Thời khóa biểu của ông Lục vào những ngày không đưa con Mễ đi cày rất giống nhau. Buổi sáng, sau khi lót dạ một chén cơm nguội, hoặc một củ khoai bên bếp lửa với bà là ông đứng dậy, một tay với lấy cái nón, một tay sách cái giỏ đan bằng lá cói, trong đó bà Lục đã dọn sẵn những đồ dùng cần thiết cho một ngày ra đồng của ông. Nói thì lớn, nhưng thật ra trong cái giỏ này chỉ có một cái võng, một chai nước, một cái điếu cày, vài cái đóm và một nắm cơm gói trong miếng mo cau làm bữa ăn trưa cho ông thôi.

Ra khỏi cửa, ông thường đứng lại nhìn trời nhìn đất một vòng như để ngóng xem trời đất nắng mưa thế nào. Sau đó, nói với bà như dặn dò vài câu rồi đi về phía cái chuồng trâu. Đến nơi, ông tháo sợi giây nhợ cột mũi trâu ra khỏi cái cột, rồi thong thả cuộn giây nhợ lại thành từng vòng nắm trong tay. Kế đến, ông tháo then cài, ghếch cái cổng sang một bên cho con Mễ đi ra. Thường thì ông đi khi trời còn hơi xương, nhưng hôm nay, vì có một vài câu chuyện cần trao đổi với bà nên ông ra khỏi nhà khá trễ.

Mới dắt con Mễ đi được một quãng, ông Lục nghe có tiếng người hắng dọng, gọi hỏi từ phía sau lưng:

– Ai nom như là ông Lục đấy phải không nhỉ?

Ông Lục quay lại. Ông nhận ra người đàn bà vừa lên tiếng gọi hỏi ông. Đó là một người có tên có tuổi trước kia. Nhà bà ở giữa thôn, còn ông ở cuối xóm. Tuy hai nhà chỉ cách nhau mấy đoạn đường ngắn, họ lại ít khi gặp nhau. Họ ít gặp nhau, không phải vì ông Lục không thích gặp, nhưng vì ông Lục và người đàn bà đó không có quan hệ ngoại giao, và cũng không có quan hệ họ hàng! Tuy thế, ông Lục vẫn dễ dàng nhận ra bà vì một lý do khá đặc biệt, trong đó chắc chắn không có cái hình hài, sắc diện đã hoàn toàn đổi thay của bà  sau khi Xuân Thủy làm mùa đấu tố. Nhưng, chính vì cái âm thanh lanh lảnh và vóc dáng cao rong rỏng của bà. Ông trả lời:

– Phải, tôi đây! Chào bà phó!

– Gớm! Giọng bà phó vút lên cao, ông cứ phó ba với lại phó hai mãi! Thời buổi này, cách mạng lên rồi, ông còn gọi cái tên ấy làm gì? Cứ gọi tôi là bà Ba cho nó gọn ông ạ!

  Ông Lục chậm rãi đáp:

– Bà phó cứ nói thế! Đời người là dài, cách mạng thì được mấy nỗi! Ngày xưa khi ông phú còn sống, tôi cũng thế. Bây gìơ ông phú đã khuất núi, tôi vẫn vậy. Chả có việc gì mà phải đổi với thay.

Bà phó Ba nhìn xững ông Lục từ đầu đến cuối chân. Bà ngạc nhiên vì có đến mấy năm nay, ngay những người chịu ơn của bà trước kia, cũng chả thấy có mấy người nói với bà được một câu có tình, có nghĩa đến như thế. Trong khi, ông Lục và ông Bính, anh của bà, chỉ là chỗ lối xóm quen biết mặt nhau hơn là có ân nghĩa riêng. Riêng đối với ông phú Lộc, chồng của bà, hai người ở cách xa nhau. Sự quen biết có khi không có, nói gì đến ân nghĩa cho nhau. Nhưng lý do gì, ông ta nói câu chuyện nặng tình đến thế? Chẳng lẽ người của họ cứ thơn thớt để lừa mình? Hỏi xong, bà phó Ba chăm chú quan sát người đối diện lần nữa, rồi tự nhủ:

– Có lẽ mình nhầm, nom ông ta thật thà chất phác lắm.

Nói thế, không có nghĩa bà phó Ba muốn bao che cho ông Lục, cũng không phải vì bà muốn đổ lỗi cho dân làng đã nông nổi, nghi oan cho ông Lục theo việt cộng làm hại dân làng. Bà chỉ tiếc sự việc hiểu lầm này, nếu có, khó có cơ hội tháo gỡ. Bởi vì, ông Lục được xếp vào diện gia đình liệt sỹ của nhà nước. Một diện, theo lớp cán bộ vô văn hóa từ trung ương xuống đến điạ phương, đều há mồm ra bảo rằng, đây là thành phần nòng cốt và ưu tú của chế độ. Nếu không có thành phần này thì không có cách mạng, không có nhà nước. Vì nhà nước đánh gía như thế, nhân dân đành phải kéo hàng rào, phân chia xã hội Việt cộng thành nhiều giai cấp khác nhau:

– Trước hết là Giai cấp… đầy tớ của nhân dân. Đây chính là giai cấp đã bần cùng hóa nhân dân, nó bao gồm toàn bộ hàng ngũ lãnh đạo đảng và nhà nước từ trung ương đến cấp tỉnh, thị bộ. Chúng được định nghĩa là những kẻ đầy tớ của nhân dân, nhưng nhân dân không được phép gọi tên chúng là thằng Minh, thằng Đồng, thằng Duẩn, thằng Chinh… như khi gọi tên những đứa đầy tớ ở trong nhà.

– Đến Giai cấp… nô bộc của nhân dân. Đây là giai cấp bao gồm toàn bộ cán bộ khung, có mã tấu, có đầy đủ đặc ân đặc quyền của nhà nước ở địa phương, ở cơ sở. Chúng muốn mưa có mưa, muốn nắng được nắng! Nó chính là giai cấp trực tiếp áp đặt cái mã tấu và cái ách cộng sản vào cổ nhân dân theo lệnh của những tên đầy tớ ở trên.

– Giai cấp làm chủ đất nước. Đây chính là giai cấp bao gồm tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân, từ lao động chân tay đến lao động trí thức. Vì họ là những người làm chủ đất nước, nên được nhà nước xếp vào danh sách lao động nòng cốt. Theo đó, công điểm của giai cấp cực ưu tú này được tính ngang hàng với trâu bò, không thể ngang hàng với giai cấp đầy tớ như bác, hay lãnh đạo.

– Sau cùng, những người không nằm trong ba giai cấp trên, được coi như thành phần ngoại xã hội. Thành phần này bao gồm toàn bộ thân nhân của những người bị đấu tố, hoặc có con cái theo kẻ địch vào nam. Thành phần này được nhà nước ưu ái… tặng cho một mỹ từ rất lạ tai: Thành phần xấu. Một khi được nhà nước trao cho danh hiệu này thì sống cũng dở, mà chết khó nhắm mắt. Bà phó Ba là một thành viên sáng gía của giai cấp này.

Từ sự phân chia ấy, tuy sống chung trong cùng một xóm thôn, người trong thành phần này ít qua lại với thành phần kia. Họ đã bó buộc phải bỏ quên tình người bên lũy tre xanh, là một thứ tình cảm đã mọc rễ vào cuộc đời của họ kể từ khi họ có tiếng nói. Rồi thay vào đó, họ phải học nằm lòng cái lý lẽ mới của xã hội Việt cộng. Kết qủa, ra đường gặp người quen mà cứ ngỡ là gặp kẻ thù! Về nhà đụng đầu vợ chồng, con cái, lại ngỡ rằng gặp dò thám công an của nhà nước. Từ đó láng giềng làng thôn tự nhiên ít qua lại với nhau.

Hôm nay, việc ông Lục đứng lại giữa đường để chuyện trò với bà phó Ba phải được kể như là một trường hợp ngoại lệ,

làm bà phó Ba vừa lo sợ vừa  cảm động:

– Cám ơn ông đã có nhời nghĩ… tốt cho chúng tôi.

– Ơ hay, bà phó sao lại nói lời khách sáo.

  Bà phó Ba nhìn ông chân thật:

– Sự thật như thế đấy, nào tôi có khách sáo gì đâu. Thời buổi này, cách mạng lên rồi, chẳng ai muốn nhắc đến chuyện ân với nghĩa làm gì? Vì có nhắc đến, cũng không thể đem ra ăn thay cơm gạo được! Phải thế không ông?

Rõ ràng ông Lục không hài lòng vì lời nói vừa bóng gío vừa mỉa mai cay đắng của bà phó. Ông chưa lên tiếng, bà phó Ba đã tiếp:

– Tính ra có đến vài ba năm nay tôi không gặp ông, riêng bà nhà thỉnh thoảng ra chợ có nom thấy nhau, nhưng chả kịp hỏi thăm. Ông bà và các cháu khỏe mạnh cả chứ?

  Ông Lục trầm giọng:

– Cám ơn bà phó có nhời hỏi thăm, gia đình tôi cũng làng nhàng qua ngày vậy. Thế còn bên bà phó?

Bà phó ba cười ra nước mắt, đong đưa cái rổ có vài củ khoai ra trước mặt. Giọng đầy diễu cợt:

– Đây ông xem, còn được như thế này cũng khỏe chán. Nhất bác nhì giời ba đến cán bộ, bốn mới đến… dân. Phần tôi, từ ngày thế gian bỗng nhiên đổi khác, nhờ ơn bác, nhờ lộc đảng nên được cấp phát độc lập tự do ấm no để nói. Riêng phần cơm gạo và hạnh phúc thì ngày ngày, tất tưởi chạy quanh trên đường với cái rổ và mấy củ khoai này. Như thế, cũng là một hạnh phúc rồi, phải không ông?

Lúc đầu, ông Lục tưởng bà phó thích diễu cợt, lại giỏi ví von cuộc đời giống như củ khoai chạy vòng quanh cái rổ, ông bật cười. Nhưng đến đoạn cuối, ông nghe nó đau đớn và cay đắng thế nào ấy. Ông gượng cười bảo bà:

– Nào có riêng gì một mình bà phó phải long đong. Cả làng, cả nước đều cơ hàn, đói rách giống nhau.

  Bà phó Ba buột miệng:

– Đến chán ông nhỉ?

  Ông Lục ngay thật trả lời:

– Có chán cũng phải chịu bà phó ạ. Giống như con gái đã ngồi phải… cọc, còn kêu làm sao?

Bà phó chưng hửng trước lời nói không một chút che đậy của ông Lục. Bà quay nhìn con trâu, nói lảng sang chuyện khác:

– Ông đi chăn nó thế này, công điểm họ tính cho ông ra sao?

  Ông Lục dặt tay lên trên sừng con trâu, rồi vuốr nhẹ trên đầu nó:

– Nào có công điểm gì đâu!

  Bà phó Ba nhướng cao đôi mắt vẻ kinh ngạc:

– Ơ hay, họ không tính công điểm cho ông thật à?

  Ông Lục, đảo mắt nhìn quanh một vòng. Sau khi biết chắc không có người thứ ba nghe lén câu chuyện của ông sắp nói. Ông xích lại gần, nói nhỏ bên tai bà phó:

– Dấu người ta chứ dấu gì bà phó, nó còn là của tôi đấy.

  Chừng như sợ bà phó ba không hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, ông Lục tiếp:

– Thực ra thì họ đã đến thúc dục tôi nhiều lần, nhưng tôi vẫn chưa giao nộp và chưa vào hợp tác xã bà Phó ạ. Vào sớm thì trắng tay sớm. Chẳng ăn cái giải rút gì.

Bà phó Ba lại nhìn xững ông Lục từ đầu đền chân. Càng nói chuyện với ông, bà càng thấy lạ. Lạ vì bà không ngủ mơ. Hơn thế, bà đang đứng dạng chân trên mảng đất xã hội chủ nghĩa với Hồ, ông Lục cũng thế. Nhưng tại sao ông Lục nói chuyện giống như là chuyện trong xi nê của tư bản, hay là chuyện cổ tích xưa kia thế? Chẳng lẽ sự kiện ông Lục có con trâu và mảnh vườn riêng ở dưới thời Hồ là có thật?

Lúc đầu bà phó Ba không tin, sau đó, bà chợt nhớ ra là ông Lục thuộc giai cấp liệt sỹ của nhà nước. Một giai cấp mà các cán bộ thường bảo là nhân dân phải hết lòng, hết sức hỗ trợ bảo quản. Nếu đúng thế, ông Lục muốn gĩư một con, chứ đến mười con cũng chẳng ai cấm. Tự nghĩ thế, bà phó Ba tiếp:

– Ông cứ nói thế. Gia đình ông thuộc diện gia đình có công, bà nhà lại được phong làm mẹ liệt sỹ, mẹ cách mạng. Nhà nước đã không trợ giúp đãi ngộ thì thôi, có lý nào đến áp bức ông bà?

Đến lúc này, ông Lục đứng thẳng người lên, nhìn bà phó:

– Xin bà phó đừng nói thế để người dân trong làng dễ xa nhau. Tôi thì có cách mạng, cách mồm cái nỗi gì. Bà nhà tôi cũng vậy. Tiếng ông Lục nhắc lại như phân trần, cứng rắn: Nếu tôi chưa nói ra, bà đã rõ. Cả đời tôi chân lấm tay bùn ở trong xóm thôn này, có đi đâu mà cần cách mạng với cách mồm. Nói ra thì bảo là tự vạch áo cho người xem lưng, nhưng thật đúng là con dại cái mang bà phó ạ. Nó đã chết mất xác, còn khoác vào cổ bố mẹ cái tội làm… liệt sỹ cho Việt cộng, để cho người ta xỉa xói.

Nghe ông Lục cứng giọng, bà phó Ba giật mình, ái ngại:

– Ông chớ nói thế. Tôi chỉ lỡ lời. Xin ông bỏ qúa cho.

  Ông Lục thẳng thắn:

– Bà phó chẳng có lỗi gì, vì sự thật như thế. Nếu tôi không nói ra lời nói thật ấy thì nó cứ ấm ức ở trong lòng. Nhưng đến khi tôi nói ra, tôi biết, chẳng được mấy người tin lại còn cho rằng tôi là kẻ dối trá, gạt đời, lừa người.

Bà phó Ba nhìn ông Lục vẻ ngượng ngùng, muốn kết thúc câu chuyện sớm, ông Lục lại thở dài, tiếp:

– Thật, há miệng ra là mắc quai bà phó ạ. Nên dân làng có hiểu nhầm, tôi đành chịu tiếng oan, chẳng làm sao mà giải được.

Nói thế là ông Lục đã giãi bày một phần trong những khổ tâm, khó nghĩ nằm sâu trong khúc ruột gìa của ông từ bao lâu nay. Những nỗi khổ, ông Lục thường cho rằng, sống để bụng chết mang theo. Không ngờ, ông lại đem thổ lộ ra với một người đàn bà chỉ quen mặt, biết tên, hơn là thân thiết. Tuy thế, ông Lục không hối tiếc. Trái lại, ông thấy nhẹ người và bằng lòng với chính ông hơn là được bà phó cảm thông. Trong khi ấy, bà phó Ba nhìn ông Lục thêm lần nữa. Chả biết nghĩ gì, bà bảo:

– Thời buổi đến hay ông nhỉ? Họ chỉ toàn nói chuyện ốc đi bằng mồm. Trên thì bảo chính quyền là của nhân dân, dưới lại nói nhân dân làm chủ đất nước. Nhưng thực tế, tôi không hiểu nổi lý do tại sao, khi ta làm chủ đất nước mà cuộc sống vật chất đã khổ cực gấp trăm lần, nếu đem so sánh với thời thằng tây, hoặc là phong kiến xưa kia. Lại thêm cái họa, bà con lối xóm ra vào gặp mặt nhau lại tưởng nhầm là kẻ thù, chẳng có mấy người dám chuỵện trò trao đổi với nhau vài câu chuyện riêng. Nếu họ tiếp tục làm cách mạng kiểu này, không biết tương lai dân mình đi về đâu ông nhỉ?

Sau khi nhướng cao đôi mắt để nhìn cho rõ nhan xắc của người đàn bà đối diện, Ông Lục bảo:

– Bà phó nói lời nói phải. Có tiến nhanh tiến mạnh thì cũng tiến đến cái… lỗ là cùng. Chính tôi cũng thấy như nhời bà phó nói. Thời buổi này đã khó sống, mà làng xóm, láng giềng lại nghi kỵ, ít đi lại với nhau. Sống như thế chả còn ý nghĩa gì phải không bà Phó?

Nghe hỏi, thay vì bà phó Ba phải kiểm tra xem ông Lục có mang theo giây… ăng ten, hay là máy tình báo cho thằng Vẹm ở trong người hay không, bà lại đáp gọn:

– Phải!

– Có lúc tôi nghĩ họ chả nên gỉa tiếng ăn cướp thành giải phóng. Vì có làm giải phóng, có làm cách mạng như họ, người dân mình cũng chẳng ăn thêm cái giải rút gì. Bà xem, xuốt ngày vợ chồng con cái thay nhau chạy mửa mật ra, không có đủ miếng cơm cho vào bụng! Đến tối, nay họp mai hành, mốt hội thảo rút ưu khuyết điểm. Kết qủa, mới sau có vài năm giời sống trong vùng được họ giải phóng, người dân đã hốc hác, đói rách tiêu điều như nhau. Đã thế, còn biết bao nỗi lo bên người. Có phải vậy không bà?

 Bà phó trả lời không cần suy nghĩ:

– Cái ấy thì đã hẳn nhiên rồi ông ạ.

  Thấy vui câu chuyện, ông Lục tiếp:

– Từ nãy gặp bà phó mải nói câu chuyện, quên chưa hỏi thăm bên bà phó lúc này sinh hoạt ra sao? Tôi có nghe tin đồn bảo rằng, nhà cửa, tài sản, ông phú thác đi để lại cho bà phó đã bị chúng tịch thu cả rồi. Có đúng như thế không hả bà phó?

Câu hỏi ngắn gọn, bà phó ra chiều suy nghĩ. Bà suy nghĩ vì thói đời thường ăn ở bạc, khi nhiều tiền lắm của, không cần gọi cũng nhiều kẻ đến cầu thân. Đến lúc lỡ xuống… giải phóng, sẽ chẳng còn một người nào để nương nhờ. Nhớ đến tình đời, bà buồn lòng, đưa đôi mắt kèm nhèm trước tuổi ra trước mặt, rồi dừng lại trên con đường vắng dẫn ra cách đồng, bùi ngùi, tóm lược câu chuyện:

– Thật, cám ơn ông có lời hỏi thăm. Nếu tôi không nói ra, chắc ông đã rõ. Ngày xưa, khi ông phú tôi còn sống, ruộng vườn thì thẳng cánh cò bay. Phần tài sản từ nhà cửa đến kẻ ăn người ở, lúc nào cũng vào ra. Có khi nào phải lo lắng vì thiếu miếng cơm manh áo? Đến sau ngày họ về, thế gian bỗng nhiên đổi khác ông ạ. Việc đổi khác đầu tiên là ông phú tôi, nhìn cảnh đời trớ trêu đen bạc, ông buồn rầu, sinh bệnh rồi quy tiên. Từ đấy cửa nhà đã vắng đi một người! Kế đến, gặp mùa cải cách. Tất cả gia sản ông phú di mệnh lại cho tôi, đều rơi vào tay họ vì cái lý do, đó là của… bóc lột từ nhân dân, nên phải trả về cho nhân dân. Ngay đến cái nhà khi ấy tôi đang ở cũng phải giao nộp cho ủy ban.

– Sự thật như thế hả bà phó?

  Bà phó Ba trả lời chắc như đinh đóng cột:

– Tôi chả dám nói gian câu nào.

  Ông Lục mở lớn đôi mắt:

– Vậy mà từ trước, tôi cứ tưởng đó là tin đồn nhảm. Thế rồi khi nhà cửa bị tịch thu, bà phó ở đâu?

  – Nói đúng ra thì nhà nước mới lấy năm gian nhà trên thôi, còn cái nhà bếp và vuông đất bên cạnh chuồng trâu ủy ban giao cho tôi bảo quản. Nhờ có vuông đất ấy, tôi trồng vài liếp rau kiếm sống qua ngày. Riêng về phần ruộng vườn và con trâu, nhà nước đem gia nhập vào hợp tác xã. Theo lẽ, tôi có phần giống như một xã viên, nhưng vì tuổi gìa sức yếu không thể lao động, ủy ban điều tôi vào tổ… tổ phụ. Nên sau mỗi vụ mùa tôi cũng được hợp tác xã chia cho vài ba thúng thóc.

Chưa nói xong, bà phó đứng thở dốc. Ông Lục nhìn lên, chừng như thông cảm cho nỗi niềm tâm sự của bà phó, một người, những tưởng là có được một đời chả biết đến chữ gian truân là gì. Không ngờ, cái đoạn kết gặp phải tay Hồ Quang, nên có lắm nỗi đoạn trường. Bà tiếp:

– Nếu kể ra thì  câu chuyện dài dòng lắm ông ạ, mà có kể đến chết cũng không hết. Không biết ông còn nhớ ông chánh Khuyên không?

  Không chờ ông Lục trả lời, bà phó Ba tiếp:

– Người mà cả làng cả tổng mang ơn, nhưng chúng lại lôi ra đấu tố. Sau đó đuổi vợ con ông ta đi. Khi đi, chỉ còn hai bàn tay trắng. Bà ấy phải đến nương nhờ dưới mái chuồng trâu nhà tôi một thời gian, rồi chả được bao lâu sau, bà ấy tắt thở.

  Kể đến đây, bà phó ba tự ngưng lại câu chuyện như có ý mặc niệm cho người qúa cố. Sau đó, bà thở mạnh một hơi, tiếp:

– Nếu đem so với bên ông chánh, thì tôi còn may mắn hơn nhiều. Nhưng đến sau ngày anh tôi được thằng rể qúy đem ra đấu tố. Tôi nghĩ, mạng sống của tôi nó giống như chiếc lá vàng cuối mùa, không biết sẽ rơi rụng lúc nào.. Thật là trăm đường cơ cực. Có lúc tôi đã toan tìm cái chết cho xong đời rảnh nợ. Nhưng khi nhìn thấy cái Nụ, đứa cháu duy nhất của anh tôi với một bên thương bố, một nỗi hận chồng đang dở sống dở chết, tôi đành phải gạt nước mắt mà sống. Cũng may, nhờ có cô, có cháu, tôi cũng nguôi ngoai được phần nào nỗi buồn. Nếu không, xanh… mả lâu rồi ông ạ.

  Ông Lục, lòng nát như tương khi nghe bà phó Ba kể lại khúc đoạn trường. Ông chống mạnh cái roi tre xuống đất:

– Cái Nụ nó sang ở với bà phó à? Tài sản của bố nó cũng bị tịch thu hay sao?

  Bà phó ba với tay, thắt lại cái khăn mỏ qụa trên đầu:

– Ông nghĩ thử xem, ai mà sống chung được với quân sát nhân ấy? Có con cái nào trên đời này dám ra tay giết bố mẹ? Họa chăng có cái ông bí thư thứ nhất là một, đến nó giết bố vợ là người thứ hai.

Sau câu nói toạc móng chân của bà phó, không hiểu cố tình hay vô ý, ông Lục, bà phó Ba, đứng xích lại gần nhau. Họ nom giống như đôi bạn chân tình từ thuở xa xưa mới gặp lại nhau, hơn là người quen biết theo mối tình giữa làng xóm. Rồi chả ai bảo ai, cả hai đều trở về với cái gốc của làng thôn sau lũy tre xanh. Họ quyết, một lần trước khi qúa trễ. Phải cởi mở toàn bộ cõi lòng uẩn ức ra cho nhau, hơn là đóng khung thù hận. Một thứ thù hận bắt nguồn từ ngày có bác, có đảng.

Nhớ lại, vì có bác, có đảng, ông Lục bà phó Ba mới biết đến thù giai cấp. Vì có bác, có đảng, người dân đất bắc mới biết hát bài ca người đấu tố người. Rồi nhờ bác, nhờ đảng, nhờ đường dao đấu tố tài tình của nhà nước Việt Cộng đã chém chết được tình người sau lũy tre xanh. Chúng đã đẩy ông Lục xa bà phó. Chúng đã rạch cho máu đổ trên đồng lúa, chảy dưới nương dâu, tưới bên bờ ao, tuôn ngoài sông lạch, hoặc đọng thành vũng, khơi thành dòng trên đường phố. Để từ đó, các nhà cách mạng Vẹm mặt đỏ như vang, nhân dân mặt vàng như nghệ.

Câu chuyện thật như đếm ấy đã theo gót chân di cư, xuống tàu há mồm vào nam. Nhưng mấy tay nam bộ đang nhậu ”cầu Ghềng, bà Quẹo” tiếp tục lai rai ba sợi, bảo nhau:

– ”Bọn bắc kỳ dô nam nói ba sạo. Làm gì có cảnh giết người như thế?”

Chả ai nỡ trách bà con trong nam. Lý do, không gặp mặt Vẹm, chắc chắn không thể biết Vẹm ra sao. Chưa sống với Hồ Quang chưa thể biết được cái không cha không mẹ của nó làm. Vì ngay như ông Lục, bà phó Ba. Một người, nằm trong diện trắng đêm chờ đường dao giải phóng. Kẻ khác, được ưu ái khoác lên người chiếc áo liệt sỹ nhà nước, vẫn bị chúng lừa.

Vẹm lừa bản thân ông Lục bằng cái mảnh bằng tuyên công, sau đó, nhờ tên ông để lừa người khác. Rồi bác bịp bà phó Ba bằng cái chữ khoan hồng để cướp tài sản của bà. Đã thế, ông Lục và bà phó còn trúng đòn chia rẽ của bác để xa nhau, để hận thù người đồng thôn mà cả hai không một hay biết. Mãi đến hôm nay, trước cảnh đời tàn tạ, ông Lục mới thò đầu ra khỏi cái vỏ liệt sỹ, thỏ thẻ bên tai bà phó:

– Tôi đã nhầm lớn bà phó ạ.

  Bà phó Ba ra chiều cảm động, bà nói với viền nước mắt trên mi:

– Nhưng nào có phải chỉ mình ông và tôi bị gạt.

  Ông Lục thấm đòn, ngước mặt nhìn trời:

– Đúng thế bà ạ. Cả nước đã bị chúng lừa.

  Sau tiếng đấm ngực ăn năn, ông Lục nhắc lại câu chuyện cũ:

– Hồi nãy bà phó nhắc đến cái Nụ tôi mới nhớ, câu chuyện ấy ra làm sao vậy bà phó? Lúc trước tôi có nghe ông Bính nhất định không chịu gả cô ấy cho… chủ nhiệm Bảng, sau đó lại thấy làm lễ tuyên bố?

  Bà phó Ba cắt ngang tiếng chủ nhiệm Bảng của ông Lục:

– Chuyện này kể ra thì dài lắm ông ạ. Khi anh tôi còn sống, có mấy đám khá gỉa cho người mai mối đến xin cháu. Anh tôi có ý thuận và tôi đã hết lời khuyên bảo, nó nhất định không ưng, lại đi ưng cái thằng… Bảng. Rút cuộc, tự rước lấy họa vào người.

  Nói được mấy câu, chừng như uất nghẹn, bà phó Ba ngưng lại, lấy bàn tay gầy guộc kéo miếng khăn mỏ qụa cột ngang dưới cằm lên lau mặt. Ông Lục nom thấy, vội quay đi nơi khác:

– Thật là tội cho cô ấy và tội cho ông trưởng Bính.

– Nói cho ngay thì cũng tại nó ông ạ.

– Bà nói như thế, khéo mà oan cho cô ấy.

– Không rước chó… sói vào nhà, có khi nào chủ bị cắn. Thật, bà phó Ba chép miệng thở dài… nửa thì tôi thương nó, còn một nửa lại giận.

– Bây gìơ cô ấy còn ở bên bà không?

– Không ông ạ, cháu chỉ chạy đi chạy về thôi. Lúc sau này, ủy ban đến đặt vấn đề với tôi. Họ bảo là tôi cố ý phá hoại tình cảm của gia đình cán bộ, nên tôi buộc lòng phải khuyên cháu về. Về để giữ lấy cái nhà, kẻo mất hết ông ạ.

  Ông Lục buột miệng:

– Như thế chắc không ở với nhau được lâu.

– Chả nói dấu gì ông, cháu nó đã tính đến việc thôi nhau và xin chia cái nhà, nhưng ủy ban không thuận.

– Họ không thuận?

– Thuận thế nào được mà thuận. Vì thuận cho nó ly dị, có khác nào chửi bố cái chính sách cải cách đã giết bố nó.

– Sao bà không khuyên cô ấy tìm lý do khác?

  Bà phó Ba trả lời ngay:

– Chả còn lý do nào khác.

  Ông Lục buông xuôi câu chuyện:

– Giày dép có đôi, con người ta có số phải không bà?

– Ông nói thì tôi biết vậy. Riêng tôi, tôi chả tin.

Sợ bà phó hiểu nhầm ý của mình, ông Lục bình tĩnh cắt nghĩa thêm:

– Bà nói cũng phải, sự thường thì giày dép có đôi, con người ta có cái số. Hay nói đúng ra, lẽ ở đời ăn ở với nhau là có nhân có qủa. Nhưng từ lúc họ về thì mọi chuyện đã tự nhiên ra khác. Khác vì cái luân thường đạo đức của cha ông, họ bắt bỏ đi, rồi thay vào đó là cái đạo đức và nền văn hóa với con dao làm thước đo. Do đó, kẻ đáng chết chém thì lại ngồi ngất ngưởng trên cao, và người nên còn thì lại mất. Ngưng lại một chút, ông Lục tiếp:

 – Còn như tôi với bà đây, có khác gì cái lá vàng lắt lẻo trên cây, chả đáng nhắc nhở đến làm gì.

 Nghe thế, bà phó Ba ra vẻ thất vọng:

– Đến như ông thuộc diện gia đình liệt sỹ còn lo sợ chúng. Nhân dân và nhất là những thành phần như tôi thì cứ gọi là con cá nằm trên thớt. Phải thế không ông?

Ông Lục nhướng cao đôi mắt nhìn bà phó rồi im lặng. Ông im lặng vì đã không tìm ra câu giải đáp thỏa đáng, lại cũng không thể lên tiếng trách bà phó Ba cố tình nói nhời phân rẽ, làm tan vỡ khối tình xóm thôn! Phần bà phó, sau khi biết mình vô ý, nhắc lại lời nói với người không nên nói, bà ngưng bặt.

Cùng lúc ấy, một ngọn gío sớm thổi lướt qua, làm tung bay giòng tóc bạc của bà phó dưới vành nón rách. Bà Phó mỉm cười như thẹn, cài lại mái tóc và dõi đôi mắt mơ tuổi… sáu mươi theo con đường cũ. Con đường vắng lặng, không một bóng người qua lại. Bà tủi lòng, cúi nhìn xuống đôi bàn chân giao chỉ. Bà chỉ thấy làn da nhăn nheo, đen xạm, bám trên mặt đường. Bất giác, bà tắc lưỡi nghĩ thầm:

– Chả còn xót lại một chút hình bóng nào của một bà phó năm xưa.

Bà phó Ba đánh gía về mình đúng lắm. Vì khi nhìn lên, khuôn mặt không phấn, không son của bà chỉ còn lại một dung nhan tàn tạ với da mồi tóc bạc. Ngay ông Lục, nếu không nhớ đến cái âm thanh lanh lảnh của bà, chắc chắn ông không dám tin, người đang đứng trước mặt ông, chính là một bà phó Ba vang bóng một thời năm xưa. Ông không tin, vì lúc này, ông không thể tìm ra bất cứ một dấu vết nào trên người bà, để khả dĩ chứng minh, bà phó Ba đã là người của một thời hương xắc vàng son.

  Về hương sắc? Có lẽ bà phó Ba còn ít tuổi hơn ông, nhưng tuyệt nhiên ông không thể nhìn ra được bất cứ một nét nào gọi là… khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”. Trái lại, cái tàn tạ, cái nếp nhăn của thời gian đã áp đặt trên khuôn mặt và thân xác bà bằng những đường nét sắc sảo, táo bạo. Đến vàng son? Chịu! Ông Lục không thể tìm thấy gì ngoài những miếng vá khác màu, chằng chịt từng lớp đè lên nhau trên lớp quần áo màu nâu xòng, bạc phếch, khoác trên tấm thân gầy héo của bà.

Bấy nhiêu thứ vẫn chưa làm ông Lục hết nghi ngờ về chữ đài các của bà. Ông cẩn thận kiểm tra lại lần nữa. Ông Lục mừng rỡ, reo vui ánh mắt đặt lên cái khăn đen vấn trên đầu bà phó Ba. Ông tin rằng, đó chính là một cái khăn nhung. Một loại khăn biểu tượng cho giàu sang, cho đài các và cho một giai cấp bị nhà nước đấu tố.

Đến khi nhìn lại, ông cho đó là sự khắc nghiệt, là thù hằn hơn là đài các. Bởi vì nhờ cái khăn tung chỉ rách mép viền ấy, mái tóc bạc trước tuổi của bà phó ba được che bớt lại. Như thế, nó cũng dấu bớt một phần tội ác của Việt cộng, là kẻ đã tạo ra những mái tóc qúa sầu thảm trước tuổi đời cho nhân dân. Việt cộng phải cám ơn cái khăn nhung mới là đúng sách.

Rồi khi nhìn xuống, ông Lục xót xa bắt gặp đôi cánh tay gầy trơ sương với làn da nhăn nheo đen xạm của bà phó để trên vành rổ,  Sầu hơn thế, cánh tay để trần kia lại không quạt điều phe phẩy kiểu cách, nhưng choàng qua ôm hờ lấy mép cái rổ, trong ấy đựng vài củ khoai, như ôm lấy cuộc đời còn lại của mình.

Thấy thế, ông Lục lắc đầu chán nản. Ông tủi cho phận của bà phó. Đến khi nhìn lại đời mình, ông thấy cũng chẳng hơn gì. Nếu bà phó Ba tự hào vì nhờ bác, bà có được cái tang thương bi đát như ngày hôm nay. Ông Lục, lại hãnh diện vì nằm trong danh sách gia đình liệt sỹ của nhà nước, để ông có được lắm điều hơn người.

Về phần vóc dáng, năm nay ông Lục mới vào sáu mươi, nhưng bộ vó của ông không còn ăn khách chút nào. Trước hết, mái tóc của tuổi hai mươi gìơ đã đổi trắng, và hàm răng chỉ còn có… lợi. Kế đến, hai bên mí mắt sụp đổ xuống, trong khi cái gò má lại có khuynh hướng nhô cao lên như đỉnh núi. Rồi điểm trang cho cái dung nhan cuối mùa của ông, là một cái nón lá rách vành đội trên đầu. Nhìn nó, ai cũng biết, nó đã có một qúa trình tranh đấu với gió mưa qúa lâu dài rồi.

  Về phần trang sức. Bộ quần áo ông đang mặc trên người đã phô diễn toàn bộ ý nghĩa của mỹ từ gia đình liệt sỹ mà nhà nước ban tặng cho ông làm vốn. Đó là một màu nâu, một thứ màu vốn dĩ không bắt mắt, không gợi hứng, lại trải qua nhiều giai đoạn nắng mưa, lớp màu nâu nguyên thủy không còn thấy trên lớp quần áo của ông. Thay vào đó, một màu nâu pha sắc trắng với những lớp hoa nở rộ theo bàn tay vá may khéo léo của bà Lục. Như thế, nếu đem so sánh, ông Lục vẫn tích cực với chế độ hơn bà phó. Lý do, bà Lục rất giỏi trong nghề vá, bà vẫn phải để cho một bên cánh tay áo của ông lìa đời. Ông buồn tủi, thở mạnh một hơi:

– Thế mà trời cũng sắp trưa rồi đấy bà phó ạ.

  Bà phó Ba giật mình, ngửa mặt nhìn lên. Mặt trời đã nhô cao trên tầm mắt, cái bóng của bà đổ xuống bên đường đã thu ngắn lại, bà bảo:

– Chóng qúa ông nhỉ? Trưa thật rồi. Thôi, tôi phải đi đàng này một tý, và để cho ông còn ra đồng kẻo muộn. Còn chuyện? Có nói cả đời cũng không hết. Ông về, nhớ cho tôi gởi lời thăm bà nhá. Hôm nào rảnh, tôi sẽ ghé lại thăm bà sau.

  Ông Lục trả lời ngay:

– Phải, hôm nào mời bà phó lại nhà.

  Bà phó Ba nhắc lại:

– Thế nào tôi cũng đến, thôi ông đi nhá.

Họ nhìn, rồi bước đi ngược chiều nhau. Đi được mấy bước, cả hai cùng ngoái cổ lại phía sau lưng. Trong ánh mắt của ông Lục, của bà phó Ba, không có niềm vui, nếu như không muốn nói, nó như chỉ có một nỗi buồn thảm của ngày tiễn biệt.

                                              *

                                         *        *

Bất chợt, một tiếng thở dài làm nhói đau trong lòng ông. Ông nhớ đến cụm từ độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc của nhà nước. Nó không khác gì bó cỏ tươi được kéo rề rề trước mặt con trâu đói. Vì đói, trâu muốn cúi xuống gặm mớ cỏ, nhưng cái cày vẫn trì nặng trên lưng nó. Nó trì thân, kéo thêm một bước, bó cỏ lại chừng như cách nó xa thêm một bước. Rốt cục, con trâu bị gục xuống trên luống cày chưa xong.

Nghĩ đến đây, ông Lục thấy người lảo đảo, rồi hoa nắng như nổ tung trước mặt, ông gượng thêm những bước nặng trong nỗi im lặng cô đơn. Nhớ lại, trước đây ông đã tự hào, cho mình là người khôn ngoan, biết áp dụng câu châm ngôn bụng cứ rốn vào cuộc đời của ông. Lúc đó, ông coi nó là một chân lý, là một cây kim chỉ nam cho con người sống dưới chế độ cộng sản, nên ông đã gỉa điếc, giả mù trước những việc làm và lời nói của Việt cộng. Lúc này, qua câu chuyện với bà phó, ông Lục mới giật mình để biết: Khi ông áp dụng câu châm ngôn ấy vào đời của ông, nó trở thành một điều tai họa cho ông hơn là một điều phúc.

Họa vì, giữa lúc dân làng nghi kỵ ông theo Việt cộng làm hại làng xóm, ông đã không có một lời giải thích, còn ngậm miệng nhận cái mảnh bằng liệt sỹ và danh hiệu gia đình cách mạng của chúng. Bấy nhiêu đã qúa đủ để dân làng đánh giá và xa ông, vợ ông còn đeo vào cổ cái danh hiệu là mẹ chiến sỹ, mẹ cách mạng nữa mới là chết. Lúc này có hối cũng là bất cập.

– Thật là ngu qúa.

  Ông Lục buột miệng với chính mình khi cột cái võng vào thân cây trong bụi tre ở cuối cánh đồng, nơi ông tự coi như là căn nhà thứ hai của ông. Nhưng tiếng nói chưa dứt, ông đã giật nẩy mình quay lại phía sau:

– Chào ông. Thật là may qúa. Tôi đến nhà tìm ông nhưng không gặp, lại nghe bà bảo ông đã giắt trâu ra đồng, nên tôi

vội vàng chạy ra đây tìm ông ngay.

  Nghe nói, ông Lục buông thõng một đầu giây rơi xuống đất. Ông nhìn chằm chặp vào khuôn mặt người xã viên thân tín của Bảng:

– Có chuyện gì vậy chú?

  Khiêm nghiêm trọng trả lời:

– Báo cáo ông, tôi đến truyền đạt lệnh của ủy ban. Mời ông lên

ngay văn phòng ủy ban có chuyện cần.

  Ông Lục cho tay vào túi kiểm tra xáp thuốc và cái đèn bật:

– Chuyện cần à?

– Báo cáo ông, tôi không được rõ cho lắm, chỉ nghe ông chủ nhiệm truyền như vậy. Xin mời ông về ngay cho.

– Cám ơn chú đã báo tin! Chú cứ về trước đi, tôi thong thả ăn điếu thuốc rồi về sau.

 Thay vì bước đi, Khiêm xếch ngược đôi mắt nhìn ông Lục. Tuy là một kẻ theo voi hít bã mía, nhưng Khiêm lại tự cho mình là người có tầm vóc ngang hàng với thủ tướng Việt cộng. Do đó, gã tỏ vẻ khẩn trương, làm như ông Lục không đứng dậy đi theo gã thì sẽ… chết với gã:

– Không được đâu ông ạ. Như vậy e chậm trễ công việc của

ủy ban và chính tôi cũng bị khiển trách vì không truyền đạt lệnh khẩn cho ông. Trường hợp, ông muốn cho con trâu ăn thêm mớ cỏ. Ông cứ về, tôi sẽ ở lại hoặc gởi người đến trông chừng cho ông.

  Ông Lục nhìn Khiêm, người ông chẳng thương chẳng ghét. Tuy nhiên, bảo ông trao con Mễ cho Khiêm trông chừng chắc ông không dám, nhưng phải theo Khiêm về ngay ông lại không muốn. Tự nghĩ thế, ông Lục ngồi bệt xuống trên miếng mo cau đặt dưới gốc tre. Ông nói trống không trong lúc tay vê bi thuốc cho vào cái nõ:

– Mời với mọc gì mà mời mãi thế.

Tuy nói thế, nhưng thật ra ông Lục đã biết rõ cái lý do mà ủy ban muốn mời ông. Lúc đầu ông tính không đi, vì chuyện đâu còn có đó, không việc gì phải vội vàng. Nhưng không hiểu suy tính gì, ông đứng dậy, toan tháo sợi dây cột võng thì Dụng, con ông, ra tới. Nó bảo:

– Thôi, bố để con coi chừng con trâu cho. Bố về, lên ủy ban ngay đi. Từ sáng đến gìơ, họ nhắn mấy tin rồi. Mẹ con ở nhà không biết là có chuyện gì nên xốt ruột lắm.

  Ông Lục nhìn Dụng, hỏi lại:

– Họ có đến nhà à?

– Phải,  bố về đi.

  Bất đắc dĩ, sau khi dặn dò con vài câu cho có lệ, ông Lục quay gót. Khi vừa đặt đít xuống trên cái ghế trong văn phòng ủy ban, Bảng rồi Thọ, vào thẳng vấn đề:

– Trước hết, ông phải làm một lá đơn, xin đem con trâu và

mấy sào ruộng gia nhập vào hợp tác xã. Theo đó, con trâu được tính theo điểm lao động chính và ông sẽ là người được hưởng công điểm của nó. Phần bản thân ông, Bảng cho biết:

– Ông đã gìa, không thể là lao động chính. Tuy nhiên, chính sách của nhà nước là tận dụng mọi nhân lực, không để lãng phí sức lao động của nhân dân. Và theo yêu cầu công bằng của xã hội, ủy ban và hợp tác xã nhất trí điều ông qua tổ chăn nuôi theo diện lao động phụ. Nhờ ông phụ trông coi, chăn dắt trâu bò cho nhà nước.

  Bảng ngưng lại lấy hơi, Thọ tiếp:

– Trường hợp ông không làm đơn xin gia nhập hợp tác xã, đây sẽ là lần cuối cùng ủy ban có thảo luận với ông. Mọi hậu qủa xảy ra sau này, ông hoàn toàn chịu trách nhiệm. Riêng ủy ban, tự coi như ông không có tên trong danh sách hộ khẩu ở Xuân Thủy.

  Ông Lục chưa biết tính toán công việc ra sao, Bảng tiếp:

– Việc gia nhập hay không, tùy ông lựa chọn, ủy ban không ép buộc. Tuy nhiên, thằng Dụng con ông đã tới tuổi đăng ký thi hành nghĩa vụ quân sự. Ông chả nên động viên nó ở nhà để trốn nghĩa vụ.

  Ông Lục quắc mắt lên nhìn Bảng một cái, rồi im lặng. Đến khi ra khỏi văn phòng ủy ban, lòng ông Lục thấy ảm đạm theo từng dấu chân nặng nề. Đi giữa nắng mùa hè, mà ông ngỡ là ngày băng tuyết rơi. Rồi thay vì đi về nhà cho bà Lục biết tin, ông đi thẳng ra cánh đồng. Đến nơi, thấy Dụng đang nằm ngủ trên cái võng. Ông lặng lẽ ngồi xuống trên miếng mo cau làm hơi thuốc lào. Một lúc sau, ông lấy tay lay nhẹ trên cái võng đánh thức Dụng. Dụng giật mình, ngồi dậy hỏi:

  – Bố về rồi à?

  Ông Lục ậm ừ gật đầu, Dụng tiếp:

– Họ mời bố lên ủy ban có chuyện gì không?

  Ông Lục nhìn Dụng, trả lời cho qua chuyện:

– Cũng… chẳng có gì quan trọng lắm.

  Dụng đứng hẳn xuống đất:

– Chắc lại chuyện con trâu và sào ruộng?

 Ông Lục không dấu diếm:

– Chứ làm gì còn chuyện nào khác.

– Bố trả lời họ ra sao?

– Khất lại mấy ngày nữa rồi hãy tính.

– Vậy cũng được.

  Nói xong, Dụng ngồi xuống trước mặt ông Lục. Ông Lục nhìn Dụng một lần thật kỹ lưỡng rồi hỏi:

– Con đã đăng ký nghĩa vụ chưa vậy?

 Dụng ngạc nhiên nhìn ông:

– Nếu tính hạn, thì qúa mấy tháng rồi, vì thường trước 17 tuổi là phải đăng ký. Nhưng trường hợp của con, theo sắc lệnh của nhà nước và nhời của ủy ban lúc trước thì được miễn.

   Ông Lục hỏi như người ngủ mơ:

– Họ có hứa như thế à?

– Có hứa mà.

  Ông Lục choáng váng, mở bừng hai con mắt:

– Thế mà bố quên ắng câu chuyện ấy. Thôi con đi về, gánh

cho mẹ con vài gánh nước tưới liếp rau, chiều bố về.

Dụng bước đi với nhiều thắc mắc trong lòng. Trong khi đó, ông Lục tự hỏi:

– Có phải trời sắp mở cuộc dông bão để xóa bỏ hẳn hình dạng trơ xương, cũng như bóng dáng của con trâu, cái cày và cái nón rách bạc màu của ông ra khỏi cánh đồng cạn này chăng?…  

  • Chương 1

    Sau hơi thuốc lào dãn phổi, Bảng đứng dậy, nhịp nhàng vỗ đôi tay vào nhau:  - Báo cáo làng nước đã hết gìơ nghỉ. Yêu cầu làng nước tranh…

  • Chương 2

    Sau khi khóa cánh cửa ra vào bằng một ống khóa to bản, Bảng kẹp cái mũ cối vào bên hông, bước vội ra đường. Trên đường về, Bảng gặp…

  • Chương 3

    Ra đến đầu ngõ, Bảng thấy một bóng người chạy xầm xập lại trước mặt. Gã quát hỏi: - Ai đó? - Tôi đây! Thưa ông chủ nhiệm. - Anh…

  • Chương 4

    Thời khóa biểu của ông Lục vào những ngày không đưa con Mễ đi cày rất giống nhau. Buổi sáng, sau khi lót dạ một chén cơm nguội, hoặc một…

  • Chương 5

    Chiều đến, ông Lục lững thững dắt trâu về nhà. Trong lúc chân ông bước từng bước chậm chạp trên con đường mòn cũ, lòng ông không quên nhẩm lại…

  • Chương 6

    Sau khi căn dặn Dụng một số điều cần phải làm khi nó sửa soạn dắt trâu ra đồng, ông Lục ra mở cổng, dắt con Mễ ra khỏi chuồng…

  • Chương 7

    Đã từ lâu lắm, hôm nay ông Đăng mới có được một niềm vui nho nhỏ. Niềm vui đó chính là sự đả thông nỗi lòng uẩn ức giữa ông…