Sau hơi thuốc lào dãn phổi, Bảng đứng dậy, nhịp nhàng vỗ đôi tay vào nhau:

 – Báo cáo làng nước đã hết gìơ nghỉ. Yêu cầu làng nước tranh thủ trở lại lao động đi cho!  

Tiếp theo tiếng nói và nhịp điệu gần như quen thuộc của Bảng. Các xã viên thuộc hợp tác xã Xuân Thủy, chỗ tụm năm nơi túm ba, bắt đầu lom khom làm các động tác cần thiết khi đứng dậy. Người, với tay cầm lấy cái nón rách tả tơi đội lên đầu. Kẻ khác, đưa tay lại phía sau lưng, vỗ bèn bẹt trên đít quần vài ba cái cho rơi bớt bụi cát, uể oải chống tay trên cán cuốc, cán cào, lững thững bước từng bước chậm rãi trở lại nơi làm việc. Lại có người vẫn ngồi lỳ trên bờ cỏ, hút cho xong điếu thuốc dở, trước khi bước hẳn xuống cánh Đồng Cạn đang kỳ nắng hạn.

Theo cùng một nhịp điệu nhưng nhanh nhẹn hơn, Bảng cúi xuống xăn cao ống quần lên trên đầu gối, rảo bước dọc theo các bờ ruộng phân chia trên cánh đồng. Khi đi, Bảng ngửa cổ lên nhìn trời, rồi nhìn các xã viên bằng ánh mắt đầy mãn

nguyện. Bảng mãn nguyện bởi vì:

– Thứ nhất, trải rộng dưới tầm mắt Bảng và trên khắp cánh đồng kia, chỉ có một màu xám đen. Một loại màu rất khó phân biệt giữa da người và màu đất bùn! Như thế, nhờ cách mạng, cái phồn vinh gỉa tạo không đồng đều, lắm màu sắc của Xuân Thủy trong thời trước đã thực sự bị đẩy lùi vào dĩ vãng. Ngày nay, nó được thay thế bằng màu nâu xòng, màu xám đen, màu đất bùn của xã hội mới. Nói cách khác, nhờ xã hội chủ nghĩa, màu da của nhân dân đã được đánh bóng ngang với màu đất. Có khác, chỉ là sự biết di động.

– Thứ hai, Xuân Thủy ngày nay có một dạng thức tiêu điều đói rách bằng nhau. Xuân Thủy không thể trở lại, hoặc tái diễn cảnh sức lao động của bần nông bị các tay địa chủ, phú hào bóc lột như xưa. Lý do, dọc theo cánh đồng từ người xa đến kẻ gần, người cày hay kẻ cuốc, đàn ông hoặc đàn bà, đều nằm trong danh sách bảo quản lao động chính hay phụ của nhà nước.

– Thứ ba, nhờ Việt Minh làm giải phóng, Xuân Thủy ngày

nay đã xuất hiện một bản trường ca mới. Nhờ bản trường ca này mà các xã viên trong hợp tác xã của nhà nước đã biết kéo cày thay trâu, và công điểm được tính ngang hàng với con bò, không được tính ngang hàng với bác.

Khi nhìn những hình ảnh vui mới lạ này, Bảng thích chí bật cười rồi thêm phục nhà nước. Bởi lẽ, nhà nước đã khôn ngoan giao cái cày, cái cuốc cho những người làm chủ đất nước. Và biết trao con dao mã tấu vào tay những kẻ đầy tớ, nô bộc của nhân dân là các đảng ủy viên. Từ dạo đó, bất kể ngày đêm, đi đâu người ta cũng thấy cảnh dép râu, mã tấu, ồn ào, tấp nập như mở hội để vào thiên đường.

Dĩ nhiên là khi vào thiên đường xã nghĩă, người ta chỉ thấy ánh cờ đỏ như máu dính trên tay đảng và hồng lên trên mặt bác. Rồi xuyên suốt nửa chiều dài của đất nước từ ải Nam Quan cho đến bờ vĩ tuyến 17, người ta không thể tìm ra được một niềm vui nào, ngoại trừ một cảnh mới trước mặt: Nhà hoang, chợ trống, đường vắng, đồng khô không bóng trâu cày. Riêng phận người làm chủ đất nước thì lặng lẽ như những bóng ma biết di động cả ngày lẫn đêm.

Nói thì như thế, nhưng thật ra, nhà nước cũng biết sáng chế ra một vài trò chơi vui mới lạ để thay thế cho những sinh hoạt buồn nản trong xóm thôn. Trước hết, một lũ trẻ là con cháu các nhà cách mạng Việt cộng được nhà nước quàng cho cái khăn đỏ, rồi xua chúng đi hết từ đầu trên đến xóm dưới hò hét, hô vang các khẩu hiệu lẫy lừng của nhà nước. Nếu bất cứ ai nhỡ mồm chống lại chúng, lập tức chúng sẽ đeo cho kẻ dại dột ấy một cái tội danh họ chưa một lần nghe thấy trong đời. Tội phản động, tội phản cách mạng. Nghe xong tội danh ấy, người dân lành kia có thể an tâm mà về nước… thiên đàng!

Kế đến, hộ khẩu nào có vài sào ruộng, con trâu, cái cày thì rủ nhau lên nằm như ăn vạ ở văn phòng hành chánh xã để khẩn thiết xin… dâng tài sản cho nhà nước. Khổ một nỗi, cán bộ nhà nước là những kẻ chỉ thuộc nằm lòng năm ba câu giáo điều của bác đảng, rồi nhờ đường dao mã tấu để nên quan, còn phần chữ nghĩa thì rặn cả ngày không ra. Kết qủa, có người đi lên đi xuống hàng trăm lần, lá đơn tình nguyện xin biếu không tài sản cho nhà nước vẫn chưa được duyệt xét. Đơn từ chưa xong thì đi ra đi vào lo lắng. Kẻ nào may mắn làm xong lá đơn thì mặt mày hớn hở như vừa trúng số.

Sự vui mừng của người bất hạnh khá đơn giản. Đất đai nhiều đời của họ từ nay thuộc về tay nhà nước quản lý. Riêng người chủ cũ được nhà nước đền ơn, trao vào tay họ cái cuốc cái cày đi làm công. Hơn thế, nhà nước còn ưu ái, gạt cái tên của họ ra khỏi danh sách phú nông địa hào, rồi ghi tên họ vào bảng vàng bao gồm những người làm chủ và lãnh đạo đất nước. Từ đó, chả cần phải giải thích thêm, những người đã làm chủ đất nước thì lo gì thiếu lộc để mà hưởng.

Lý luận sắc bén vững chắc là thế, những tưởng mọi người sẽ hồ hởi tham gia vào chính sách. Nào ngờ, hơn một năm sau khi làm đúc kết, cán bộ Xuân Thủy mới phát hiện ra được một hộ có của ăn, của để mà không muốn ghi tên vào danh sách hưởng lộc của nhà nước. Người đó là ông Trần Lục.

Sở dĩ, ông Lục lờ đi trước việc phải hiến dâng tài sản cho nhà nước. Hoặc giả, làm ngơ không hay biết gì đến chính sách cải cách ruộng đất của nhà nước, cũng như chưa gia nhập vào hợp tác xã Xuân Thủy là vì ông có cái lý của ông:

– Thứ nhất, nhà nước đã phạm sai nhầm lớn trong chính sách cải cách ruộng đất. Tài sản nhiều đời của người ta nhà nước không thể dùng con dao mà đến lấy một cách nhưng không như vậy được. Vẫn biết thời nào có luật lệ của thời ấy. Nhưng lấy của nhân dân như thế thì không thể được. Ngay như bản thân ông, vài ba sào ruộng ông có là do chính mồ hôi của vợ chồng ông đổ ra trong một nửa đời người mới mua được. Nay bảo ông làm đơn biếu không thì cứ… từ từ rồi tính, đi đâu mà vội.

– Thứ hai, việc gia nhập hợp tác xa, theo lời cán bộ hướng dẫn trong học tập là do sự giác ngộ, và tự nguyện của quần chúng nhân dân. Việc ông chưa gia nhập hợp tác xã chắc không phải là một cái tội. Bởi lẽ, ông chưa gia nhập vì ông chưa giác ngộ.

– Cái lý do thứ ba quan trọng hơn. Ông Lục thuộc diện gia đình liệt sĩ của nhà nước. Ông có người con lớn và người em ruột đã hy sinh trong kháng chiến. Đánh tây xong rồi, lộc ông chưa được hưởng, có lý nào nhà nước lại vơ hết ruộng đất của ông?

Theo đó, đã nhiều lần ông nghe biết chuỵện các cán bộ trong chi bộ Xuân Thủy bắn tiếng xa, tiếng gần về trường hợp của ông, ông vẫn không một thắc mắc. Trái lại, ông còn cười thầm trong bụng vì cái khờ khạo, ngu dốt của lớp cán bộ nhà nước. Chúng làm cán bộ nhưng không thông suốt chính sách bằng ông.

Trong khi đó, Nguyễn văn Bảng, chủ nhiệm hợp tác xã Xuân Thủy lại cho rằng ông Lục lập luận như thế là sai nhầm, là kém hiểu biết. Bởi lẽ, dân không thể hơn cán. Nếu ông ta không thuộc diện có công với đảng, với nhà nước, Bảng đã đóng gông vào cổ ông ta lâu rồi, chứ có lẽ nào Bảng phải hạ mình đến tận nhà ông ta để giảng giải, cắt nghĩa cho ông ta nghe về đường lối, về chính sách cải cách ruộng đất của nhà nước. Đã thế, Bảng quên làm sao được câu chuyện vợ chồng ông ta đã ương ương giả nhời Bảng:

– Ông chủ nhiệm tính như thế cũng là phải, để rồi từ từ tôi sẽ bàn lại với nhà tôi. Vì thưa thật với ông, lúc này nhà tôi đơn chiếc lắm. Tôi cần đến con Mễ (tên ông Lục đặt cho con trâu) trợ giúp tôi đôi ba phần việc trong ngày mùa thôi, còn chính sách của nhà nước đề ra, ai mà dám chống. Tôi nói như thế có đúng không hả ông chủ nhiệm?

Nghe xong câu hỏi, Bảng đứng phắt dậy, rời nhà ông Lục. Cơn giận chưa nguôi, gã quay lại, lẩm bẩm một mình:

– Lão ỷ mình là gia đình liệt sỹ để chống đối ta chăng? Há lão ta không biết rằng đã sống trong thời đại của bác thì diện liệt sỹ, hay liệt… dương có khác gì nhau? Đảng chưa ra độc chiêu với lão ta không phải vì sợ, nhưng vì không muốn cho người ngoài nghĩ nhầm, đánh gía sai lạc là đảng vắt chanh bỏ vỏ đấy thôi. Tuy nhiên, Bảng vung một cánh tay lên cao, gằn dọng: Để xem lão ta còn gỉơ thói ngoan cố này được bao lâu nữa? Cứ gọi là sẽ biết tay ông chủ nhiệm này.

Ông chủ nhiệm này chính là Nguyễn văn Bảng. Bảng leo lên đến chức chủ nhiệm hợp tác xã Xuân Thủy, không phải vì Bảng là người có văn bằng phó tiến sỹ, hay phó tướng chỉ huy tại mặt trận. Gã vốn dĩ là một phục viên sau chiến dịch Điện Biên. Gặp thời cải cách ruộng đất, gã được nâng lên chức đội trưởng đội đấu tố ở Xuân Thủy. Rồi nhờ đường dao đấu tố, Bảng đã thênh thang bước vào con đường hoạn lộ với bác, với đảng.

Dĩ nhiên, khi bước vào con đường hoạn lộ này, Bảng không khi nào quên một trong những người bị đấu tố đã đưa Bảng đi vào lịch sử của đảng Vẹm (Vẹm là chữ ghép của hai chữ V và M. Nó chính là chữ viết tắt của tổ chức mang cái tên là :Việt Nam cách mạng đồng minh hội”, gọi tắt là Việt Minh. Các làng tề, làng chống cộng ở ngoài bắc đã nhất loạt gọi tổ chức này là bọn Vẹm. Nó vừa là ngụy ngữ để ám chỉ bọn Việt Minh, vừa có ý cho người ta thấy được cái mặt thật của bọn bất lương, thổ phỉ, cướp của giết hại dân, đối kháng trực tiếp với những tổ chức cứu quốc của người quốc gia). Đó là ông Bính, bố vợ của Bảng.

Dĩ nhiên, cái chết của ông Bính, có nhiều người nói ra nói vào mai mỉa Bảng. Nhưng, theo lý luận của nhà nước mà đội trưởng Bảng là đại diện, ông Bính, bố vợ Bảng phải chết như thế là đúng sách. Lý do:

– Ông Bính là một phú hộ có tới năm mẫu ruộng cấy lúa và ba dàn trâu cày. Ông Bính đã dùng năm mẫu ruộng này cho tá điền thuê mướn với gía cao. Dùng ba dàn trâu kia để bóc lột sức lao động của các bần cố nông, trong đó có chính bản thân Bảng.

– Lý do thứ hai quan trọng và đáng tội chết hơn. Trước đây ông ta dám phản đối việc gả con gái của ông ta cho cán bộ của nhà nước.

Bảng còn nhớ, trước ngày từ gĩa con trâu cái cày để đi làm cách mạng, Bảng đã phải lòng con gái ông Bính. Là thân tá điền, Bảng tự biết không thể nhờ người mai mối đến hỏi cưới Nụ theo kiểu thách cưới của nhà giàu. Đến khi tình yêu vụng trộm của Bảng và Nụ lên men và bốc khói dưới chân đống rơm thì đổ bể. Khi đổ bể, ông Bính đã thiếu… suy nghĩ, gọi Bảng đến mắng nhiếc rồi đuổi Bảng ra khỏi hàng ngũ tá điền của ông.

Sau khi nghe rõ nhời chói tai của ông Bính, Bảng ra đi biệt xứ. Không ngờ, sau ngày Việt Minh chiếm được miền Bắc, Bảng trở về quê cũ như một anh hùng trong chiến dịch Điện Biên. Khi ấy, dầu không muốn, nhiều người đã phải nhìn Bảng bằng con mắt đầy tôn kính. Riêng ông Bính lại như người không có mắt. Ông ta ỷ mình có chút tiền của, tiếp tục miệt thị khinh khi, nhất định không chịu gả con gái cho nhà cách mạng Nguyễn văn Bảng. Bảng phải nhờ một người trong chi bộ đến động viên, ông Bính rét nên đành gật đầu. Việc làm của ông, theo Bảng, rõ ràng là một hành động cố ý áp bức các bạn bè tốt của bác. Do đó, bác không tha và Bảng chẳng khi nào quên.

Kịp đến lúc chính sách đấu tố phú nông địa hào về đến Xuân Thủy, Bảng đã kiên quyết đề bạt tên ông Bính vào danh sách cường hào ác bá. Kết qủa, ông Bính đã nhận một nhát mã tấu ân huệ của nhà nước. Sau ngày ông Bính nhắm mắt lìa đời, Bảng đại diện ủy ban đến kiểm tra tài sản của ông để giao nộp cho hợp tác xã. Khi đi đến chân đống rơm cuối vườn, Bảng tần ngần đứng lại. Gã nhớ đến chuyện xưa, chuyện một đêm không trăng không sao với thị Nụ,

Hôm ấy, khi màn đêm vừa buông xuống, Bảng vội vã ra khỏi nhà với một gánh hành trang khiêm tốn gồm cái điếu cày, cái đèn bật và gói thuốc lào. Sau khi đứng nhìn trời đen thẳm với những vì sao đêm lấp lánh, Bảng thẳng đường đến nhà ông phú Bính. Đến nơi, thay vì vào gõ cửa thăm Nụ, Bảng lại vòng ra phía sau vườn, lách mình qua hàng rào thô sơ và đến ngồi dưới chân một đống rơm chờ Nụ. Khi chờ, cái điếu cày của Bảng đã từng cơn kêu lên roong roóc giống như tiếng kèn thúc quân của đảng, nhưng vẫn không thấy bóng dáng người yêu dấu đâu. Càng về khuya, muỗi càng nhiều. Mặc, Bảng vẫn một tay đập muỗi, một tay vê thuốc lào cho vào cái nõ.

Đến gần nửa khuya, lòng buồn rời rợi, Bảng thu dọn hành lý và toan cho đống rơm mồi lửa trườc khi rút lui thì cánh cửa sau nhà ông Bính hé mở. Gã đứng lên, hồi hộp nhìn bóng người lách mình ra ngoài khung cửa. Lát sau, thay vì co chân bỏ chạy, Bảng nhảy ra khỏi đống rơm, ôm ghì lấy cái no tròn đẫy đà của Nụ:

– Sao mà ”nâu” thế, để người ta chờ mãi.

  Nụ đẩy Bảng ra, mắng yêu gã:

– Gớm, chờ có một tý thôi mà cũng khéo trách. Người ta phải chờ cho thày u ngủ kỹ rồi mới dám ra đấy.

 – Thật à, thế khi ra đây niệu có ai lom thấy không?

– Không, cả nhà đã ngủ say rồi.

Bảng quên lo âu, gã kéo Nụ ngồi xuống chân đống rơm. Bàn tay chai cứng của gã, nửa hấp tấp nửa ngập ngừng luồn vào phía bên trong lớp áo của Nụ. Làn da bánh mật của Nụ run lên từng cơn dưới bàn tay hoạt động không ngừng nghỉ của Bảng. Lúc sau, Bảng tham lam cúi xuống, tìm nụ hôn xã hội chủ nghĩa trong lúc Nụ bảo gã:

– Ấy từ từ thôi… kẻo tôi run qúa lắm.

  Bảng mạnh tay hơn:

– Có việc gì mà phải run chứ?

  Tiếng Nụ khe khẽ trong vòng tay tá điền:

– Tại… tại hở cái vạt áo, gío lùa vào lạnh lắm.

  Bảng như nhớ ra một điều gì, gã bảo:

– Thế… thì tôi đặt vào cái… chỗ này, cứ gọi là ấm phải biết…

  Bàn tay Bảng diễn tiến theo lời nói. Lát sau, gã bạo dạn đề nghị với Nụ bằng một thứ ngôn từ ngắn gọn như bác:

– Này, mai tôi đi rồi, nhà ấy… ủng hộ tôi một tý nhá?

– Ủng với lại chẳng… ủng. Lỡ mà có chửa thì khó sống với thầy u tôi đấy.

– Tưởng gì chứ việc ấy thì chả phải…”no”. Có chửa đã có nhà nước no.

  Nụ chống cự cho có lệ, rồi bảo:

– Vậy thì tùy ý đấy. Liệu làm sao cho gọn thì làm. Tôi thấy khó chịu lắm…

Bảng không nói thêm một lời, gã cúi xuống làm công tác. Sau khi giải quyết xong cơn khẩn trương của bác, Bảng nằm duỗi thẳng người ra và ngủ quên đi lúc nào gã không hay biết. Khi nghe tiếng gà gáy, Bảng giật mình thức dậy. Gã tưởng nằm mơ khi thấy thị Nụ ngồi khóc rưng rức bên cạnh. Gã gắt nhẹ:

– Có việc gì mà phải khóc với lóc chứ?

  Nụ úp mặt vào lòng đôi tay, khóc to hơn:

– Thế là tôi đã cho hết rồi đấy. Liệu mai này có mới, rồi bỏ người ta, hu… hu…

  Bảng nói như thật:

– Sao lại nói nhời bạc như thế? Tôi thề độc là khi nào cách mạng thành công, tôi sẽ về và động viên chi bộ làm lễ tuyên bố cho.

  Được lời thề, Nụ lau khô hai hàng nước mắt:

– Có nhớ nhời không đấy?

  Bảng trả lời giống Hồ Quang:

– Đã là một nhà cách mạng nhớn, có khi nào tôi nuốt nhời.

– Liệu mà gĩư lấy lời thề, nếu không thì chết với súng đạn đấy. Mà ngày mai anh đi xung công rồi phải không?

– Phải, sáng mai lên đường, Nhưng tự nhiên tôi thấy tiếc và không muốn đi nữa. Nếu biết trước thế này, có các… vàng tôi cũng chẳng đi.

– Ăn nói đến hay nhỉ. Có gì mà phải tiếc?

  Nói xong câu ấy, chính Nụ cũng thấy quyến luyến gã tá điền khỏe mạnh này. Nhớ lại từ ngày gặp Bảng, rồi đem lòng thương yêu Bảng đến nay, Nụ thấy chẳng được mấy ngày vui. Đã thế, vì mối tình vụng trộm này, ông Bính đã mắng nhiếc và đuổi Bảng ra khỏi hàng ngũ canh điền của ông.

Thật tội cho Bảng phải đi vào khúc đường long đong. Nhưng nếu phải trách ông Bính là người khắc nghiệt đã đẩy Bảng vào đường cùng, khiến gã phải xung công theo Việt Minh, đi vác súng đạn để kiếm miếng cơm hẩm và manh áo rách thì Nụ không dám.

Tuy thế, mỗi lần nghĩ đến chuyện phải chia tay với Bảng, Nụ thấy buồn. Buồn vì ông Bính không hiểu lòng Nụ. Tệ hơn thế, ông lại cấm cản, không cho Nụ có quan hệ tình cảm với nhà cách mạng Nguyễn văn Bảng để Nụ lỡ mối… lương duyên.

Rồi hôm nay, khi tiễn chân Bảng đi vào đường cách mạng với một nửa đời con gái của mình, Nụ càng buồn thấm thía hơn. Nụ quyết khóc thêm một lúc nữa cho vơi bớt hận sầu. Đến lúc nghe tiếng gà gáy dồn trong chuồng, Nụ thở dài, cúi xuống mở cái kim băng gài trên mép túi áo, lấy ra mấy đồng bạc gói trong miếng vải, dúi vào tay Bảng:

– Thôi, có tiếc anh cũng không ở lại được và tôi cũng không thể nằm ở đây cho đến sáng. Anh đi mạnh giỏi và nhớ lấy lời thề đấy. Phần tôi, tôi chẳng có gì nhiều để tiễn chân anh ngoài việc để dành được chục bạc. Anh cầm lấy độ thân hoặc là mua bánh thuốc mà hút.

Bảng nghe thấy chữ tiền, mắt gã sáng lên. Tuy thế, gã vờ đẩy tay Nụ ra:

– Tôi chả lấy đâu, mình liệu gĩư lấy mà làm vốn. Tôi đi làm cách mạng, mọi chuyện nhớn nhỏ đã có tổ chức no. Quyết không cần tiền.

  Nụ tưởng thật, bảo gã:

– Chẳng gì thì cũng là một chút tình. Anh xa nhà, thế nào cũng cần tới nó. Còn tôi, ở nhà đã có thầy U! Thôi anh cầm lấy, tôi phải vào kẻo thầy U thức dậy thì khổ.

Nói xong, Nụ đứng dậy phủi lớp rơm rạ dính trên người và trên đầu tóc. Phần Bảng, gã không muốn làm mất lòng Nụ. Gã nhét gói tiền vào túi áo trước khi vê bi thuốc cho vào cái nõ. Gã bật lửa, giọng tiếc rẻ:

– Mà hãy còn sớm chán.

– Sớm gì nữa, gà đã gáy sáng.

Nói xong, Nụ liếc Bảng lần nữa rồi quay gót bước đi. Phần  Bảng, gã cũng nhanh chân thu dọn hành trang, tìm theo lối cũ chuồn ra ngoài. Vừa đi vùa tính:

– Phen này, lão phú hộ cứ gọi là ngậm phải qủa bồ hòn. Không muốn gả, cũng phải gả…

Đoạn tình sử ấy Bảng khó mà quên, nên hôm nay, sau khi kiểm tra xong tài sản của ông Bính, Bảng trở về văn phòng ủy ban. Lúc còn chân trong chân ngoài, Bảng đã nom thấy Thọ, bí thư chi bộ vừa ra ngoài điều nghiên về tới. Gã lột cái mũ cối ra khỏi đầu, hỏi Bảng:

– Công tác kiểm tra thế nào đồng chí, tiến hành tốt đẹp cả chứ?

– Báo cáo đồng chí tốt.

  Thọ, tên viên bí thư chi bộ Xuân Thủy, bước hẳn vào văn  phòng với nụ cười đầy mãn nguyện. Bảng đi theo và thả người rơi xuống trên cái ghế đối dịện với Thọ. Gã buông thõng:

– Thật là tức đến uất cả người lên.

  Thọ ngạc nhiên nhìn Bảng:

– Có chuyện gì vậy đồng chí chủ nhiệm?

  Bảng vào đề ngay:

– Đồng chí bí thư nghĩ thử xem, chẳng lẽ mình chịu thua lão ta mãi hay sao?

  Thọ chưa hiểu Bảng muốn nói đến chuyện gì, gã hỏi lại:

– Có chuyện gì mà nom đồng chí vẻ mất bình tĩnh thế?

  Bảng ngả người ra phía sau, nói nhát gừng:

– Còn việc gì vào đấy nữa? Tất cả đều tại cái lão Lục!

  Thọ nhìn Bảng, gã à một tiếng trong cổ:

– À… tưởng gì chứ việc ấy chi bộ đã nắm rõ. Đồng chí cứ bình tĩnh, từ từ ta sẽ có cách giải quyết sau.

  Bảng không đồng ý:

– Đồng chí bảo từ từ à. Từ từ thế nào được? Cứ cái đà này quần chúng nhân dân theo gương lão, họ rủ nhau ra khỏi hợp tác xã, hoặc không chịu gia nhập thì đồng chí bảo sao?

  Thọ nhíu cặp chân mày:

– Việc khẩn trương đến thế cơ à? Đồng chí đã đến động viên ông ta chưa?

  – Còn động với viên gì nữa! Đã mỏi mồm rồi, lão ta nhất định không nghe.

– Căng nhỉ?

Vừa nói, Thọ vừa nhoài người ra phía sau, đưa tay với lấy cái điếu cày để lên mặt bàn. Kế đến, gã thong thả cúi xuống, tay mở kim gài, tay cho vào túi lấy ra một cái hộp nhỏ bằng bạc. Trên nắp hộp, có khắc hình rồng phượng khá tinh vi. Những tưởng đó là hộp bùa phép, Thọ lấy ra để trao cho Bảng thi hành diệu kế cho đảng. Nào ngờ, đó chỉ là một cái hộp đựng thuốc lào mà người dân đất bắc quen gọi là cái sáp.

Tuy nó chỉ là một cái sáp dùng để đựng thuốc lào, nhưng lại được hưởng một quy chế bảo quản khá đặc biệt của Thọ. Bởi lẽ, cái sáp này trước đây không thuộc quyền Thọ, hơn thế, nó có một lý lịch không tầm thường. Phải nhờ đến cách mạng, nhờ chính sách đấu tố phú nông địa hào của Vẹm, bảo vật gia truyền này mới rời tay viên chánh tổng Lục Thủy để vào túi áo Thọ.

 Lúc lấy sáp thuốc ra, Thọ trịnh trọng xoay nhẹ bàn tay trên cái sáp một vòng. Kế đến, gã cẩn thận bỏ cái nắp vào túi áo trước khi gỡ nhẹ cái lá mít non đặt trên mặt lớp thuốc lào sang một bên. Gã nhìn Bảng trong lúc đôi ngón tay từ từ vê những sợi thuốc lại với nhau. Khi biết chắc đã có một bi thuốc vừa ý, Thọ cẩn thận xếp cái lá mít trở lại vị trí cũ, lấy nắp đạy lại, rồi bỏ cái sáp vào túi.

Tưởng cũng nên nhắc qua sự hiện diện của cái lá mít (thường là lá mít, đôi khi có thể là một loại lá khác) ở trong sáp thuốc. Dân ghiền thuốc lào có một sở thích giống nhau. Không một người nào thích hút thuốc khô và gẫy vụn. Lý do, thuốc khô, hơi thuốc nóng, rít không ngọt cổ. Trái lại, sợi thuốc mềm hơi thuốc không nóng, không xóc. Khi rít, hơi thông vào đến… rốn! Từ yêu cầu cơ bản đó, lá mít non có sẵn tính ẩm, mềm và có một chút mùi thơm nhè nhẹ, lại rất thịnh hành ở miền quê, nên các tay chơi thuốc lào thường ưu ái đặt nó nằm trên lớp thuốc với công tác bảo quản cho thuốc khỏi khô, khỏi dòn.

Thọ cũng thế, là một tay chơi có nhiều năm kinh nghiệm trong phương cách hút thuốc lào, gã không thể nào vi phạm vào hai nguyên lý cơ bản này. Nên sau khi rướn người lên rít mạnh một hơi cho đầy lồng ngực, Thọ khoan khoái thổi hơi khói vào đốm lửa trên đầu cái đóm tre trước mặt, bảo Bảng:

– Đồng chí chủ nhiệm sốt sắng lo cho công việc của nhà nước

như thế cũng là phải. Tuy nhiên, cái khó là lúc này chính sách cải cách ruộng đất đang được xét lại, theo đó, ta không thể tự ý làm bừa bãi như trước được nữa. Riêng việc gia nhập vào hợp tác xã, nhà nước đã có chỉ thị. Đây là sự giác ngộ tự nguyện của nhân dân, ta không có quyền áp bức họ. Ngưng lại một chút Thọ tiếp:

– Theo đó, cán bộ các cấp chỉ còn một phương án duy nhất, kiên trì giáo dục cho quần chúng nhân dân hiểu biết về phương cách cải tiến trong lao động và sản xuất. Dạy cho họ thấy được cái lợi trong làm ăn tập thể, khi ấy họ sẽ tự động xin gia nhập.

Nghe thế, Bảng đứng bật người dậy, mồm gã oang oang:

– Nếu làm như thế thì nhà nước ta phạm sai nhầm nhớn rồi đồng chí ạ. Cái bọn thợ cày này, cứ gọi là có giáo dục đến cả đời, chúng vẫn ỳ ra đấy. Chẳng có một ma nào thèm tự nguyện mà gia với nhập. Hỏng! Nhất định hỏng!

  Thọ trố mắt nhìn Bảng:

– Đồng chí bảo hỏng là hỏng cái gì?

– Thì… dựa theo nhời đồng chí vừa phát biểu đấy. Bọn quần chúng nhân dân nó nghe được rõ ràng lời giải thích như thế thì còn gì là nhà nước, còn gì là hợp tác xã. Đồng chí nghĩ có phải không?

  Nói xong, Bảng đưa tay cầm lấy cái điếu cày đặt trên mặt bàn. Gã kê đầu cái điếu lên mồm, xì toẹt bã thuốc trong nõ xuống đất. Sau đó, vê bi thuốc cho vào nõ, nâng cái điếu để chệch sang một bên mép:

– Ấy là tôi cũng báo cáo cho đồng chí nắm rõ sự kiện để tùy nghi sử lý, Còn tôi, tôi thật đã hết cách. Vì nếu không có con dao trong tay thì phải có… phép lạ mới chỉ huy được đám quần chúng nhân dân này.

Thọ nhìn Bảng, tự nhiên gã cũng thấy buồn lòng và thất vọng. Thất vọng vì Bảng đã dám nói lên một sự thật, rất thật. Không có con dao thì phải có phép lạ. Nhưng phép lạ kiếm đâu ra? Bởi lẽ, khi thi hành bất cứ một công tác nào của nhà nước, các đảng viên đều phải trông cậy vào sức mạnh của cái mã tấu. Nếu không có cái mã tấu công việc của nhà nước hỏng nom thấy. Riêng với công tác đảng, cái mã tấu còn đóng một vai trò quan trọng gấp trăm ngàn lần. Nó chính là người tổ chức, tạo ra sức mạnh và kỷ luật trong đảng. Không có nó, đảng không tồn tại. Và không có nó, cũng chẳng ai chỉ huy được cái nhà kho của hợp tác xã.

Nhắc đến cái nhà kho là nhắc đến công tác lớn của đảng ở Xuân Thủy. Nói ra thì bảo là vạch áo cho người xem lưng, nhưng thực tế không ai chối cãi được. Cái nhà kho của hợp tác xã Xuân Thủy đã nắm giữ một vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt của đảng bộ ở đây. Trớ trêu thay, tầm kích quan trọng của nó không phải là cái văn phòng, cũng không phải là hàng hóa vật tư của hợp tác xã, nhưng chính là cái căn buồng nhỏ nằm sâu trong khu chứa hàng.

Căn buồng nhỏ này được tổ chức và bảo quản chặt chẽ, kín đáo, rập theo khuôn mẫu trong sinh hoạt chỉ đạo của đảng bộ từ trung ương. Theo đó, tùy hoàn cảnh, tùy địa phương, căn phòng này không nhất thiết phải đòi hỏi được trang bị máy rét, hay đồ nghề giống như phủ của bác Hồ. Nhưng nhất quán phải có một cái giường. Chính cái giường này là cơ sở, nắm vai trò chỉ đạo trong công tác của đảng và nhà nước. Không có nó, cán bộ nhớn nhỏ mất cơ sở gặp gỡ, ủng hộ nhau cho tình đồng chí thêm thắm thiết.  Và không có nó, các bạn bè tốt của bác mất luôn địa bàn yêu cầu nhân dân ủng hộ cách mạng.

Thật ra, chuyện các đồng chí dùng căn buồng này để ủng hộ nhau cho tròn nghĩa đảng, vẹn tình đồng chí thì chả ai muốn nói đến làm gì. Riêng về phía nhân dân, không muốn nhắc đến cũng không được. Bởi vì, theo sổ tay của đảng, các bà vợ bé, con côi của những tay phú hào, địa chủ đã lặng lẽ lìa đời, hoặc bị kết án vì cái mã tấu của nhà nước, hoặc chỉ là quần chúng nhân dân thường, nhưng được mắt lãnh đạo, đều lần lượt được các bạn bè tâm phúc của bác mời đến. Trước là thẩm cung làm việc, sau đó tạo cơ hội, điều kiện cho họ ủng hộ… cách mạng.

Dĩ nhiên, khi nữ nhân dân được bạn bè của bác chiếu cố, chả ai dám phản đối. Hơn thế, sau khi được giải phóng, không một ai dám nói ra nửa lời. Họ không nói, không phải vì câm vì điếc, nhưng vì biết luật lệ của cây mã tấu. Biết căn buồng này không phải là một sáng tạo riêng rẽ của Bảng của Thọ. Nhưng biết nó được chỉ đạo theo khuôn mẫu sinh hoạt của đảng từ trung ương. Nên chẳng ai muốn rước thêm họa vào thân. Riêng Xuân Thủy, Bảng đã mọc rễ vào căn buồng này từ thời đấu tố. Như thế, Bảng còn, cái mã tấu còn. Cái mã tấu còn, căn buồng còn. Cái buồng kín còn thì chức vụ bí thư Xuân Thủy của Thọ vững như bàn thạch.

Thọ có lý luận ấy là vì Thọ biết rõ Thọ. Tuy gã dám nhìn đồng chí phục viên Bảng bằng đôi mắt đại bất kính, nhưng xét cho cùng, Thọ không hơn gì Bảng. Cả hai cùng xuất thân từ hàng ngũ chăn trâu, rồi xây dựng sự nghịêp cách mạng bằng nghề tá điền. Bước gian truân khác nhau, nhưng tựu trung cả hai chỉ biết vác cày, vác cuốc đi làm thuê, cày muớn cho các hộ giàu để kiếm miếng cơm manh áo qua ngày. Những tưởng đời Thọ, Bảng sẽ tàn theo cái cày, cái cuốc trên cánh đồng cạn.

Ai ngờ có cách mạng, có lời kêu gọi của bác, Thọ đã giác ngộ. Kể từ khúc quanh đó, đời Thọ, Bảng đã bỗng dưng đổi khác. Đổi từ giai cấp chăn trâu tá điền thành giai cấp cán bộ rường cột của đảng, của nhà nước. Chúng leo lên và nắm gĩư những chức vụ béo bở như bí thư, chủ nhiệm giống như cảnh chó nhảy bàn độc. Công tác nào đề ra cũng hỏng, nhưng vẫn không bị hạ tầng công tác. Lý do, Thọ rồi Bảng đã thi hành xuất sắc công tác bảo quản và tìm người cho căn buồng nhỏ ở trong khu nhà kho của hợp tác xã.

Thế là qúa đủ. Thọ hãnh diện bảo thế. Trong đảng có nhiều loại công tác khác nhau, ta chỉ cần hoàn thành một công tác tốt là đủ nên danh phận một đời. Tự nghĩ thế, nên sau khi làm thêm điếu thuốc và nửa bát nước chè đặc, Thọ hỏi trống:

– Hết cách thật à?

– Phải, tôi đã hết cách.

  Thọ nhếch mép cười nhạt:

– Có phải thằng con út của lão gìa ấy đã đến tuổi đi thi hành nghĩa vụ quân sự rồi hay không?

  Nghe Thọ hỏi, Bảng sáng đôi mắt, gã đập mạnh bàn tay xuống trên mặt bàn:

– Hay, qủa là đúng sách lược. Có vậy mà tôi nghĩ mãi không ra, đồng chí bí thư thật là người sáng suốt, đầy những sáng tạo.

Khen xong, Bảng hồ hởi cầm lấy cái nón cối. Cái nón cối mà nhân dân coi nó như một biểu tượng của sự tối ác độc, và ngu dốt thì Bảng lại coi nó như là một linh vật của đảng cần phải bảo quản. Gã trịnh trọng đội cái mũ cối lên đầu, ra khỏi văn phòng ủy ban. Qua trưa, Bảng trở về văn phòng của hợp tác xã là địa sở do Bảng cai quản. Đến nơi, Bảng trần ngực áo ra và lấy cái mũ cối ở trên đầu xuống. Gã cầm ngược cái mũ, quạt lấy quạt để cho khô bớt mồ hôi. Lát sau, Bảng đẩy cửa bước vào.

Vừa bước vào, Bảng đã chết đứng khi nhìn thấy một bên ống quần khá rộng của người nữ đồng chí vô vàn kính yêu kéo cao lên qúa đầu gối, đang đặt vắt vẻo trên thành ghế dài kê xát tường. Tưởng rằng mình lạc vào chốn bồng lai, Bảng lặng thinh, di động đôi mắt theo ống quần rộng, rồi ngược đường lên phía phần đất có nhiều… sữa và mật ong.

Lạ thật, đây nào phải là chốn bồng lai. Hơn thế, cung cách này, nào có phải là một cung cách bất bình thường trong sinh hoạt thường nhật của người nữ đảng viên, đang nắm chức thư ký hợp tác đâu? Trái lại, đây là văn phòng của hợp tác xã nhưng cũng là nơi diễn xuất những công việc bình thường này trong đời của nữ thư ký Bành thị Lựu.

Bành thị năm ấy đã vào lứa tuổi ngoài ba mươi. Một lứa tuổi mà các cụ ngày xưa thường bảo là toan về gìa. Nghĩa là, thị chả còn gì để mất nên cũng không còn gì để phải gĩư gìn. Về phần nhan sắc và vóc dáng. Bành thị là một người nữ đồng chí không đẹp không xấu. Y thị không có cái vóc dáng vai u thịt bắp như phần đông những chị em chuyên về nghề lao động nặng. Lựu chỉ là người có da có thịt, nom mát mắt. Nói cách khác, Lựu có thân hình và đôi mắt rất mời chào. Nhìn thị, hiền nhân quân tử hay nhầm tưởng là Lựu đồng ý cho bác vào… hang, không ngờ lại đưa vào tù.

Về đường tình duyên, Bành Thị đã có chồng từ lúc đôi tám. Nhưng vì sớm giác ngộ chính sách ba khoan của nhà nước, y thị phải nhịn nên chưa có con. Kế đến, vào một sớm mùa thu ngày mùng hai, thị lại khuyên chồng ra đi theo bước chân sơn hà nguy biến. Kết qủa, chồng thị không trở về. Thế là đúng theo lời tiên đoán của ông thầy ngồi sờ… mu rùa ở làng về thị: Thị có duyên, nhưng không hợp số để sống chung với người chồng cán binh mang ẩn số chết bờ chết bụi của Việt cộng.

Thật tội cho duyên phận của thị. Khi chồng chết, thị không thể khóc, không thể để tang. Tệ hơn thế, thị không thể nấu chén cơm lạt cúng người qúa cố. Lý do, chồng thị chết ngày nào, chết ra sao và chết trong trường hợp nào thị không hay biết. Mãi đến gần một năm sau ngày chiến dịch Điện Biên chấm dứt, Lựu mới chính thức nhận được tin tức về người chồng của thị. Theo tờ giấy báo tin của nhà nước, thị biết, chồng thị đã lên bàn thờ đảng. Từ đó, thị chợt biết mình trở thành một góa nhân.

Sau khi nhận tờ giấy báo tử và mảnh bằng tuyên công của nhà nước, Bành thị tưởng rằng, đời thị từ đây sẽ bị vùi dập vào bóng tối, sẽ không còn ai nhắc đến thị, cũng không còn ai nhắc đến công lao và tên tuổi của nhà cách mạng hẩm hiu vắn số, nên thị buồn, thị khóc. Khóc xong, chẳng biết nghĩ gì, Bành thị đã đứng dậy rửa tay, tự ý chấm dứt với duyên nợ cũ, rồi tự coi mình là gái độc thân. Tuy thế, thị vẫn chưa có ý định sẽ điểm phấn tô son để ngạo với nhân gian một nụ cười.

Bất ngờ, vụ cải cách ruộng đất nổ ra, Lựu đã vùng dậy, rồi gia nhập hợp tác xã phụ giúp giữ nhà kho. Không ngờ, con đường hoạn lộ của Lựu cũng nhờ đó mà thênh thang rộng mở. Lựu nắm lấy thời cơ. Lựu hăng hái tiến ngửa tiến nghiêng, tiến sâu, tiến không ngượng ngùng trong vòng tay đảng.

Tả như thế, có lẽ hơi… oan cho thị Lựu. Vì thật ra, đồng chí Lựu là người rất ý tứ. Trước khi Bảng vào, Lựu đã nằm gác một chân lên thành ghế. Đến lúc có khách, chả lẽ Lựu không đổi thế nằm để nhường cho khách một phần cái ghế hay sao? Tự nghĩ thế, đồng chí Lựu nhẹ nhàng xoay người sang tư thế nằm nghiêng. Một tay làm gối, một tay hờ hững đặt lên cái mông đẫy đà nhô cao lên trên mặt ghế. Đồng chí ấy bảo:

– Ở ngoài nóng lắm nhỉ, anh ngồi xuống đây cho nó bớt… vã mồ hôi.

Bên ngoài những tưởng trời đã nóng, không ngờ, trong nhà

lại làm Bảng đổ tháo mồ hôi. Thật ra, đây không phải là lần đầu tiên Bảng đặt đôi mắt đại bất kính lên trên người đồng chí Lựu. Nhưng ngay từ lúc khởi đầu cuộc đấu tố phú nông địa hào, nếu không có Thọ chen vào, Lựu đã nằm gọn trong tay Bảng lâu rồi. Nào ngờ con mồi lắm mưu nhiều kế, mỗi lúc một xa cách vòng tay chủ nhiệm, nên Bảng đành vọng chiếm bằng đôi mắt cho đỡ vã. Vế phía Nụ, thị biết Bảng bị thiệt thòi, nên có lần bắt gặp ánh mắt ấy, Lựu bảo gã:

– Tội gì đồng chí phải rình nấp nhìn qua khe hở trong lúc tôi thay quần áo như thế? Nếu muốn, mời đồng chí cứ tự nhiên vào mà xem, tôi có mất gì đâu?

Khi nghe thế, Bảng tưởng là Lựu chửi xéo, gã lỉnh đi nơi khác. Mãi về sau này, Bảng mới biết là gã qúa ngu trước lời chào. Phần Lựu, Lựu chả tin là thị sẽ hư hỏng đi vì nhời nói ấy. Lý do, khi xưa, Lựu chỉ là một cô gái bình thường như muôn vàn cô gái khác ở xóm thôn. Bỗng một hôm, bác rồi đảng thay phiên nhau đến cầm tay, dẫn Lựu đi vào đường cách mạng. Đường cách mạng với vinh quang, hạnh phúc ấm no ra sao Lựu chưa một lần nhìn thấy. Y thị chỉ thấy những nhà cách mạng tự nhiên lui tới, bình thản dục thị nên tự võ trang cho mình một ý thức và giác ngộ cách mạng cao. Để từ đó, Lựu sẽ tiến thân vào vinh quang với đảng qua ngả cái… giường.

Lúc đầu Lựu buồn nhiều hơn vui. Buồn vì chưa hiểu được ý

tốt của đảng. Nhưng sau những lần vào ra với tình đồng chí, rồi đôi chân nhỏ bé co duỗi trong căn buồng kín kia như có sức mạnh vạn năng dẫn Lựu đi vào bước vinh quang với bác. Từ đó, Lựu không từ nan và con đường công danh, bước hoạn lộ của y thị cũng mở ra một cách khác thường. Lựu quyết đem cả đời mình ra để đáp lại ân tình của đảng. Hơn thế, tự Lựu còn đề xướng ra một chân lý cho đời cán bộ của người nữ đảng viên Việt cộng của nàng là:

– Đằng nào thì cũng vào… mình cả, chả đi đâu mà thiệt. Lựu chẳng còn gì để mất, nên cũng chẳng còn gì để phải giữ gìn!

Suy nghĩ thế là Lựu đã biết hoà mình vào cái xã hội chủ nghĩa Việt cộng. Bởi lẽ, khi đã xa chân vào đảng, dù tự nguyện hay không, công tác vẫn bó buộc phải thi thành. Hơn thế, cái xã hội này vốn nghèo khổ hơn nhời bác nói. Lựu không thể trông cậy vào cái búa cái liềm, cái khẩu hiệu lẫy lừng mà sống được. Lựu rất cần đến những hộp sữa cân đường, hay lít gạo chui ra từ cửa hàng của nhà nước qua bàn tay Thọ, Bảng. Lựu cần có tiền mua sắm cho mình cái quần, cái áo, ngoài tiêu chuẩn. Dẫu cho cái ngoài tiêu chuẩn ấy làm tang thương thêm cái đời cán bộ của Lựu. Bởi lẽ, Lựu còn nhớ như in lời giáo huần của Thọ hôm nàọ:

– Đồng chí có tư tưởng như thế là sai nhầm, không phù hợp

với ý thức cách mạng. Đồng chí chả nên đem việc làm ủng hộ vì tình đồng chí ra so sánh với việc làm của những người bán trôn nuôi miệng. Nhìn chung, hai việc làm ấy cùng phục vụ một công tác, nhưng nó hoàn toàn mang ý nghĩa khác nhau. Các đồng chí vì tình đồng chí và vì nghĩa đảng mà hành nghề, trong khi những người nữ kia chỉ làm vì đồng tiền. Đã thế, công tác của đồng chí là vì tương lai, vì lợi ích của toàn đảng, còn những người nữ kia chỉ biết nuôi một cái miệng.

Khi nghe Thọ giảng, Lựu tính bịt kín đôi tai, không muốn cho những lời của Thọ chui vào. Đến lúc nhìn thấy thực tế cuộc đời, nghĩ đến cảnh chim lồng cá chậu, nghĩ đến bạo lực cách mạng và nghĩ đến cảnh phải trèo lên nấc thang trong đảng, Lựu và các đồng chí gái đành nhắm mắt đưa chân vào giường. Cho đến hôm nay Lựu đã thạo tay nghề, lại thấy Bảng đứng như tượng gỗ, y thị vờ vuốt ve cái gấu quần nằm trên đầu gối, hỏi Bảng:

– Ở ngoài nắng lắm hả đồng chí?

– Phải, nắng… nắng cực lắm!

  Lựu buông thõng một cánh tay xuống, trách móc:

– Ăn nói đến hay.

– Nhời của quan trạng đấy.

  Lựu liếc xéo Bảng: – Có mà trạng lộn… lèo! 

– Lộn thế nào được mà lộn?

Nói xong, Bảng đắc ý cười thành tiếng và ngồi ngay xuống trên phần ghế trống. Lựu nghiêng người bảo gã:

– Tự nhiên nhỉ. Cứ làm như là tình nhân không bằng?

  Bảng cười híp mắt, Lựu tiếp:

– Anh muốn chết thật đấy à? Người ngoài mà họ nom thấy thế này thì khó sống với chị ấy.

  Chẳng biết toan tính gì, Bảng trả lời:

– Cô ấy muốn ra riêng lâu rồi.

  Lựu nhổm người dậy:

– Có thật thế à? Có phải tại… em không?

– Không, tại vì… tại vì…

  – Anh nói ra làm gì, em không muốn nghe đâu.

  Nói thế là Lựu đã biết rất rõ về Bảng. Bởi vì, có lần Bảng đã nói xa nói gần với Lựu:

– Nếu như gặp được người được nết hơn, tôi cũng chả cầu nữa.

– Thật à, em đăng ký nhá.Lựu vênh mặt, tiếp: Giời ạ, có ai rỗi hơi mà đi tin nhời mấy ông. Chả có ông nào gặp gái mà không kiếm cớ nói ra nói vào vài câu.

Tuy nói thế, nhưng sự thật là đã có lần thị nghĩ đến trường  hợp Bảng và toan tính công việc cho riêng mình. Nếu Bảng bỏ Nụ, Lựu sẽ lấy Bảng ngay. Lựu lấy Bảng không phải vì yêu vì thích Bảng, nhưng là để tránh lo. Cứ mỗi lần vào buồng với lãnh đạo là Lựu lo tháo nguyên cả một tháng giời. Lo thế thì còn gì là khoái cảm.  Nên nếu có được Bảng rồi, lãnh đạo có thêm chân thêm tay như các nữ đồng chí lãnh đạo khác thì hay biết mấy.

Nhưng lúc sau này, Lựu biết câu chuyện của Bảng rất khó giải quyết. Lựu đành bỏ cuộc và không có ý xúi Bảng bỏ Nụ nữa. Tuy thế, Lựu lại không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào có thể lợi dụng Bảng. Thị bảo:

– Sao lâu nay không thấy đồng chí nhắc đến chuyện sang nhà em uống bát nước chè. Chắc đồng chí đã quên cả cái ngõ rồi nhỉ?

-Ai bảo thế

-Chẳng ai bảo, em tự nghĩ vậy.

  Nghe Lựu nói, Bảng quay lại. Gã bắt gặp một ánh mắt kém vui và một bàn tay ngập ngừng di động trên lưng, bên ngoài lớp áo nhớp mồ hôi của Bảng. Bỗng nhiên, Bảng đâm ra hoang mang, mất tự chủ. Gã mở to đôi mắt nhìn thị Lựu như nhìn một hiền… mẫu hiếm hoi trên đời. Lát sau, chẳng hiểu toan tính gì, Bảng đưa tay vào trong cái xà cạp, xoa nắn nhè nhẹ trên gói qùa. Gói qùa có công tác trọng yếu trong việc làm trung gian hàn… xì lại khối tình đồng chí đã đến hồi tan vỡ giữa Bảng và Thọ. Nó tan vỡ vì Bảng đã nông nổi, nhỡ mồm súc phạm đến bí thư chi bộ. Rồi Thọ, vì tự ái đã chỉ tay lên giời thề độc:

– Từ đây cái tình đồng chí giữa gã và Bảng phải chấm hết.

Lúc đầu, Bảng nắm chặt cán dao trong tay. Gã cương quyết không chịu nhường bước, không chịu hàn gắn lại cái tình đồng chí sắp đến hồi thí mạng kia. Hơn thế, Bảng còn thảo sẵn kế hoạch để liều thân vì… đảng. Theo kế hoạch này, nếu phải chết. Bảng cho chết cả hai cho gọn. Đến sau khi hạ hỏa, Bảng tự biết như thế là sai. Sai vì mảnh đất Xuân Thủy này, cần có Bảng và Thọ, giống như đất Triệu không thể thiếu Liêm Pha và Lạn Tương Như. Lạn Tương Như và Liêm Pha là ai, thực lòng Bảng không biết, chỉ nghe người ta nói như thế, nên Bảng quyết sắm qùa lễ, theo gương người xưa đến thỉnh tội với Thọ cho đất bằng thôi nổi sóng.

Không may cho Thọ, gần đến gìơ đi thỉnh tội, Bảng đổi ý. vì đôi mắt và phần da thịt hở hang của Lựu đã chiếm được ưu thế. Bảng đặt một tay lên hông Lựu:

– Này… Lựu! Tôi…

  Lựu mở to đôi mắt lá răm, nhoẻn một nụ cười trên đôi môi ướt:

– Gì thế… anh nuôi, có qùa đặc biệt cho em đấy à?

 – Phải,  có chút qùa cho… cho… mình đây.

Lựu nhổm người dậy, hai thân người như kề xát vào nhau:

– Gớm! Sao mà qúy hóa qúa. Xem nào, anh nuôi có qùa gì cho em gái đấy?

  Bảng mạnh dạn đặt nhẹ gói qùa lên đùi, rồi lên tay Lựu:

– Chẳng có gì nhiều, trong này có gói trà sâm đặc sản, và một cái máy bật lửa Liên Sô….

  Lựu nở nụ cười tươi như hoa buổi sớm:

– Anh đến là khách sáo, lại còn văn hoa bóng bẩy. Ngày nào anh không gặp em mà làm như khách văn nhân, phải ngồi chờ người tình bên chân đống rơm không bằng. Nói xong, sợ Bảng tự ái nhớ lại chuyện cũ, Lựu tiếp:

– Trường hợp không gặp em ở đây, buổi tối anh mang lại nhà cho em. Ai cấm?

– Vẫn biết thế, nhưng…

  Lựu thừa biết Bảng muốn gì, tuy nhiên, y thị phải kiểm tra gía trị mặt hàng trước khi làm công tác cho khỏi thiệt. Thị bảo:

– Nào em có chê của bao giờ… Nói chưa dứt câu, Lựu giật mình kinh ngạc vì cái gía trị của gói qùa lần này cao hơn là Lựu đánh gía. Lựu thật không ngờ, chủ nhiệm Bảng nom thế mà lại là kẻ biết của biết người. Sau khi cầm gọn cái máy bật lửa Liên Sô trong tay, Lựu tính đứng dậy bước vào trong, nhưng lại thôi. Lựu thôi vì cho rằng, món qùa tuy rất ngang giá trong công tác ủng hộ đảng, tuy nhiên, chả nên vội. Tự nghĩ thế, Lựu  quay đầu nhìn vào hướng căn buồng cuối nhà kho, tiếp:

– Nhưng chắc anh chủ nhiệm chê nhà em không trà, không rượu, nên không muốn đến chứ gì?

  Bảng đi động bàn tay lên phía trên đầu gối của Lựu:

– Cứ nói thế rồi khi người ta đến lại không chịu tiếp.  Tôi nào có cần rượu, cần trà…

  Lựu cười nụ, y thị nghiêng hẳn cái ngực vĩ đại vào xát mặt Bảng trong lúc làm động tác để đứng dậy:

– Chẳng lẽ đồng chí chỉ cần… em?
 
  • Chương 1

    Sau hơi thuốc lào dãn phổi, Bảng đứng dậy, nhịp nhàng vỗ đôi tay vào nhau:  - Báo cáo làng nước đã hết gìơ nghỉ. Yêu cầu làng nước tranh…

  • Chương 2

    Sau khi khóa cánh cửa ra vào bằng một ống khóa to bản, Bảng kẹp cái mũ cối vào bên hông, bước vội ra đường. Trên đường về, Bảng gặp…

  • Chương 3

    Ra đến đầu ngõ, Bảng thấy một bóng người chạy xầm xập lại trước mặt. Gã quát hỏi: - Ai đó? - Tôi đây! Thưa ông chủ nhiệm. - Anh…

  • Chương 4

    Thời khóa biểu của ông Lục vào những ngày không đưa con Mễ đi cày rất giống nhau. Buổi sáng, sau khi lót dạ một chén cơm nguội, hoặc một…

  • Chương 5

    Chiều đến, ông Lục lững thững dắt trâu về nhà. Trong lúc chân ông bước từng bước chậm chạp trên con đường mòn cũ, lòng ông không quên nhẩm lại…

  • Chương 6

    Sau khi căn dặn Dụng một số điều cần phải làm khi nó sửa soạn dắt trâu ra đồng, ông Lục ra mở cổng, dắt con Mễ ra khỏi chuồng…

  • Chương 7

    Đã từ lâu lắm, hôm nay ông Đăng mới có được một niềm vui nho nhỏ. Niềm vui đó chính là sự đả thông nỗi lòng uẩn ức giữa ông…