Về một chuyến đi

Tôi sẽ viết gì về chuyến thăm xứ người. Ở đó là thành cao, phố đẹp, sự giàu sang. Hay là sự thanh bình, lịch sự của dân bản xứ? Hoặc gỉa, tất cả những điểm trên?

Tôi đến Roma giữa dòng người như thác cuốn, và dĩ nhiên, có nhiều câu chuyện có thể kể lại. Trước hết là câu chuyện trong dấu ngoặc dưới đây, bạn có thể đọc và đừng bao giờ nhớ. Bởi lẽ, Bạn tôi bảo: “ trong những thành phố mình đi qua như Milan, Munich,  Paris rồi Roma… Người người đi kề xát bên nhau, con số lên hàng trăm nghìn, mà lạ, không thấy một người đứng đái bên đường, cũng không thấy một bãi phân trên lối đi”.

“Ư nhỉ, chuyện lạ đấy. Ở quê tôi sau ngày 30-4-1975, có nhiều đổi khác, mà mở đầu là chuyện sau đây: Hôm ấy, dọc theo bên đường là từng lớp lớp cán binh cộng, cả giai cả gái, lụng thụng trong bộ quần áo mới mặc lần đầu, kéo nhau vào thành phố của miền nam. Họ có những đôi mắt đăm đăm, đi lặng lẽ, mặt không nụ cười. Dĩ nhiên, đoàn hùng binh thì súng ống trên tay hay vác trên vai nghiêm chỉnh. Tuy thế, đoàn bộ đội của Hồ chí Minh lại thêm một nét đặc sắc khác. Đó là cảnh đi chung với đoàn quân ấy là những con heo với một đầu giây chằng qua nách, và một đầu khác nằm trong tay anh nuôi (từ tôi mới nghe lần đầu) dẫn nhau vào Sài Gòn. Sau cuộc diễu hành này, họ sẽ ở đâu và làm gì với những con heo kia? Câu trả lời ngắn gọn lắm. Họ sẽ chiếm đóng các công viên, cổng dinh thự, cơ quan hành chánh của miền nam để nghĩ ngơi. Và dĩ nhiên, những con heo kia sẽ được các anh nuôi nấu nước sôi, cạo lông, mổ bụng để làm bát tiết canh, lấy thịt, xương hầm, chia nhau.

Chuyện đơn giản ấy, chẳng để lại dấu tích gì ư? Có chứ! Nhiều và nhiều lắm: “Chỉ sau một đêm, các sân vận động ở thành phố, rồi công viên và các gốc cây ở đường phố Sài Gòn, không một nơi nào mà không được đoàn bộ đội ta, cả giai và gái, thay nhau gài mìn. Sài Gòn ngày hôm trước hoang mang với những nét lạ lẫm của người mới đến. Chỉ sau một đêm, đường phố Sài Gòn la liệt những phân người, cứt heo. Tất cả đều được mang vào và thải ra từ lớp cán binh cộng sản vừa nhập thành. Khi ấy, đi trên con đường nào có bóng dáng VC, ngưòi ta đều phải theo nhau bịt mũi.

“Đây chẳng phải là một câu chuyện riêng biệt, hoang đường, nhưng nó là câu chuyện đồng nhất của tập thể VC. Nó diễn ra ngay trước mắt mọi người. Hơn thế, ngay trước mắt tôi. Vào sáng ngày 8-5-1975, tôi và vài người bạn mon men đến trường Luật xem trường cũ của mình ra sao. Khi đến nơi, tất cả đều e dè, và rồi, đã chứng kiến và phải bịt mũi khi ngủi thấy mùi phân từ trong hành lang và sân trường. Sau một vài vòng quanh sân, cầu thang, ra khỏi cổng, chúng tôi đi về phía bùng binh con Rùa. Gần đến nơi, tôi và hai người bạn choáng váng khi nhìn thấy hai bộ đội cái, (khoảng trên dưới 20) tụt quần ngồi xuống ngay dưới gốc cây lớn bên đường. Mà lạ làm sao chứ, họ thản nghiên, chẳng một chút ngượng ngùng nào khi hai ba đứa chúng tôi đi qua. Đã thế, họ còn ghếch cái mũ cối, ngủa mặt lên như muốn nhìn xem những kẻ đang đi qua kia là ai. Sau này, tôi nghe nói bên Văn Khoa cũng chẳng có gì khác biệt và biết đâu một trong những kẻ ngồi ghếch bên đường kia lại là em cán thị Ngân! Chuyện là thế, và cũng từ đây, sinh viên miền nam đã trắng mắt ra và bắt đầu bị lây lan cảnh sống “thoát ly” của VC để chung chạ, ăn ngủ ngay tại khu công tác, lao động!

Dĩ nhiên, sau này chuyện ấy vẫn chưa chấm dứt. Bạn tôi kể: “một hôm đang ngồi trong quán lề đường, bỗng thấy mấy anh cán bộ mang theo thùng keo và những tấm hình cuốn trong tay đi ngang. Chợt, họ dừng lại, quyệt keo lên tường và bình thản, nếu không muốn noí là trang trọng dán lên đó những tấm hình khổ lớn của Hồ chí Minh. Khi nhìn thấy, ai cũng cho là hình ảnh này như một chứng từ xác minh là từ đây thành phố này mang tên bác.

“ Mà lạ làm sao, ngay khi keo chưa khô, đoàn tạp vụ vừa đi khuất là lần lượt, năm bẩy ngưòi, gìa có, trẻ có, cán bộ thường phục và mặc sắc phục có, họ như vội vã  theo nhau ra đứng trước bức tường. Những tưởng là họ đến để chiêm ngưỡng ảnh bác. Ai ngờ, chẳng ai bảo ai, tất cả đều vén quần lên, hay kéo dây khoá xuống và lôi “Bác Hồ” ra để giải quyết vấn nạn cho riêng mình. Thế là bác Hồ trên tường tắm mát thoải mái. Phần người đứng thì bình thản cài lại cái cúc quần và bỏ đi. Thú thật, tôi không hề biết người ta gọi “cái ấy” là “ bác Hồ”, rồi “ cụ Hồ” từ khi nào (có lẽ đã xuất hiện từ miền bắc?). Nhưng khi nhắc đến, không ai mà không biết ngụ ý của nó. Thậm chí, phía nữ cũng rất rành về từ riêng này.”

Chuyện đứng đường này tôi không hề nhìn thấy ở Munich, Paris hay Rôma. Tôi không bảo là họ tử tế, văn minh, nhưng có lẽ tôi không bắt gặp chăng. Tuy thế, có một điều tôi biết chắc việc giải quyết của họ rất quy củ. Họ vào hàng quán ăn uống, trả tiền và đi vệ sinh ở đó, hoặc đến nhà vệ sinh có trả tiền ($0.70cents). Họ không đứng hay ngồi lôi “Bác Hồ” ra để tỉa vào tường hay gốc cây như cán bộ nam nữ hay dân ta thường làm! Như thế, đây có là điều nên học, hỏi? Viết vậy thôi, chứ với cái học và hành của cán bộ VC hôm nay, xem ra một trăm năm nữa, nếu họ còn gắn hình Hồ chí Minh ở đó thì những vòi nước của nam nữ thành phố dĩ nhiên là sẽ không ngừng gởi cho Y!

Trở lại chuyện ở Rôma, tôi như bị lạc vào dòng thác người. Ở đó, ai ai cũng đều ngước mắt lên cao để nhìn, để quan sát cho tỏ tường những hình tượng, những nóc cao nhà thờ hay những kiến trúc xưa, cổ, đã có từ ngàn năm trước. Tại sao lại có cuộc trường tồn như thế, dẫu là Roma, Paris… cũng đã trải qua chiến tranh? Có gì lạ đâu, những kẻ chuyên nghề phá hoại từ luân lý đến đời sống xã hội của loài người thì ở đâu cũng có. Tuy nhiên, ở những nơi này, chúng không thể ra tay. Đó là lý do có sự bền vững trong những công trình kiến trúc của xã hội cũng như nền tảng luân lý của con người còn hiện diện. Ở Việt Nam ta thế nào?

Tôi chưa kịp hỏi, người đi bên cạnh tôi, sau một lần đảo mắt vòng quanh và ngắm nghía những lâu đài cổ, tháp chuông nhà thờ, hắn bảo: May là ở đây không gặp tay Hồ chí Minh. Nếu gặp, có lẽ chẳng còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào và chỗ nào cũng đầy phân! Tôi chưa kịp hỏi thêm, hắn bảo: Cứ nhìn Huế vào tết Mậu Thân, về Gò Vấp, Hàng Xanh, vào tháng 2-1968, hay ra Quảng Trị thì biết chúng đã làm những gì với nhà thờ hay đền, chùa? Rõ ràng, khi mạng sống của con người đã bị chúng tận diệt thì nói chi đến những tháp cao nhà thờ hay đền đài! Tôi như chết lặng, không thể thêm bớt gì theo ý kiến của hắn. Bởi lẽ, đã là sự thật thì cần chi thêm và bớt. Tôi buột miệng: Phải, may mà nơi đây không gặp hắn. Tôi nói thế là có đầy đủ những chứng cứ về điều tôi nói đến.

Trước hết, tôi cho rằng không phải vì có những cái tên như Vi quốc Thanh, Lã qúy Ba…trong đoàn cố vần Tàu mà Hồ chí Minh sợ không dám can thiệp vào vụ chúng giết người và cướp toàn bộ tài sản của bà Nguyễn thị Năm để mở đầu cho chiến dịch gọi là  “cải cách ruộng đất” của chúng. Trái lại, chính Hồ chí Minh đã có chủ đích thảm sát nhà Việt Nam để Y tạo nên một cơ nghiệp lệ thuộc vào Tàu. Bởi lẽ, chính Y đã đích thân viết ra bản án gian trá “địa chủ ác ghê” để khai mạc cho cuộc hủy diệt dân Nam, sau đó đến chứng giám cuộc đấu tố bà với cung cách “Kẻ bịt râu, người đeo kính râm đến dự một buổi” ( Đèn Cù, Trần Đĩnh). Bài học này, nếu hôm nay đem ra diễn lại, chắc hẳn nó không hơn một cuộc giết người, cướp của. Lý do, có một viên cán bộ VC nào, chỉ từ cấp phường trở lên mà không có nhiều tiền bạc, đất đai, hơn bà Nguyễn thị Năm hôm xưa? Nhưng tại sao không một kẻ nào trong chúng bị đấu tố? Câu trả lời có phần chính xác và rõ nét là: Phải để cho chúng cướp đoạt được tài sản lớn, từ đó chúng mới theo Hồ chí Minh mà làm nô lệ cho Tàu!

Chuyện là thế, nên khi nhìn về đất nước người, ta phải rớt nước mắt cho dân mình. Mà thôi tạm quên chuyện ấy đi, tôi đưa bạn vào một buổi tối như vào “ thiên đường” đây.

Cơn mưa chiều vẫn nhỏ giọt, không lớn, nhưng đi lâu thời ướt áo, thấm lạnh. Chúng tôi dừng chân, đứng lại dưới cổng dẫn vào ngôi thánh đường ở cách Roma vào khoảng 45 phút lái xe. Tiếc rằng tôi không nhớ tên của thành phố. Nhìn thoáng qua, nhà thờ không có hình dáng kiêu xa lộng lẫy, không có ngọn tháp cao lừng lững giữa trời. Nhưng mang hình dáng thanh thản, cao sang, đầm ấm giữa lòng đời. 

Nhìn quanh một vòng rồi chúng tôi bước vào khuôn viên của Thánh đường. Từng bước chân đưa chúng tôi lên những bậc thềm. Khi cánh cửa cuối nhà thờ được mở ra, những hình dạng kiến trúc hoa văn với màu sắc lộng lẫy, cao sang ở bên trong và trên trần cao làm chúng tôi bàng hoàng kinh ngạc. Thật không ai có thể tưởng tượng ra, với dáng vẻ bên ngoài như tầm thường ấy, mà bên trong lại có đầy những hình ảnh, với những nét họa điêu khắc tinh vi, tuyệt vời đến kinh người như thế. Nhìn quanh một vòng, ông bạn tôi chẳng đến nhà thờ bao giờ, tự nhiên, hắn lặng lẽ qùy xuống cái ghế ở cuối như một con chiên ngoan đạo. Trong lúc ấy, máy ảnh của tôi không ngừng quay cuồng hết vòng này đến vòng khác, rồi từ trên trần cao cho đến những khung ảnh, tượng, đặt nghiêm chỉnh trong thánh đường. Khi bước ra, tôi phải đến khều nhẹ trên vai hắn: Về thôi!

Cơm chiều xong, tôi quyết định trở lại khu nhà thờ để có những hình ảnh về đêm. Vừa bước ra sân, cái dù trong tay tôi đã phải bung, mở bởi những giọt mưa vẫn cứ đều rơi. Khi đến nơi, sân nhà thờ khá vắng lặng, chỉ có một cái kiệu hoa với đèn nến và thánh tượng đặt cô đơn giữa sân đón mưa. Xa xa kia, trên thềm cao nơi cuối nhà thờ là hàng hàng lớp lớp những cái dù với đủ mọi mầu sắc đã bung mở để chắn mưa bay. Chỉ ít phút sau, trong lúc tôi còn đang bỡ ngỡ giữa nền sân rộng, những cánh dù trên sân cao nhà thờ kia từ từ rẽ ra hai bên. Một đoàn người, với nến sáng trong tay đi ra. Dĩ nhiên, chẳng một ai không tự cầm lấy cái dù mở che cao trên đầu. Khi đoàn người dừng lại trước kiệu hoa. Tôi hoa mắt khi nhìn thấy vị chủ tế trong phẩm phục Gíam Mục và mấy linh mục, đứng ngay trước mặt. Ngài bình thản hạ cái dù xuống rồi bước đến xông hương cho thánh tượng để bắt đầu cuộc kiệu.

Mà lạ lùng làm sao chứ, sau khi làm nghi thức của tôn giáo trước tượng, cuộc rước bắt đầu như trong thinh lặng. Không một loa, kèn hiệu công bố về cuộc rước và thứ tự đi đứng như thế nào, tất cả như được xắp xếp từ trước. Đoàn rước bắt đầu với những cậu và các thầy giúp lễ. Kế đến là ba vị linh mục rồi vị Gíam Mục chủ sự mà tôi vừa nhắc đến. Kế bên ngài là một cụ sáu. Và dĩ nhiên rất nhanh chân, tôi một mình đi ở hàng kế, ngay sau lưng Ngài. Phía sau lưng tôi là đội ngũ của Thánh tượng và ca đoàn, kế đến là dân chúng tự động vào hàng. Lạ nữa, suốt một đoạn đường dài có đến hơn một giờ đi bộ, không một người nào trong ban tổ chức đến hỏi tôi, ông là ai, trong lúc cái máy hình trong tay tôi không ngừng quay sang trái, qua phải hay phía sau. Cứ thế, đoàn rước tiến bước dưới mưa nhẹ và những lời kinh tiếng hát vẫn ngân vang, không dứt.

Lạ nữa, đây là điều tôi chưa bao giờ thấy trong cuộc đời của tôi trên quê hương mình. Vị Giám Mục chủ tế đi rước kiệu, nhưng tự mình cầm lấy cái dù che mưa cho mình trong suốt cuộc hành trình đi qua nhiều khu phố dài gần hai tiếng đồng hồ. Trong suốt khoảng thời gian ấy, không có bất cứ một ai đến “nâng bi” cầm cái dù hay che võng lọng cho Ngài. Phục, phục, kính phục. Tôi chỉ có vài chữ này để mô tả về hình ảnh của vị Giám Mục trong nét thanh, sang, khoảng 55-60 tuổi chủ sự cuộc kiệu đêm hôm ấy. Xem ra hình ảnh này là việc thực hành ý nghĩa đời sống của Ngài chính là lời Chúa, thay vì lời giảng sang sảng trên tòa cao!

Mãi cho đến khi Thánh tượng lại được đặt xuống trên sân nhà thờ, nơi có cuộc khởi đầu, vị Giám Mục mới bỏ cái dù xuống. Ngài bước đến dâng hương và rước Thánh Tượng vào trong nhà thờ. Nhìn đồng hồ, đã 10 giờ đêm, tôi không quên nhanh chân theo Ngài vào trong thánh đường. Phần kiệu hoa và dân chúng cũng lần lượt nối gót, cùng vào sau đó…

Bảo Giang.

26-5-2019

Đã xem 122 lần

Tìm thêm video mà quí vị quan tâm.

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Phim hay mỗi ngày

Đăng ký qua Email để nhận được những bản tin mới từ Quán văn

Enter your email address to subscribe to this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 1,690 other subscribers

Be the first to comment

Tham gia bình luận