Bàn chuyện làm “phim” lịch sử!

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” [Không Quảng Cáo] – b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)

Một ngàn bài diễn thuyết,

không bằng một vở kịch, một cuốn phim hay?

Các sử gia Á Đông, kể cả Tư Mã Thiên, khi viết sử, thường chép lại những chuyện cung đình, tức là chuyện của các triều đại, như Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán, Tào, Thục, v.v… bên Tầu, còn như ở nước ta thì Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê…

Đào sâu hơn thì sử gia viết sơ về “văn trị, võ công”, hoặc các cuộc nổi loạn dưới các triều đại đó.

Đó là “Lịch sử triều đại”, không phải “Lịch sử Dân chúng”.

“Lịch sử Dân chúng” không có gì để viết, bởi vì, “cuộc đời không một chút đổi thay như trong tranh vẽ”. Câu nầy tôi trích lại trong “Xóm Giếng ngày xưa” của Tô Hoài, có lẽ ông viết về làng Sen, tên chữ là làng Nghĩa Đô, sát cạnh Hà Nội. Sát cạnh Hà Nội mà “không một chút đổi thay” thì nói chi tới những vùng xa xôi, “thâm sơn cùng cốc” như ngoài Bắc hay “kinh cùng rạch chẹt” ở trong Nam.

Thật ra thì cũng có một số nhiều tiểu thuyết và một ít hồi ký viết về đời sống dân chúng, nhưng đó chỉ là những hình ảnh rời rạc, câu chuyện rời rạc, không nói lên hết được toàn cảnh đời sống dân chúng, nhứt là đời sống dân quê như thế nào!

Kể ra, những cuốn tiểu thuyết thời tiền chiến như những tác phẩm của Hoàng Đạo, Trần Tiêu, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Ngọc Dao, Lê Văn Trương… ở ngoài Bắc hay Phi Vân, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bảo Hóa ở trong Nam phản ảnh tương đối trung thực, còn như các sách sau nầy, dưới chế độ Cộng Sản, thường có tính “phong thần” , huyễn hoặc. Ở phía Nam vĩ tuyến 17, vì tình hình an ninh, các cây bút viết tiểu thuyết chỉ quanh quẩn ở Saigon hay các thành phố lớn, nên họ viết “về người dân thành phố” nhiều hơn là viết về người nông dân

Thêm vào đó, mỗi cuốn sách, – tiểu thuyết hay phóng sự, hồi ký… cũng chỉ phản ảnh một giai đoạn ngắn ngủi nào đó, ở một nơi nào đó, có tính cá biệt, nhiều hơn là mang tính chất chung, có tính tổng quát cho xã hội Việt Nam.

Chính vì tính “phiến diện” đó mà người đọc cảm thấy thích thú hơn khi đọc “Ngàn Giọt Lệ Rơi” của bà Đặng Mỹ Dung.

Trong ý nghĩa đó, cuốn hồi ký nầy có tính cách “toàn diện” hơn.

Tôi không bàn tới giá trị văn học, kỹ thuật viết văn, văn tả tình, tả cảnh hay thuật sự của cuốn sách nầy. Công việc nầy khá phức tạp, người đọc phải bỏ công sức nhiều hơn, đọc nhiều hơn, kỹ hơn để làm công việc phê bình văn học.

Trong nhiều năm làm giáo sư môn văn chương cho học sinh đệ nhất và đệ nhị cấp (cấp 2 và cấp 3 bây giờ), mặc dù phải làm công việc phê bình “tác giả và tác phẩm”, nhưng công việc soạn bài giáo khoa (bây giờ gọi là giáo án) của tôi cũng khá sơ sài. Không phải là công việc “phê bình văn học” mà chỉ là giáo khoa, lại vì chương trình giáo dục hồi ấy, trong nhiều lớp, phải dạy nhiều tác phẩm cổ văn hơn kim văn, lại có nhiều sách giáo khoa của các giáo sư nổi tiếng ở Saigon soạn sẵn, nên ông thầy giáo ít có thì giờ soạn bài như tôi, thành ra cứ “xào nấu” vật liệu có sẵn, và tôi khó trở thành một người có khả năng cao khi viết phê bình văn học.

Tuy nhiên, vì cũng là môt người dạy sử nên khi đọc “Ngàn Giọt Lệ Rơi”, tôi có một nhận xét về tác phẩm đặc biệt nầy. Tác phẩm có “liên hệ” tới một thời kỳ dài trong lịch sử hiện đại của nước ta.

Nói rõ ra, câu chuyện của bà Đặng Mỹ Dung bắt đầu từ trước 1945, là câu chuyện ông Đặng, thân phụ tác giả, bị Tây bắt bỏ tù, “đày Côn Đảo” trước khi cuộc “Cách Mạng Tháng Tám” nổ ra.

Đối với dân chúng thời ấy, những người hoạt động chống thực dân Pháp, đều gọi là “người làm cách mạng”, không phân biệt đảng phái nào, đảng Quốc gia hay Cộng sản.

Câu chuyện tiếp sau, sau khi ông Đặng tham gia Việt minh, với tính cách là một đảng viên Cộng sản, không chỉ là sự phân hóa mà chính là tàn sát lẫn nhau, do Việt minh chủ xướng, tạo nên sự chia rẽ dân tộc, kéo dài cho tới bây giờ.

Đây là một sự kiện hết sức quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Đất nước chiến tranh triền miên, phân rẽ dân tộc, giết chóc lẫn nhau, “ôm chân đế quốc”, “làm tay sai”- đế quốc Xanh cũng như đế quốc Đỏ, là từ đây, từ chủ trương bất dung chấp của Cộng sản Việt Nam.

Năm 1869, khi ông Hồ Chí Minh qua đời ở ngoài Bắc, thì ở trong Nam, nhà văn Nguyễn Ngu Í thực hiện một cuộc phỏng vấn các nhà hoạt động chính trị, những nhà trí thức, khoa bảng, các nhà báo, tiểu thuyết gia… về con người ông Hồ Chí Minh, công hay tội, hay hay dở… Câu trả lời của ông Võ Phiến, theo tôi nghĩ là hay nhất, có phải ông ta “ở trong chăn nên biết chăn có rận” chăng? – Suốt trong cuộc Chiến tranh Đông dương lần thứ nhứt, ông ở Bình Định, – “vùng Việt Minh”, lại từng có lần bị Việt minh bỏ tù.

Ông Võ Phiến nói, đại ý, nếu năm 1945, ông Hồ Chí Minh không chủ trương “tiêu diệt” các đảng phái Quốc gia, mà đoàn kết với họ, cùng nhau chống Pháp, giành độc lập, thì nước ta đã độc lập từ lâu, đất nước phát triển, giàu mạnh từ lâu, đâu có thua gì Nhât Bản. Độc giả nhớ giùm, năm đó, 1969, Nhật Bản đã là một “cường quốc kinh tế” rồi.

Thế rồi ông Đặng đi sâu với Cọng sản, trở thành một đảng viên cao cấp trong hang ngũ những người miền Nam theo Cộng sản. Sau hiệp định Genève 1954, ông “tập kết” ra Bắc, bỏ lại vợ, bỏ lại con, bỏ lại cha mẹ, xóm làng, quê hương… cho mãi đến sau 1975.

Trong khi đó thì gia đình ông từ bỏ bưng biền, trôi nổi về Cần Thơ. Các con ông lớn lên trong chế độ Cộng hòa, trong cuộc chiến tranh tàn khốc, “phục vụ” cho chính quyền miền Nam, làm sở Mỹ và nhiều biến cố đau thương, phân ly xảy ra, v.v… và v, v…

Các con ông bị “kẹt giữa hai lằn đạn” – hữu hình cũng như vô hình. Hữu hình là súng đạn, là bom… từ ngoài đem vào xử dụng ở miền Nam, của Mỹ, cũng như của Nga, Tầu. Vô hình là “súng đạn” của ông ngoại và người cha. Người cha – ông Đặng – thì “thần tượng hóa” Hồ Chí Minh. Ông ngoại thì gọi Hồ Chí Minh bằng “Thằng chó đẻ”. Chị em bà Đặng Mỹ Dung “tránh đạn” bằng cách nào? Có lẽ không bằng cách nào cả, ngoài sự chịu dựng, bởi vì sự đối nghịch giữa cha và ông ngoại đạt tới mức cùng cực, “đỉnh điểm” như người ta thường nói.

Sự đối nghịch như thế là “không còn đường lui”. Gọi một người “đứng đầu một đảng” là chó đẻ còn thấy mức “tương đối”, nhưng gọi một người đứng đầu một “nước” như thế là “tột cùng”. Trong khi đó, một người như ông Đặng bỏ hết: vợ con, cha mẹ, bà con, xóm làng, quê hương, “ra ngoài kia theo đảng”, cũng là đi con đường một chiều, không có đường quay trở lại nữa.

Sự mâu thuẫn không chỉ ở thế hệ trước, giữa ông ngoại và thân phụ người viết, mà còn “dây dưa” đến thế hệ sau, giữa người cha và các con của ông.

Mặc dù vẫn thương, vẫn nhớ, nhìn nhau “qua nước mắt”, lần trước ở Nhựt, lần sau ở Paris, nhưng con đường tàu vẫn cứ song song hay rẽ về những phía đối nghịch nhau, không thể “đi chung” được.

Trách ai?

Sau 1975, “ông ngoại” qua đời rồi (?), chỉ còn lại người cha, người mẹ và các con, nhưng tại sao họ không sum họp? Bởi vì người cha không còn là người Việt Nam. Ông là con người của “Cộng sản Quốc tế”. “Lý tưởng Cộng sản” buộc ông như vậy. Ông “ra khỏi” “con người dân tộc”, ông là người của “nhân dân thế giới”; trong khi đó thì các con ông, dù “lấy chồng Mỹ”, sinh con lai Mỹ, thậm chí có cả “quốc tịch Mỹ”, nhưng vẫn tự coi mình là “người Việt Nam”.

Căn bản của sự mâu thuẫn là ở chỗ nầy, giữa những người Cộng sản và những người không phải là Cộng sản. Nó không phải chỉ ở gia đình một người, gia đình của bà Đặng Mỹ Dung mà ở rất nhiều gia đình Việt Nam. Sự phân ly dân tộc là ở đó, nét đặc biệt của xã hội Việt Nam kể từ khi Cộng sản xuất hiện là ở đó. Tội lỗi không phải ở những người Quốc gia, mà chính là ở những người Cộng sản.

Đặc biệt, trong “Ngàn giọt lệ rơi”, những “mâu thuẫn cực đoan” đó gặp nhau, trong một gia đình, giữa cha và con. Không mắng chưởi nhau, không thù ghét nhau, là cái quý nhất của “gia đình Quốc/ Cộng” nầy.

Dân tộc ly tán, gia đình ly tán, là lỗi tại ai. Không thể đổ thừa cho “chén chao lú” mà lỗi ở “người muốn ăn chén cháo lú” vậy.

Nếu muốn có vài chi tiết nhỏ nhặt để làm cho cuốn phim có chút vui vui, tác phẩm nầy cũng không thiếu. Đó là câu chuyên hai đứa bé tinh nghich, uống lén rượu của ông ngoại, rồi đổ thêm nước lạnh vô cho đầy như cũ. Ông ngoại uống vô là biết ngay, và những trò vui tự nhiên, khi tác giả còn bé, theo cha ở trong bưng biền.

Hôm Tết Mậu Thân, xe Quân Cảnh Mỹ đến đón tác giả đi làm, giữa lúc súng đạn ầm ì hai bên đánh nhau dữ dội, cũng đủ để đạo diễn khai thác, làm cho khán giả hồi hộp, giống như cảnh thành phố Atlanta trong biển lửa, khi quân Bắc Mỹ tấn công vào thủ phủ của miền Nam vậy.

Câu chuyện của bà Đặng Mỹ Dung khác với nhiều hồi ký khác, phần nhiều kết thúc ở biến cố đau đớn 30 tháng Tư 1975, như hồi ký của ông Đỗ Mậu, ông Trần Văn Đôn, ông Tôn Thất Đính… Đó là chưa kể “tính chất cung đình” như tôi có trình bày ở đầu bài.

Cuộc chiến đấu – nếu muốn nói như thế – của bà Đặng Mỹ Dung lâu dài hơn, tới sau 1975 những mấy năm, không phải vì sự hận thù nào khác, như tính chất “hận thù” của “chủ nghĩa Mác”. Có lẽ bà Đặng Mỹ Dung cũng muốn chấm dứt cho mau những điều đã làm cho bà đau khổ, gia đình ly tán, không bao giờ có thể sum họp, mặc dù súng đạn đã ngưng. Nhưng bà không thể nuốt lời hứa với những người – với những người, tôi xin nhắc lại – đã cứu mẹ và em bà trong những ngày “dầu sôi lửa bỏng” miền Nam hấp hối. Và “trả nghĩa cho chồng”, đi con đường ngược chiều, trở lại miền Nam, trong khi hàng vạn người đang tìm cách trốn chạy khỏi nơi đó, để mong thoát thân. Cái nghĩa đó của ông Krall, đối với vợ không phải là nhỏ, khi ông xem nhẹ tính mạng của ông, để thực hiện nguyện vọng tha thiết của vợ ông.

Nói cho cùng, việc tiếp tục chiến đấu của bà không phải không có những nghiệp quả nghiêm trọng: Những năm tù dài của David Trương và người Mỹ cùng sở với Trương, và đặc biệt là cái chết của ông Đinh Bá Thi, mặc dù, người tạo nên cái chết ấy, chính là “do Cộng sản giết nhau”.

Nói chung, gấp sách lại, nhìn lui một quá trình từ ngày ông Đặng Văn Quang “đi tù Côn Đảo”, đến lúc “bức màn lịch sử” hạ xuống sau vụ án David Trương, có lẽ cũng như mọi người, tôi thấy lòng tôi ngậm ngùi một cách sâu lắng, không phải chỉ cho gia đình bà Đặng Mỹ Dung mà cho tất cả gia đình Việt Nam, gánh chịu sự ly tán đau đớn nầy, trong đó có cả gia đình tôi, anh em tôi vậy.

&

Tôi được điều may mắn xem vài phim lịch sử, thích thú với những cuốn phim nầy: “Gone with the wind” về cuộc nội chiến Mỹ, “Giant” nói về sự vĩ đại của nước Mỹ khi nó chuyển mình thay đổi từ “nuôi bò” qua “khai thác dầu lửa”, hay nói theo cách của các nhà kinh tế là từ “một quốc gia nông nghiệp” sang “công nghiệp” hay “The longest Day” hay “Saving Private Ryan”. Do đó, nếu dựa trên “Ngàn Giọt Lệ Rơi” để soạn hành phim, chúng ta sẽ có một cuốn phim tương đối phản ảnh được nhiều mặt về lịch sử chiến tranh Việt Nam, kéo dài hơn ba mươi năm, về những nỗi đau khổ chồng chất, triền miên của dân tộc Việt Nam, bên nầy cũng như bên kia chiến tuyến.

Cuốn phim “Ngàn Giọt Lệ Rơi”, – nếu có được như thế – sẽ là cuốn phim có được nhiều nét đặc sắc. Nó chiếm một chiều dài lịch sử dài nhất, từ trước cái gọi là “Cách mạng Tháng Tám”, có nghĩa là trước khi cuộc “Chiến tranh Đông dương lần thứ nhứt” xảy ra, và chấm dứt sau biến cố 30 tháng Tư nhiều năm. Không những nó phản ảnh một phần “lịch sử cung đình”: vua Bảo Đại thoái vị, cũng như những quyết định quan trọng, tàn nhẫn và oan nghiệt về việc “chiếu cố miền Nam” của Bắc bộ phủ, mở ra chiến tranh xâm lược miền Nam của Cộng sản Bắc Việt, hay những biến cố và quyết định của chính quyền miền Nam, thành lập hai nền Cộng Sản và lệnh Tổng Dộng Viên, đưa hang vạn thanh niên miền Nam ra trận chống lại cuộc chiến do Cộng sản Bắc Việt phát động, v.v… Điều đặc biệt nhất, đây là lịch sử của dân tộc, bởi vì những gì đau thương, ly tán, mâu thuẫn, xung khắc… xảy ra trong gia đình bà Đặng Mỹ Dung chính là những gì đã xảy ra cho hàng vạn, thậm chí hàng triệu gia đình Việt Nam, đặc biệt là những gia đình ở phía nam vĩ tuyến 17.

Nó cũng hiện diện đâu đó, khi rõ, khi mờ hình ảnh của những người “chỉ huy” của Đế quốc Đỏ hay Đế quốc Xanh, làm cho người xem thấy được tính chất “quốc tế” trong cuộc xung đột mang tính “quốc gia” của dân tộc Việt Nam, mặc dù đất nước chúng ta có nhiều cuộc “nội chiến” nhưng chưa bao giờ đậm nét “tay sai”, “ủy nhiệm” của một cuộc chiến tranh lạnh như trong cuốn hồi ký nầy.

Có thể gia đình bà Đặng Mỹ Dung, tuy đã đổ nước mắt nhiều cho những nỗi khổ đau đã xảy ra cho gia đình bà, tới hay không tới “ngàn giọt lệ” như đầu đề cuốn sách, nhưng nếu đặt những giọt lệ đó vào những gia đình Việt Nam với hoàn cảnh như gia đình bà Đặng Mỹ Dung, thì con số “ngàn giọt lê” phải cao hơn nhiều. Biển Thái Bình Dương có đong đầy những giọt nước mắt của một dân tộc đứng bên bờ đại dương nầy!

Phải chi tôi trúng một cái Mega Million để có tiền thực hiện cuốn phim nầy. Dĩ nhiên, chỉ mới nói về tính cách lịch sử, đó là cuốn phim hay. Về các mặt khác, thuộc về các người khác: biên kịch, đạo diễn và tài tử. Và tôi tự cười thầm khi chợt nghĩ “Ai sẽ là người đóng vai cô Mỹ Dung”

Tháng 8 năm 2018

hoànglonghải

 

Đã xem 7490 lần

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.