Đầu năm 1974

Tài liệu của CIA : “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự.  Nhưng … . kết quả chỉ đưa tới bí lối” ( Frank Snepp, Decent Interval, trang 95 ).

John Murray là Tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam. Từ đầu năm 1974 ông và Bộ tham mưu của ông phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975.  Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là mức viện trợ có thể dưới 700 triệu đô la; nhưng theo tính toán của Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Ngày 16-8-1973 John Murray họp buổi họp chót với Tướng Cao Văn Viên và một số tướng lãnh của Bộ TTM.  John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2, và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4 tùy theo mức viện trợ quân sự của Mỹ. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Giữa năm 1974

Giữa năm 1974, Tổng thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô.  Đây là kết quả thương lượng ngầm giữa Nixon và LX vào năm 1972.  Năm đó Nixon nhờ Liên Xô ép buộc Hà Nội phải đình chiến và ký hiệp ước ngưng bắn.  Để đổi lại, Mỹ sẽ mở cửa trao đổi thương mại với LX.

Quốc hội Mỹ đoán biết còn nhiều thỏa thuận ngầm khác nữa giữa Nixon và LX cho nên họ bác bỏ thẳng thừng bản dự thảo Hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác.  Dĩ nhiên Nixon dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Nhưng các đối thủ của Nixon có một cách khác, đó là triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén Watergate; các công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa, và cả Hà Nội vào năm 1972.

Nixon đành phải từ chức để khỏi phải ra tòa bởi vì ông đã lén thỏa thuận với đối phương mà không xin phép Quốc hội.  Một khi Nixon từ chức thì chính phủ Mỹ sẽ không phải chịu trách nhiệm về những cam kết riêng của cá nhân ông.

Trước đó Nixon cũng sắp xếp cho Phó tổng thống Spiro Agnew từ chức để cho sau này chủ tịch Hạ viện Geral Ford lên thay chức Tổng thống mà không phải chịu trách nhiệm về những gì Nixon đã ký kết riêng. ( Nếu Agnew thay Nixon thì chính phủ Mỹ vẫn phải chịu trách nhiệm về những ký kết của TT Nixon trong thời gian Agnew làm Phó cho Nixon ).

Sau khi Nixon từ chức, Quốc Hội HK ra đạo luật cắt giảm viện trợ quân sự cho VNCH trong tài khóa 74-75 xuống còn dưới 1 tỉ đô la, nghĩa là chấp nhận cho VNCH sụp đổ. Rồi 9 ngày sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội HK biểu quyết chung cuộc ngân sách 74-75 cho VNCH là 700 triệu thay vì 1 tỉ.  Nhưng theo tính toán của Ngũ Giác Đài ( Tướng John Murray ) thì với 700 triệu VNCH chỉ giữ được Vùng 4.

Cùng ngày đó tại Hà Nội, Lê Duẩn ra lệnh cho Tướng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch đánh chiếm Miền Nam.  Nghĩa là Lê Duẩn hiểu số tiền “bổi thường chiến tranh” của Nixon trở thành mây khói.  Giờ đây Kissinger chỉ có thể giúp HN chiếm lấy Miền Nam để bù lại việc HN chịu ký kết Hiệp định Paris mà không nhận lại được một chút gì như Nixon đã từng hứa hẹn trên giấy trắng mực đen.

Hà Nội cay đắng 

Sau khi bác bỏ dự luật trao đổi thương mại với LX, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật Jackson- Vanik, cấm chính phủ Mỹ buôn bán với các nước Cọng sản.  Nghĩa là những cam kết của Nixon tại Mạc Tư Khoa vào năm 1972 sẽ không bao giờ được thi hành.  Vì vậy mà cuối năm 1974, Đại tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để thúc giục Hà Nội gây chiến trở lại.

Theo như 7 mục, 23 điều khoản  của Hiệp định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH với điều kiện VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt.  Trong khi đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam.  Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp định Paris vô lý như vậy cho nên giới quan sát quốc tế đoán là bên trong phải có một mật ước riêng.  Quả nhiên sau này vào ngày 19-5-1977 Tổng thống Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp định Paris 1973.  Và đến tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố trên đài phát thanh toàn văn bản mật ước đó.

Theo tinh thần bản mật ước thì Mỹ sẽ chung cho Hà Nội 3,25 tỉ USD viện trợ tái thiết Bắc Việt sau chiến tranh. Và viện trợ bước đầu 1,5 tỉ USD cho kế hoạch hỗ trợ phát triển kinh tế hậu chiến của Bắc Việt. ( Tài liệu của CSVN :  Lưu Văn Lợi, Những Cuộc Thương Lượng Giữa Lê Đức Thọ & Kissinger Tại Paris, phát hành năm 1998 ).

Chính vì mật ước này mà Nixon mạnh dạn ký một mật ước khác với Nguyễn Văn Thiệu, cam kết sẽ tấn công Bắc Việt nếu Hà Nội vi phạm Hiệp định Paris 1973. Nixon biết chắc Hà Nội không dám gây chiến trở lại bởi vì LX và TC đều đã ngưng viện trợ vũ khí, Hà Nội không còn khả năng theo đuổi chiến tranh;  họ bắt buộc phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định để được hưởng số tiền bồi thường chiến tranh của Mỹ trên danh nghĩa giúp đỡ tái thiết và phát triển.

Tuy nhiên toan tính của Nixon thất bại vì Quốc hội Mỹ nhất định không chi một đồng nào cho Hà Nội, viện lý do theo Điều khoản 21 của Hiệp định Paris thì Mỹ chỉ “hứa” viện trợ tái thiết Bắc Việt là vì nhân đạo chứ không phải là một điều kiện bắt buộc của Hiệp định. Thực ra QH Mỹ không chi một đồng nào là để ép buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận ngầm giữa Nixon với Hà Nội đằng sau HĐ.Paris.

Và rồi cuối năm 1974 Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp định Paris coi như tờ giấy lộn.  Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào,  suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không ( sic ).

Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt.  Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức. Trong 5 năm nay nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng.  Bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16.  Tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa…  thì lấy đâu ra nhân lực để gây chiến trở lại, cho dầu Liên Xô tái cung cấp vũ khí và chiến phí.

Sài Gòn hoang mang

Ngày 24-12-1974, trong một buổi tiệc mừng Giáng sinh được tổ chức Tại Bộ Tổng tham mưu.  Tướng Smith, Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự Mỹ tại VN tiết lộ :

 “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu Mỹ kim để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” ( Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264 ).

Rõ ràng kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được Mỹ lên giàn vào cuối năm 1974 chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột.  Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975,  kể cả ước tính trước số tiền chi dụng cho kế hoạch.

Và ngày 23-2-1975 một phái đoàn Quốc hội Mỹ sang VN để thăm dò tình hình chiến sự. Tổng thống Thiệu yêu cầu Phòng tình báo của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại VN (DAO) chuyển cho ông những tin tức về tình hình tiếp tế, tiếp viện của CSVN trong năm 1973 và năm 1974 để ông thuyết trình cho phái đoàn Mỹ.

Ngày 20-2-1975 TT Thiệu nhận được bản phân tích do Trưởng phòng tình báo Mỹ tại VN là Đại tá William E.Legro chuyển qua Phòng tình báo Bộ TTM như sau : “Năm 1974 Hà Nội nhận được 3 triệu 800 ngàn tấn hàng ( Nguyễn Tiến Hưng, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, trang 763 ).

Đây là con số bịa đặt khổng lồ mà Legro đưa cho Tổng thống Thiệu để cho “Phái đoàn Quốc hội Mỹ  nghe được thì “dông một mạch không ngoái đầu trở lại”;  và về tới Mỹ thì dứt khoát bỏ quách VNCH cho xong.  Mọi người đều hiểu rằng Hà Nội chỉ cần chuyển một nửa hay một phần tư số đó vào Nam thì Miền Nam sẽ “chìm xuống dưới mặt biển Thái Bình Dương” (sic).

Nhưng sự thực thì sao? Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng Quân đội CSVN cho biết : “ Về mặt hàng quân sự và dân dụng, năm nay ( 1974 ) Trung ương sẽ chi dụng cho B.2 tổng cộng là 22.000 tấn, trong đó có 12.000 tấn hàng quân sự” ( Những Năm Tháng Quyết Định, trang 86 ).

B.2 là mặt trận lớn nhất của Trung ương Cục Miền Nam, còn 3 mặt trận kia chỉ bằng một nửa B.2.  Nhưng cho tính là bằng nhau đi nữa thì cao lắm cũng chỉ là 100 ngàn tấn.  Lấy 100 ngàn tấn so với 3 triệu 800 ngàn tấn theo báo cáo của CIA thì rõ ràng là bịa đặt nhằm làm cho QH Mỹ đi tới quyết định bỏ rơi VNCH.  Và cũng làm cho Tổng thống VNCH không còn lòng dạ đâu mà lên kế hoạch chống đỡ.

BÙI ANH TRINH

Xin Lưu ý: Công cụ "Tìm Kiếm Video" [Không Quảng Cáo] b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)