàm của Tổng thống Lyndon Johnson cung cấp một cái nhìn mới vào thế giới của ông. Trong số những tiết lộ cho thấy Johnson đã lên kế hoạch chi tiết tham dự Hội nghị đề cử ứng viên tranh cử Tổng thống cho Đảng Dân chủ năm 1968 để định tái tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào ghế tổng thống ra sao.
    Và ông đã bắt quả tang Richard Nixon phá hoại các cuộc hòa đàm với Việt Nam như thế nào… nhưng rút cuộc đã không nói gì.”…“Nếu vụ việc được đưa ra công chúng, sẽ phải tiết lộ rằng FBI đã nghe lén điện thoại của đại sứ (VNCH) và rằng Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) đã lọc các thông tin liên lạc của ông này với Sài Gòn”.
    “Tổng thống có cho Humphrey biết và cho ông này đủ thông tin để đánh chìm đối thủ của mình. Nhưng sau đó, một vài ngày trước khai mạc bầu cử, Humphrey nói với tổng thống, ông đã thu hẹp khoảng cách với Nixon và sẽ giành chiến thắng trong cuộc tranh cử tổng thống. Vì vậy, Humphrey đã quyết định rằng sẽ là quá nhiều đối với cả nước khi buộc tội những ứng viên của Đảng Cộng hòa phản quốc, trong khi đảng Dân chủ ‘đằng nào’ cũng sẽ thắng.”
    Tóm lại, Tổng thống Thiệu đã thấy rõ ý đồ không chân thực của Johnson và Humprey khi họ một hai bắt ông phải ký vào tuyên bố chung “sẽ đàm phán” trước ngày bầu cử TT Mỹ. Ông nghĩ rằng với một quyết định hòa đàm chụp giật như vậy thì rõ ràng sẽ không thực sự đưa đến hòa bình lâu dài, mà là đầu hàng. Ông đã tâm sự với Nguyễn Tiến Hưng rằng nếu theo Humphrey thì VNCH sẽ rơi vào tay CSVN trong vòng 6 tháng, còn với Nixon thì dầu sao cũng có nhiều hy vọng hơn.

  3. Thưa ông
    Tình cờ xem và dò lại bài của tôi và thấy 2 góp ý của ông
    Cám ơn ông rất nhiều đã đọc bài của tôi và đã góp ý
    Góp ý của ông hơi dài, xin ông đi thẳng vào đề: lý do nào khiến Humphrey thất cử và lý do nào khiến Nixon đắc cử tôi đã trình bầy, nếu ông phản bác và cho rằng ông Thiệu đã làm lệch cán cân tranh cử Mỹ thì xin ông đưa chứng cớ cụ thể, không bàn quanh mất thì giờ cho ông và cả cho tôi
    Trong các sách viết về Vietnam war của Mỹ của các t/g Mỹ Walter Isaacson, Larry Berman, Karnow, Lewis Sorley, John Prados, Marilyn Young, Clodfelder, Micheal Link.. trong các hồi ký của các nhân vật lịch sử quan trọng (Mỹ) trong VN war như Nixon, Kissinger.. không thấy đề cập tới chuyện này vì nếu họ cho là chuyện quan trọng thì đã nhắc tới
    Xin ông xem thêm bài vở, sách báo nói về phong trào phản chiến chống cuộc chiến của Johnson (DC) để ông có thể nghĩ là DC có thể ở lại tòa Bạch ốc thêm một nhiệm kỳ thứ ba
    Tôi tránh không bàn nhiều tới các v/đ DC, CH
    Người mình đề cao ông Thiệu quá lố khi cho rằng ông ta có thể ảnh hưởng lớn tới tranh cử Mỹ, thực ra nó chỉ là con số không
    Chắc ông ở Mỹ và chắc ông thừa biết muốn làm lệch cán cân bầu cử TT Mỹ nó khó trầy da tróc vẩy thế nào rồi, ông Thiệu là cái gì mà đòi làm lệch cán cân tranh cử TT Mỹ

  4. Thưa ông Trọng Đạt,
    Để hỏi làm mất thì giờ của ông, tôi xin phản bác ngắn gọn :
    Ông cho rằng không có bằng chứng nào cho thấy Humphrey thua phiếu vì hành động phá đám của Nixon và Thiệu.
    Nhưng hồi ký của Cliffford và William Saphire cho biết :
    Cuộc thăm dò vào cuối tháng 9 cho thấy Humphrey thua Nixon tới 15 điểm. Nhưng rồi ngày 30-9 Humphrey tuyên bố ông ta sẽ đàm phán với Bắc Việt. Chỉ 2 ngày sau Humphrey nhận được 5.000 thư ủng hộ và 10 ngày sau ông ta nhận được 1 triệu USD vận động tranh cử, nghĩa là chiêu bài hòa đàm của Humphrey rất ăn khách.
    Và kết quả thăm dò giữa tháng 10 cho thấy Humphrey chỉ thua Nixon có 5 điểm, tức là rút ngắn tới 10 điểm. Và rồi thăm dò đầu tháng 11 cho thấy Humphrey hơn Nixon 4 điểm.
    Cái gì khiến cho Humphrey từ thua 15 điểm trở thành hơn 4 điểm? Chỉ có chiêu bài hòa đàm. Hồi ký của Johnson cho thấy ông ta đã giúp Humphrey bằng cách thương lượng xong với Hà Nội để cùng nhau đến Paris mở đàm phán, chỉ còn chờ Nguyễn Văn Thiệu ký vào bản thông cáo chung rằng Mỹ Việt sẽ đàm phán với Hà Nội tại Paris trong thời gian sắp tới.
    Nhưng bất ngờ ngày 1-11 Thiệu tuyên bố VNCH rất tiếc không thể tham dự đàm phán tại Paris. Dư luận Mỹ cho rằng vậy là chiêu bài sẽ có hòa đàm của Humphrey chỉ là bịp.
    Và 4 ngày sau thì Humphrey thua phiếu. Như vậy có thể kết luận được rằng Humphrey thua phiếu vì Thiệu từ chối tham dự hòa đàm. Chứ nếu Thiệu chịu ký vào tuyên bồ chung với Johnson thì Humphrey thắng chắc.
    Ông Trọng Đạt cho rằng không có sách vở nào nói về chuyện này nhưng ông Bùi Diễm chính là người trong cuộc đã thú nhận là có. Và ông Diễm cũng cho biết gần 10 cuốn sách nói về chuyện này, trong đó có nhiều tác giả nổi tiếng như Thomas Powers, Anna Chennault, Waren Howe, Clark Clifford…”
    Giờ đây ông Trọng Đạt liệt kê ra hằng lô các tại liệu về chiến tranh Việt Nam không hề nói đến chuyện này. Tôi cho rằng những sách đó không nói thì không có nghĩa là không có sách nào nói. Chẳng qua là ông không đọc mà thôi, ít nhất là những sách mà ông Bùi Diễm giới thiệu.
    Có thể giải thích cho việc các sách mà ông Trọng Đạt nêu ra đã không đề cập tới vì các sách đó viết trước khi hồi ký của Johnson ra đời, và trước khi những băng ghi âm của Johson được công bố năm 2013. Trước đó thì chuyện này chỉ trong vòng bàn tán kể từ năm 1975, khi Nixon bị tội nghe lén, chứ không được xác nhận bằng một tuyên bố công khai nào..
    Rất cám ơn ông đã chịu khó trả lời cho tôi.

  5. Thưa ông
    Theo lời TT Nixon sách viết về cuộc chiến VN có hàng ngàn cuốn, đủ loại, hồi ký, chuyện kể, tiểu thuyết, biên khảo…. không ai có thể đọc hết được cho dù là nhà học giả mà người ta chỉ đọc tham khảo những cuốn nổi tiếng, được nhiều người đọc (viết thập niên 80, 90, 2000… ) như Kissinger A Biography, No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam- Kissinger: Years of Renewal Vietnam, A History, No more Vietnams, White House Years…
    Những v/đ quan trọng của cuộc chiến thì họ mới bàn tới, còn những v/đ mà họ không bàn coi như không đáng bàn.
    GS NT Hưng năm 2005 nói ông Thiệu đã làm Nixon đắc cử nhưng ông không đưa ra được chứng cớ có tính thuyết phục
    Ông Hoàng đức Nhã, người thân cận nhất của ông Thiệu đã phủ nhận chuyện này như trong bài tôi đã nói tới
    Thôi chúng ta ngừng ở đây, tất cả những gì muốn nói tôi đã nói trong bài viết
    Xin chào ông

  6. Thưa ông Trọng Đạt,
    Trong bài viết ông nói rằng không có tài liệu nào nói về việc ông Thiệu làm lệch cán cân bầu cử Mỹ năm 1968. Nhưng tôi đã thưa với ông rằng riêng vai chính trong vụ này là ông Bùi Diễm đã dành ra 29 trang hồi ký để kể rõ về việc này. Ngoài ra ông Bùi diễm cũng giới thiệu gần mười cuốn sách của những tác giả nổi tiếng có nói về chuyện này.
    Trong thư trả lời trước ông có nói rằng ông đã đọc 8 cuốn sách về chiến tranh VN nhưng không thấy sách nào nói chuyện này. Tôi đã thưa với ông rằng ông không thấy sách nào nói thì không có nghĩa là không có, trong khi trong bài viết ông nói là “không có sách nào viết” (!?)
    Giờ đây ông nói rằng ông chỉ đọc những sách quan trọng về chiến tranh VN chứ ông không hơi sức đâu đọc những sách không quan trọng như ông Bùi Diễm giới thiệu. Nhưng tôi xin thưa với ông rằng ông đang viết về chuyện mà ông Bùi Diễm đóng vai chánh, nếu viết về vụ của ông Bùi Diễm thì tí nhất ông cũng phải đọc hồi ký Bùi Diễm đã chứ. Nó là tài liệu quan trọng số 1 của vụ này,
    Và nhân vật quan trọng thứ hai trong vụ này là bà Chennault cũng có viết hồi ký nói rõ. Và nhân vật thứ 3 trong vụ này là ông Nguyễn Văn Thiệu cũng đã trả lời phỏng vấn cho Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L.Schecter có kể rõ về vụ này.
    Schecter và Nguyễn Tiên Hưng đã dành riêng 35 trang sách trong tác phẩm “The Palace File” để nói rõ vì sao Nguyễn Văn Thiệu lại làm lệch kết quả bẩu cử Tổng thống Mỹ năm 1968. Tác phẩm này được quốc tế đánh giá là “một nguồn tài liệu tiêu chuẩn” về chiến tranh Việt Nam. Được dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Bí Mật Dinh Độc Lập”, mà trong đó có chương 2 với tựa đề “Nixon và Thiệu : Một món nợ chính trị” với 35 trang kể rõ về vụ này. Mở đầu với câu :
    “Nguyễn Văn Thiệu tin rằng Richard Nixon đã mắc ông một món nợ chính trị khi ông không chịu ủng hộ sáng kiến hòa bình của Tổng thống Lyndon Johnson ngay trước cuộc bầu cử Mỹ năm 1968. Dù không tuyên bố ông Thiệu vẫn chắc chắn rằng việc ông từ chối không tham dự hòa đàm với Bắc Việt…đã đóng một vai trò quyết định trong sự thằng lợi của Nixon đối với Hubert Humphrey.”
    Ngoài ra nếu muốn viết về chuyện này thì phải đọc cuốn sách “Before The Fall” của William Safire, tham muu trưởng vận động tranh cử của Nixon vào năm đó.
    Thưa ông Trọng Đạt vì sợ rằng ông chưa đọc một trong các sách nói trên cho nên tôi viết comment để nhắc ông. Tôi sợ người ta cười ông.
    Nhưng ông lại cho rằng góp ý của tôi hơi dài và xin đi thẳng vào vấn đề. Ông đề nghị tôi phải chứng minh cụ thể và không bàn quanh mất thì giờ. Theo ông thì “ông Thiệu là cái gì mà đòi làm lệch cán cân tranh cử TT Mỹ”.
    Vì vậy tôi đành phải dẫn chứng sách của Clark Cifford, Bộ trường Quốc phòng Mỹ. Trong đó Clifford nói rằng rước bầu cử 1 tháng thì Humphrey thua Nixon 15 điểm, sau đó ông ta lật nược tình thế bằng chiêu bài thương lượng hòa đàm với Hà Nội, chỉ 1 tháng sau ông ta hơn Nixon 4 điểm. Nhưng đúng vào lúc đó Thiệu tuyên bố sẽ không tham dự hòa đàm khiến cho người Mỹ cho rằng Humphrey nói xạo, và 4 ngày sau ông ta thất cử.
    Không biết tôi chứng minh như vậy đã vừa ý ông chưa nhưng thư trả lời vừa rồi ông lại nói hồi ký của Nixon và Kissinger không thấy nói. Thưa ông , làm sao mà Nixon và Kissinger dám nói chuyện này cho được, bởi vì theo như luật pháp nước Mỹ thì bắt tay với Thiệu để làm thay đổi kết quả bầu cử là tội phản quốc ? ( Xin xem bài ““Richard Nixon suýt bị buộc tội phản quốc” của BBC còn ở trên net ).
    Thưa ông Trọng Đạt, giờ đây ông nói rằng tôi hãy ngừng ở đây! Làm sao mà tôi ngừng được? Khả năng đeo bám của tôi dai lắm, tôi chỉ dừng khi nào tôi thấy có lý. Ngoài ra nếu tôi dừng thì mọi người sẽ tưởng rằng tôi ngu, nói tầm bậy.
    Tôi không mong chờ trả lời của ông, xin chào ông.

  7. DI DÂN DỊ VIỆT
    *
    Nhìn người ta ngẫm cái phận ta
    Ngư ông Vũng Áng đảo Cát Bà
    Vệ sinh băng quỷ vua lừa đảo
    Đảo Mắt Kê Gà quân Gạc Ma
    *
    Cắm sào Thị Nở thưởng hoa hoa hòe nụ sói kèn loa hoa đứng đường
    Tầu Nga Mỹ Nhật hướng dương
    Đông nam Á hậu Cát Tường cứt lợn bông
    Đầm già trẻ hóa phi công ngủ công tứ trụ bông rông bông bụp hồng
    *
    Tội Phạm Văn Đồng Mao Trạch Đông
    Đông tây nam bắc đạo tương đồng
    Từ thiện làm gì quần chúng chửi
    Miếng cơm manh áo chẳng cho không
    *
    Xì Trump xịt thối cộng đồng di dân dị Việt cộng đồng dân chủ không
    Hillary sến tấn công
    Kít Sinh Dơ cộng mất công sản không đồng
    Chẳng thà nội trợ cho chồng Đỗ Mười sinh cứt mười công Tố Hừu đồng
    *
    TÂM THANH

  8. Tác giả cho rằng chuyện ông Thiệu làm lệch kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ chỉ có hai người đề cập tới là ông Nguyện Tiến Hưng với cuốn sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” xuất bản năm 2005 và ông Trần Đông Phong với quyển “Việt Nam Cộng Hòa, 10 Ngày Cuối Cùng” xuất bản năm 2006.
    Tác giả cố tình tạo cho người đọc có ấn tượng rằng ngoài 2 cuốn sách này thì không có sách nào đề cập tới nữa. Nhưng thực trong sách KĐNTC của Nguyễn Tiến Hưng năm 2005 chỉ là lặp lại những chi tiết mà ông đã cùng Ressold Schecter viết trong quyển Palace File xuất bản năm 1986. Trong sách này có nguyên chương 2 với 35 trang giấy giải thích vì sao ông Thiệu đã làm lệch kết quả bầu cử Mỹ năm 1968.
    Còn quyển “VNCH Mười ngày cuối cùng” của Trần Đông Phong cũng có nguyên nột chương gồm 28 trang chứng minh vì sao NVT làm lệch kết quả bầu cử TT Mỹ vào năm 1968. Nhưng hết một nửa là trích dẫn từ Palace File của Nguyễn Tiến Hưng và Schecter, mà trong đó chính Tổng thống Thiệu đã xác nhận ông đã làm thay đổi kết quả bầu cử. ( Lúc cuốn sách ra đời thì TT Thiệu còn sống mạnh khỏe và ông không đính chính ).
    Ngoài ra Trần Đông Phong còn trích dẫn cuốn “In The Jaws of History” của ông Bùi Diễm là nhân vật chính trong cuộc. sách “Before The Fall” của William Safire, phụ tá của Nixon, đại diện Nixon cho nhân vật thứ 3 trong cuộc.
    Trần Đông Phong cũng trích dẫn hồi ký “The Vantage Point” của Tổng thống Jhonson, đại diện cho phía Humphery. Và cũng trích dẫn trả lời phỏng vấn của Ted Van Dyk, phụ tá của Humphrey.
    Trần Đông Phong cũng trích dẫn hồi ký “Budda’s Child” của ông Nguyễn Cao Kỳ, xác nhận chuyện bà Chennault đến Sài Gòn gặp NVT và NCK là có thật.
    Nhưng Trần Đông Phong cũng trích dẫn trả lời phỏng vấn của Hoàng Đức Nhã với báo người Việt năm 2003. Trong đó ông Nhã bác bỏ việc ông Kỳ nói rằng Thiệu và Kỳ không dự đàm phán vì nghe theo lời khuyên của Chennault mà vì phía Hoa Kỳ không hề đồng ý với phía VNCH về vấn đề lập trường chung của hai nước đồi với kế hoạch đàm phán.
    Trần Đông Phong cũng trích dẫn sách “ Pay Any Price, Lyndon Johnson and The Wars For Vietnam” của giáo sư sử học LloyC.Gardner. Cũng trích dẫn sách “Shadows Of Vietnam, Lyndon Johnson’s Wars” của giáo sư sử học Frank E.Vandiver. Những sách này xác nhận chuyện Nixon, Chennault, Thiệu là có thật.
    Cuối cùng, sau 1975 Trần Đông Phong đã hỏi thẳng bà Chennault về việc này thì bà trả lời “ Đôi khi chúng ta cũng phải làm bất cứ việc gì mà chúng ta phải làm”.
    Giờ đây ông Trần Đông Phong đã chết, tác giả Trong Đạt cho rằng những gì Nguyễn Tiến Hưng và Trần Đông Phong viết ra là không đáng tin cậy. Sau khi bác bỏ NTH và TĐP, tác giả tuyên bố không có người Mỹ nào khác đã có viết về chyện này. Thế rồi tác giả tự đưa ra tưởng tượng của mình mà chẳng có căn cứ vào đâu.
    Về tài liệu để chứng minh sự việc thì tác giả viết “Tôi xin lược thuật dựa theo báo chí và đài phát thanh Sài Gòn hồi ấy”. Nghĩa là không căn cứ vào đâu cả bởi vì giờ đây ai còn nhớ báo chí và đài phát thanh hồi ấy nói những gì.
    Và rồi tác giả viết theo “đài phát thanh hồi ấy” rằng : “TT Johnson tuyên bố không ra tranh cử, ngưng oanh tạc phần lớn BV và kêu gọi Hà Nội chấp nhận đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh..”(sic). Chuyện này chỉ có trong tưởng tượng của tác giả chứ không có trong tưởng tượng của bất cứ một người nào khác.
    Riêng tôi thì tôi nhớ như in một câu nói của Humphrey do báo chí thời ấy đăng lại sau khi Humphrey thất cử : “Ông Thiệu hãy liệu hồn cho sự nghiệp chính trị của ông ta “.

  9. Trong thư trả lời cho tôi ngày 20 tháng 10 tác giả nói rằng có hằng ngàn cuốn sách viết về cuộc chiến Việt Nam nhưng người ta chỉ đọc tham khảo những cuốn như : Years of The Renewal của Kissinger, White House Years của Kissinger, No More Vietnam của Nixon, Kissinger Biography của Walter Isaacson, No Peace No Honor của Larry Berman, và Vietnam A History của Stanley Karnov.
    Tác giả cho rằng hễ những gì mà 6 quyển sách này đề cập tới là những chuyện quan trọng của cuộc chiến, còn những gì mà 6 quyển này không đề cập tới thì coi như không đáng bàn. Nghĩa là chuyện ông Thiệu làm lệch cán cân bầu cử coi như không đáng bàn (?)
    Vậy thì ai là người đưa chuyện này ra bàn với bài viết tựa đề là “Ông Thiệu và cuộc tranh cử tổng thống Mỹ 11-1968”?
    Nhưng tác giả đưa ra bài viết này không phải là ngẫu hứng bàn chơi, mà là đưa ra để phản bác ông Hoàng Bách và luật sư Steven Điểu. Tác giả đã cho rằng ông Hoàng Bách và luật sư Điểu nói sai. Chính vì vậy mà tôi phải lên tiếng góp ý để chỉnh lại là luật sư Điểu nói không sai.
    Ngoài ra, tác giả cho rằng 6 quyển sách nói trên không có nói về chuyện Nguyễn Văn Thiệu làm lệch kết quả bầu cử Mỹ thì có nghĩa là chuyện đó không có. Nhưng tôi cho rằng, và có lẽ mọi người cũng cho rằng 6 quyển đó không nói thì không có nghĩa là chuyện đó không có.
    Sở dĩ mà 3 quyển hồi ký nêu trên của Kissinger và Nixon không đề cập tới bởi vì chuyện đó là chuyện phạm pháp. Và sách của Isaacson ca ngợi sự nghiệp của Kissinger thì cũng không nói. Còn sách của Larry Berman chỉ bắt đầu từ lúc Johnson chuyển giao quyền lực cho Nixon, trong khi chuyện này xảy ra trước khi chuyển giao quyền lực.
    Riêng sách “Vietnam : A History” của Stanley Karnov có ghi lại chuyện này chứ không phải là không ghi. Xin mọi người hãy giở sách này ra, trang 585-586 sẽ thấy Karnov có đề cập tới chuyện Nixon, bà Chennault và Thiệu.
    Vì vậy tôi có thể kết luận rằng tác giả đã bịp người đọc và cố bịp tôi khi tác giả đưa ra những bằng chứng dõm như trên. Lẽ ra tôi chỉ nên đánh giá thấp tư cách của tác giả là xong nhưng như tôi đã nói, mới đầu tôi chỉ muốn bảo vệ sự vô tư trung thực của ông Hoàng Bách và luật sư Điểu. Nhưng qua trả lời của tác giả tôi thấy rõ ràng là tác giả coi thường sự hiểu biết của độc giả. Vì vậy mà nay tôi viết lên góp ý cuối này để chào tác giả bởi vì tôi biết tác giải không còn muốn trả lời cho tôi nữa.

Comments are closed.