Chiều đến, ông Lục lững thững dắt trâu về nhà. Trong lúc chân ông bước từng bước chậm chạp trên con đường mòn cũ, lòng ông không quên nhẩm lại từng lời của Thọ, Bảng trong cuộc gặp gỡ buổi sáng:

– Cái ấy thì tùy ông quyết định lấy, nhà nước không thể quyết định thay cho ông được. Trong hiện tình của ông bà, ủy ban đã xét đến hai phương án cho ông lựa chọn. Một là thằng Dụng khỏi phải đi thi hành nghĩa vụ quân sự. Hai là ông giữ lấy con trâu và sào ruộng làm… vốn, và ủy ban coi như ông không có tên trong hộ khẩu của xã. Ngoài ra, chả còn phương cách nào khác.

Sau câu kết luận của Bảng, ông Lục lủi thủi ra khỏi văn phòng. Khi đi, đầu ông cúi gằm xuống đất như sợ phải nhìn thấy ánh sáng mặt giời, vậy mà tai ông vẫn nghe rõ tiếng cười đắc thắng của Bảng đuổi theo sau lưng. Ông uất ức, dằn mạnh gót chân xuống trên đường. Kết qủa, cái dậm qúa mạnh làm đau thêm đôi bàn chân.

– Chào ông ạ.

– Không dám…

Ông Lục giật mình đứng lại, trả lời theo một phản ứng tự nhiên. Đến khi nhìn lên, người vừa chào ông đã đi khuất trước mặt. Vì trời đã nhá nhem tối, ông không biết người vừa chào ông là ai. Ông lại tiếp tục cất bước và không thắc mắc gì đến những lời chào hỏi tương tự.

Trong khi ấy, đứng nhìn trời chiều đã ngả hẳn về tây, bà Lục thêm sốt ruột. Bà  không biết lý do gì ông Lục đã về  trễ. Nhớ lại buổi sáng, sau khi ông Lục dắt trâu ra khỏi nhà chưa được bao lâu, xã viên Khiêm đến tìm ông và cho bà biết, uỷ ban muốn mời ông lên trụ sở có chuyện cần gấp. Khi nghe Khiêm thông báo, bà Lục không một thắc mắc về lệnh mời. Bà tỏ vẻ dửng dưng nhìn anh xã viên, sau đó, trả lời cho có lệ. Trước thái độ khinh khỉnh của bà Lục, Khiêm không hài lòng. Gã bỏ đi một lúc, rồi quay lại với dáng điệu như… thủ tướng Việt cộng. Bà Lục bực mình bảo Khiêm:

– Tôi đã bảo anh, ông nhà tôi đưa con trâu ra đồng cho nó kiếm miếng cỏ. Anh muốn dạy bảo gì thì chờ đến tối, hoặc ra đồng mà kiếm. Còn tôi, tôi chẳng biết ông ấy đi đâu mà chỉ.

Tuy nói cứng, nhưng sau khi Khiêm đi khỏi, bà Lục không yên tâm. Bà dục con ra đồng coi chừng trâu cho ông. Qua trưa, Dụng trở về. Nó nói với bà câu được câu mất, bà không hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao. Từ đó, bà có ý mong ông về sớm. Ai ngờ càng chờ, càng thấy trời mau tối. Sốt ruột, bà Lục lần bước ra đầu ngõ, rồi tiện đường, đi thêm một quãng. Đến lúc này bà mới trông thấy bóng mờ mờ và nghe bước chân con Mễ nặng nề gieo trên đường. Bà vội đôi chân đến bên ông:

– Sao ông về trễ thế?

Cả đời ông Lục chả nói dối vợ câu nào, hôm nay ông bảo:

– Trễ lắm rồi hả bà? Tại tôi dở nói câu chuyện với bà phó Ba.

Bà Lục tin ngay:

– Ông gặp bà phó à, bà ấy có khỏe không? Có đến hơn năm nay tôi không gặp bà ấy. Không biết sinh hoạt của bà ta thế nào?

– Khỏe, khỏe lắm! Bà ấy gởi lời thăm bà và hứa hôm nào rảnh sẽ đến chơi. Còn sinh hoạt của bà ấy, thong thả rồi tôi sẽ kể cho bà nghe.

Nối gót theo ông Lục vào đến trong sân, bà chép miệng:

– Nghĩ đến tội cho bà ấy, ông phú vừa nằm xuống là trắng tay. Mà chuyện người ta tịch thu hết ruộng đất, rồi đuổi bà ấy ra khỏi nhà có thật không hả ông?

Ông Lục ghé sát bên tai vợ:

– Có thật đấy bà ạ. Lúc trước nghe tin đồn, tôi không tin. Hôm

nay gặp mặt, chính bà ấy nói tôi mới tin. Mới chỉ có mấy năm, nhưng nom bà ấy khác xưa nhiều lắm. Tóc tai thì bạc trắng, hình dạng gìa yếu hom hem lắm. Nếu không nhìn kỹ, chả ai nhận ra. Cũng may mà lúc ấy gia đình ta quyết không đi dự, tham gia các vụ đấu tố của chúng. Tôi nghĩ dại, nếu hồi đó tôi theo yêu cầu của chúng mà đi đấu tố người ta để kiếm miếng ăn thì nay nên thắt cổ mà chết đi còn hơn là nhìn thấy họ thân tàn như thế.!

Bà Lục nguýt yêu chồng:

– Điều ấy đã hẳn. Làm người thì phải hơn xúc vật chứ. Có loại chính phủ, nhà nước nào lại như bọn trộm cướp đi giết người để kiếm miếng ăn như thế! Nhưng đây, ông nhìn lại… ông với tôi đây,  xem có hơn gì?

Ông Lục ngước nhìn bà một cái rồi dắt trâu vào chuồng. Xong việc, ông quay gót. Bà Lục, bước theo sau , hỏi vội:

– Sáng nay ông lên ủy ban có chuyện gì không?

Ông Lục ậm ừ cho qua chuyện:

– Thì cũng vẫn chuyện con trâu và sào ruộng.

– Ông trả lời họ ra sao?

Thay vì trả lời cho bà, ông Lục dợm chân đi đến bên chum nước. Ông cởi áo ra máng lên đầu cái cọc. Một tay với lấy cái khăn mặt đã sờn mép và bạc màu máng trên giây phơi. Một tay cầm cái gáo, múc vài gáo nước đổ vào trong cái thau đồng. Đây là cái thau ông đã dùng mấy chục năm nay. Nó là của hồi môn, bên nhà gái cho ông trong ngày ông cưới bà Lục. Đến nay, nó không còn giữ nổi hình dạng và màu sắc như lúc ban đầu. Tuy thế, ông Lục vẫn thích dùng cái thau nhiều kỷ niệm ấy để rửa mặt.

Trong khi ấy, bà Lục trải cái chiếu cói xuống trên nền nhà, rồi trịnh trọng đặt mâm cơm lên đó. Trên mâm cơm xã hội chủ nghĩa sau một ngày dài lao động, chỉ thấy một màu thanh đạm. Mấy qủa cà ghém, bát canh rau đay, vài con cá nhỏ kho mặn, và nồi cơm qúa một nửa là ngô khoai. Tuy thế, ông Lục  thường ăn rất ngon miệng. Nhưng chiều nay, rõ ràng ông  không một hứng khởi khi nâng bát cơm lên. Cử chỉ khác lạ của ông Lục khó qua đôi mắt tinh tế của bà. Bà Lục nhìn ông lo lắng.

Bất ngờ, sau chén cơm tẻ nhạt, ông Lục bỏ chén đũa xuống chiếu, chống tay đứng dậy. Ông đến bên cái chõng kê gần lối cửa ra vào, bẻ lấy cái tăm trong ống tre cho vào miệng. Ông hút điếu thuốc, uống hớp nước rồi lặng lẽ bước ra sân. Ông đi về phía đầu hè, đứng bên liếp rau, dõi đôi mắt nhìn về cuối chân trời xa. Lòng đầy ngổn ngang với muôn nghìn mối thắt.

Phần bà Lục, thu dọn chén bát xong. Một tay bưng bát nước, một tay cầm miếng trầu đi ra cửa. Bà giật mình khi nhìn thấy dáng ông đứng lặng lẽ như một tượng gỗ sau vườn. Bà hắng dặng một cái, lần bước đến, tiếng nói pha lẫn lo âu:

– Ông thấy trong người không khỏe à?

Ông Lục quay lại chưa trả lời, bà tiếp:

– Nếu ông thấy trong người không khỏe, từ ngày mai ông giao công việc đồng áng, con trâu lại cho thằng Dụng để nó tập làm tập ăn. Còn ông, dùng thì gìơ mà nghỉ ngơi. Tuổi ông lúc này đã cao, lại thêm cảnh sớm hôm lặn lội, tôi không được yên bụng.

Ông Lục nhón gót quay trở lại:

– Nào có vất vả gì đâu mà bà phải lo. Thằng Dụng nó còn ở nhà hay đi sinh hoạt rồi?

– Nó đã đi từ lâu.

Ông Lục cứ suy đi tính lại, xem có nên nói cho bà Lục nghe câu chuyện buổi sáng hay không? Nói sớm thì nhức đầu sớm, chẳng có lợi gì. Ông nghĩ như thế và quyết định dấu bà cho đến khi nào không dấu được nữa, ông mới nói. Nhưng linh tính của bà Lục như báo cho bà biết có chuyện chẳng lành, bà nối gót theo ông:

– Ủy ban họ tính sao hả ông? Mình dứt khoát phải giao nộp con Mễ và gia nhập hợp tác xã à?

Ông Lục ngồi xổm trên vỉa hè gần lối cửa ra vào, tiếng ông rời rạc:

– Tuy là của đau, nhưng thật ra tôi không lo về chuyện con trâu và sào ruộng. Tôi chỉ lo cho cái thằng Dụng.

Bà Lục nhướng cao đôi mắt nhìn ông hỏi lại:

– Ông chỉ lo cho cái thằng Dụng?

– Phải. tôi lo cho nó lắm.

Bà Lục kéo, trải rộng manh chiếu ra trên vỉa hè:

– Ông nói như thế là có ý gì?

– Nào có ý gì đâu. Thấy nó lớn là tôi thêm lo. Phần thì muốn lo dựng vợ gả chồng cho nó. Phần khác, lại lo đến chuyện

nghĩa vụ, lính tráng.

Tiếng bà Lục vút lên:

– Ông chỉ khéo lo bò trắng răng. Nó là con một còn lại của

gia  đình liệt sỹ, có lý nào phải thi hành nghĩa vụ mà ông lo. Có lo thì nên lo cái chuyện trăm năm cho nó.

Ông Lục không hài lòng trước câu nói chắc như đinh đóng cột của ba. Ông tính nói toạc cái bản tin sáng nay ra cho bà trắng mắt, nhưng lại thôi:

– Nếu thế, bà xem có đám nào được thì lo cho nó, kẻo trễ.

Suốt từ chiều đến gìơ, ông Lục mới nói được một câu nghe lọt lỗ tai. Bà Lục hài lòng, bỏ quên mọi lo lắng về ông. Bà đứng dậy, trở vào trong. Lát sau, bà mang ra cái điếu, ấm nước chè nóng và hai cái bát sành. Bà rót cho ông nửa bát nước nóng và tự têm cho bà một miếng trầu. Ngồi chống chân trước sân, ăn miếng trầu cay dưới ánh trăng non đổ chênh chếch xuống trên đầu ngọn tre, lòng bà bỗng rộn lên một niềm vui mới.

Trong khi đó, ông Lục vẫn đăm chiêu trên manh chiếu rách. Ông không nỡ trách bà nông nổi, hay tin vào những lời nói không đầu không đuôi, không đáng tin của nhà nước. Nhưng ông lại không tìm ra đáp số cho bài toán nan giải trong lòng. Kết qủa, ông đành buông tiếng thở dài theo hơi khói:

– Thật là cây muốn lặng, gío chẳng đừng.

Bà Lục nguýt chồng một cái:

– Chuyện!

Chuyện! Một chữ ngắn gọn của bà Lục đã nói cho ông nghe cái ý nghĩa qúa dài:

– Chuyện ấy đã hẳn nhiên. Chuyện ấy ông còn nhắc đến làm

gì? Chuyện nếu chúng không về đây, dân ta đâu có bần hàn

và ra nông nỗi này. ..

Chuyện khi chúng đã dựng cái búa, cái liềm lên làm bảng hiệu, làm tiêu biểu cho chúng thì nhân dân phải biết ngậm đắng, nuốt tủi hờn. Phải biết lấy tang thương ly biệt làm lẽ sống. Lấy sầu thảm thế niềm vui. Lấy dòng nước mắt không vơi cạn thế cho tiếng cười, và lấy đói rách cơ hàn thay thế cho ấm no hạnh phúc. Và còn nhiều chữ chuyện khác nối tiếp theo ý nghĩ của bà, trong đó có một chữ chuyện khá quan trọng, bà muốn nhắc nhở cho ông. Chuyện… chúng không về, thằng con ông đâu có chết mất xác.

Nói xong, bà Lục đứng lên, ông nhìn với theo. Những tưởng mỗi lần nhắc đến chuyện cũ là một lần làm cho tình chồng nghĩa vợ của ông bà sẽ rách toác ra vì sự bất đồng ý kiến. Ông có ý đấm ngực ăn năn và chừa, không bao gìơ nhắc đến chuyện xã hội chủ nghĩa với bà nữa.

Một lát sau, bóng bà Lục lại thấp thoáng bên cửa bếp. Bà trở ra với một mùi thơm quyến rũ, rất quen thuộc. Một mùi thơm mà lâu nay ông đã bỏ quên. Đó là mùi khoai nướng. Ông mỉm cười. Bà bẻ củ khoai ra làm hai, đưa cho ông phần lớn hơn:

– Ăn đi cho nó nóng ông ạ.

– Ở đâu ra thế hả bà?

Bà Lục nói như kể công:

– Lúc sáng đi chợ, hỏi thăm mãi tôi mới mua được vài củ.

– Nhà nước bán đột xuất à?

– Nhà nước nào bán. Bà Xuyến ở xóm trên đấy.

– Bà ấy lấy ở đâu ra thế?

– Chả biết. Thấy bà ấy có lưng một rổ, nhưng chưa ra đến chợ đã hết. Cũng may mà tôi nom thấy bà ấy sớm.

Ông Lục nhớ đến con:

– Bà có để phần cho thằng Dụng chưa?

– Có rồi.

Ông Lục cầm nửa củ khoai, chuyền từ tay này sang tay kia

cho bớt nóng. Sau đó, ông từ từ lột vỏ. Miếng vỏ nào khi lột còn dính chút khoai, ông cho lên miệng, gặm lấy xác khoai. Ông chỉ vất bỏ lớp vỏ khi biết chắc không còn một chút khoai nào dính trên đó. Bà Lục có cung cách giống ông. Cả hai ông bà cùng im lặng, thong thả cho miếng khoai với mùi thơm đặc biệt vào miệng. Họ miên man thưởng thức mùi thơm ngon hiếm hoi này bằng cách chờ miếng khoai bở tan trong miệng và chảy tuột xuống đáy dạ dày thay vì nhai ngấu nghiến. Lát sau, bà Lục với tay bưng bát nước chè nóng lên miệng. Bà uống một hớp, bảo ông:

– Nói lại câu chuyện dở hồi nãy. Chuyện thằng Dụng ông tính thế nào?

Ông Lục nhìn vợ, chậm rãi:

– Thì nó đã lớn rồi. Tôi với bà, có sống cũng không được mấy

nỗi nữa. Nhân lúc, trời cho mình còn khỏe mạnh và nó còn ở nhà, mình nên lo toan cho nó. Bà xem có đám nào ưng ý, thì khuyên bảo nó hộ tôi.

Bà Lục mở to đôi mắt nhìn ông. Bà muốn hỏi ông xem vì cái lý do gì, ông bảo nhân lúc nó còn ở nhà? Nhưng lại nói:

– Không biết ý nó đã muốn lập gia đình hay chưa?

– Việc ấy bà nên dò hỏi và khuyên bảo nó cho tôi.

Được lời, bà Lục lên tinh thần, bà nói như có chủ đích từ trước:

– Ông thấy cái Thắm con bà Xuyến có được hay không? Hay là cái Hồi, con ông bà Đăng?

Ông Lục chưa có ý kiến. Ông bận hút điếu thuốc. Bà Lục tiếp:

– Tôi thấy cả hai đứa đều được người được nết ông ạ. Bản thân chúng tốt, phần gia đình không có tai tiếng gì. Hơn nữa, đôi bên  đều là người thân thiết với mình lâu năm. Tôi nghĩ, nếu có ngỏ ý, chắc họ chả từ chối. Nhưng giữa hai đứa ấy, tôi thích cái Hồi bên ông bà Đăng hơn. Không biết ý ông thế nào?

Ý ông thế nào? Câu hỏi ngắn gọn, nhưng nhất thời ông Lục không thể trả lời cho bà. Bởi lẽ, ông Lục, ông Đăng là đôi bạn thân thiết với nhau từ thuở nhỏ, tuy  tuổi ông Đăng có lớn hơn một chút. Khi lớn lên, cả hai đều bắt đầu sự nghiệp với nghề làm tá điền cho một viên chánh tổng. Cuộc sống của hai người không có chi dị biệt. Hơn thế, tình làng xóm, tình đồng nghiệp mỗi ngày như chất keo, thắt chặt thêm mối giây liên kết giữa đôi bên. Chả có bữa giỗ, bữa tiệc nào tại nhà ông Lục vắng bóng ông Đăng, ngược lại cũng thế.

Nhìn mối thân tình giữa ông Đăng và ông Lục, người ngoài cho rằng: Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song cái chân tình ấy không đời nào thay đổi. Ai ngờ, vào một sáng mùa thu, vì câu chuyện của đất nước. Ông Lục đã cho đứa con lớn đi theo Việt Minh, và ông Đăng dục người con cả ghi tên vào lính Cộng Hòa.

Kể từ mắt xích ngược đường đó, ông Lục, ông Đăng đã có nhiều đêm mất ngủ. Lại thêm kẻ nói ra, người tán vào, khối tình chắc như keo kia bắt đầu dãn nở như sợi giây thung.  Tuy thế, sự dãn nở này còn rất giới hạn. Ông Lục và ông Đăng mặc nhiên chấp nhận hoàn cảnh trái ngang của đất nước lúc bấy gìơ. Dù không có lời giao kết, cả đôi bên ít nhắc đến chuyện Việt Minh hay Quốc Gia mỗi khi gặp gỡ, chuyện trò với nhau.

Thật ra, ý thức về Quốc Gia hoặc cộng sản vào thời điểm đó, chưa hoàn toàn rõ nét trong họ. Đại ý, những người sống trong nông thôn như ông Đăng, ông Lục, chỉ muốn có chung một đáp số. Họ mong có ngày hòa bình, muốn có ngày được tự do ấm no hạnh phúc. Họ không muốn nhìn thấy quê hương Việt Nam tiếp tục bị chà đạp dưới gót giầy của thằng tây xâm lược.

Từ ý niệm đó, ông Lục đã gạt nước mắt phân ly, tiễn con vào đường sương gío theo Vẹm chống… Tây. Lúc cho con theo Vẹm chống tây, không phải ông Lục là người có chí lớn, muốn con ông trở thành nhà cách mạng hơn đời, hơn người. Cũng không phải vì ông mong có nhà lầu, xe hơi. Nhưng vì Vẹm giỏi lừa phỉnh, nên ông nhầm.

Phần ông Đăng, ông cho con đi lính Cộng Hòa để bảo vệ Quốc Gia, bảo vệ đồng bào, và đuổi cổ mấy thằng Tây ra khỏi đất nước, không phải vì ông Đăng giỏi tính hơn ông Lục. Cũng không phải ông Đăng là người thấy trước được cái bản chất từ… khỉ mà ra của bác. Nhưng tại ông cho con ông đi học, thầy giáo của nó theo Cộng Hòa bảo vệ Tổ Quốc, thì nó đi theo quốc gia. Dĩ nhiên, đây chỉ là những ý nghĩ ban sơ buổi đầu. Nhưng càng lúc, cục diện càng đổi thay. Người dân sống sau lũy tre xanh như ông Đăng, ông Lục đã dần dần nhận thức được chữ Quốc Gia và cộng sản mang ý nghĩa gì:

Tóm tắt, Về phía người quốc gia, họ đang lo tháo mồ hôi để dành độc lập cho quê hương. Trong cuộc tranh đấu này, người quốc gia phải đối đầu với hai loại kẻ thù của dân tộc:

– Kẻ thứ nhất, bọn thực dân Pháp.

– Kẻ thứ hai là Việt Minh cộng sản.

Kẻ thứ nhất, ai cũng biết. Riêng kẻ thứ hai là bọn Việt Minh cộng sản thì nhiều người nhầm. Nhầm bởi vì, đây là một tổ chức võ trang dấu mặt. Bề ngoài, Việt Minh vờ hô hào đoàn kết quốc dân, liên minh với các đoàn thể quốc gia để chống kẻ thù chung của dân tộc là bọn thực dân đế quốc. Nhưng trong thực tế, đây là một tổ chức phi nhân theo chủ nghĩa tam vô. Chúng đã âm thầm tặng cho đồng bào, cho những  người anh em quốc gia những nhát mã tấu thấu tim từ phía sau lưng. Từ đó, nhân dân nghe đến tên Vẹm, tên Hồ là dựng tóc gáy. Ông Lục cũng không ngoại lệ. Có lần, ông trằn trọc vào lúc nửa đêm, bảo vợ:

– Khéo mà hỏng bà ạ. Mình đã nhầm lẫn để cho thằng cả đi theo cái bè Việt Minh. Tôi quyết, nó chẳng thể trở thành nhà cách mạng cứu dân cứu nước được. Tệ hơn thế, nó có thể trở thành cái họa cho làng xóm.

Nghe được lời ăn năn xám hối của ông, bà Lục không quên lên gối:

– Thì tôi đã bảo ông ngay từ trước khi nó đi. Nếu mà cái… bè, cái đảng ấy tử tế, việc gì chúng phải lấp lấp ló ló ngoài hàng rào bên bụi cây như phường trộm đạo! Nhưng ông đã không nghe, không bàn bạc với tôi, lại tự quyền quyết định cho nó đi. Bây giờ ông còn than thở nỗi gì?

Ông Lục im bặt vì sự kiện lên chân của vợ. Riêng bà Lục, chừng như chưa hài lòng với chiến thắng to nhớn ấy, bà lên giọng:

– Rồi đến cái thằng Dụng, ông sẽ tính sao đây?

Ông Lục xụi lơ trước câu hỏi của bà. Ông tự biết răng đã cắn

phải lưỡi. Ông không có đường trả lời. Vào thời điểm ấy, ông Lục, ông Đăng vẫn còn đi lại với nhau. Tuy thế, trong những lần gặp gỡ, họ hầu như chỉ ngồi bó gối nhìn nhau và than thở cho thời thế nổi trôi hơn là những câu chuyện tương lai, xóm giềng.

Đến khi tờ hiệp định đình chiến ra đời, Phan Thông, người con trưởng của ông bà Đăng vội vàng trở về. Thúc dục ông bà Đăng và gia đình phải cuốn gói lên đường vào nam lánh nạn cộng sản. Tuyệt đối không nên ở lại miền bắc. Nghe Thông nói, ông Đăng phần nào nhận chân được cái bộ mặt thật của Hồ Quang, nhưng ông lại bảo Thông:

– Con đã nghe câu ”thuận thiên gỉa tồn, nghịch nhân gỉa vong”. Do đó, con không nên lo cho thày mẹ. Nếu chúng làm những điều nghịch với lòng trời, bất đạo với nhân tâm. Chúng sẽ tự rước lấy cái họa diệt vong. Còn chuyện gia đình sum họp, có ai không muốn. Nhưng trong hoàn cảnh này…

Mới nói được mấy lời, ông Đăng ngập ngừng đưa ánh mắt sầu muộn nhìn mái nhà, và mảnh đất cũ. Lát sau, ông bùi ngùi tiếp:

– Con cũng biết, phần gia nghiệp này tuy không lấy gì làm to lớn. Nhưng nó chính là mồ hôi, nước mắt và có khi là máu của ông bà đã ra công gầy dựng nên. Từ đó, phận làm con cháu không thể nào một sớm một chiều ngoảnh mặt bỏ đi. Hơn thế, tuổi của cha đã vào lúc xế bóng, không còn thích hợp với việc bôn ba. Riêng con, tuổi còn trẻ, sức vươn còn dài. Con cũng nên xông pha với đời một phen.

Thấy Thông lưỡng lự chưa quyết, ông Đăng bảo:

– Ý cha đã dứt khoát như thế. Con hãy vào chào mẹ con rồi đi, kẻo lỡ.

Biết không thể lay chuyển nổi ý nghĩ của ông Đăng. Thông đành gạt ngang đôi dòng lệ, chào biệt ông bà Đăng và dắt thêm hai người em kế theo đoàn quân vào nam.

           *

        *    *

Về phía ông bà Lục. Sau ngày đình chiến, không thấy ông bà

Lục mở tiệc mừng chiến thắng. Nhưng thấy ông bà Lục rầu rĩ, đi ra đi vào, rồi thay phiên nhau nghểnh cổ nhìn ra đầu ngõ như đang ngóng đợi một điều gì.

Hỏi ông, ông không nói.

Hỏi bà, bà lặng thinh.

Đến khi hỏi gío, gío lạnh lùng sang canh.

Tìm thu, chỉ thấy thu tàn.

Theo đông, đông chết trên cành cây trụi lá.

Riêng ông Lục, chẳng một đổi thay. Ông vẫn ngồi lặng lẽ dưới gốc mai gìa đã xanh lá bên hè. Mãi đến khi có tiếng Cuốc gọi Hè, mới thấy ông Lục đứng dậy. Ông đứng dậy vì vừa nhận được tin của người con ra đi đánh Tây năm nào.

Có một chuyện rất lạ xảy ra trong nhà ông Lục vào ngày ông nhận được tin con. Lạ vì khi nhận được tin con, ông không nhảy ra đường reo hò mừng rỡ như lời khuyên của bác, đảng. Cũng không dục bà bắt con gà mái dầu làm tiệc, và dục thằng Dụng đi mua lít rượu nếp về uống mừng ngày đoàn viên. Nhưng thấy đôi tay ông run rẩy, vòng ra ôm chặt lấy cái đầu gối đánh nhịp không đều trên cái chõng.

Sở dĩ có sự kiện trái chiều này là vì ông bà Lục không nom thấy mặt con trở về. Nhưng cầm được tờ giấy báo tin của nhà nước.

Theo tờ giấy báo tin này, nhà nước khuyên ông bà Lục không nên buồn. Lý do, người con yêu qúy của ông bà đã được vinh thăng thành một liệt sỹ anh hùng của nhân dân. Vì nó đã thành liệt sỹ, nên nhà nước lờ luôn việc báo cho ông bà Lục biết ngày giờ nó ra đi để ông bà Lục nhớ lấy mà làm giỗ. Và… quên luôn việc báo cho ông bà Lục biết nơi, nhà nước đã đào lỗ xây lăng mộ cho nó.

Sau khi báo bản tin thứ nhất cho ông Lục, nhà nước chưa hả dạ, nên nhân lúc ông Lục mất hồn vía, bà Lục chưa hết nước mắt. Nhà nước ưu ái tặng cho ông bà Lục tấm giấy báo thứ hai. Theo bản tin thứ hai này. Nhà nước hoan hỉ thông báo cho ông Lục biết. Người em út của ông, một đồng chí cực vĩ đại của bác đã anh dũng hy sinh trong chiến dịch Điện Biên và có để lại cho ông một đôi dép râu làm kỷ niệm. Riêng cái lý do thì nhà nước viết rằng: Đồng chí ấy đã xung phong, tìm chiến thắng trong lúc ta tấn công… nhầm vào ổ súng máy của thằng địch.

Nghe đọc xong hai bản tin này, ông Lục hồn vía lên mây. Riêng bà Lục, cung cách của bà hoàn toàn khác ông. Bà thấy trời đất quay cuồng, cái rá gạo chưa vo ở trên tay bà, bỗng đổ ụp xuống đất. Bà thảng thốt kêu lên một tiếng, rồi để mặc cho cái miệng mở rộng ra, và cho hai dòng nước mắt đổ như thác xuống trên hai gò má trũng. Cung cách khác thường này của bà, hình như chưa trả đủ vốn cho cuộc đợi chờ. Bà vật mình xuống đất, lấy đôi tay cằn cỗi đập bình bịch xuống trên nền nhà…

Nhớ lại, ngay từ lúc bản hiệp định chia đôi đất nước ra đời và không thấy tin con. Ông bà Lục đã từng đêm trắng mắt với giấc ngủ mơ màng. Khi tỉnh dậy, ông bà Lục hy vọng đó chỉ là những cơn mộng mị, chẳng ai dám cầu trời khấn đất cho nó trở thành sự thật. Kết qủa, chuyện không cầu vẫn đến. Từ đó ông buồn, ông giận, ông mất khôn. Ông đã nặng lời mắng nhiếc bác. Mắng vì khi nó… nhỡ làm anh hùng, nhà nước đã không chịu đưa xác nó về cho ông nhìn thấy mặt lần cuối, lại cũng không thông báo cho cả nước để tang.

Sau khi thiếu suy nghĩ, trách oan lòng tốt của nhà nước, ông

Lục lại giận luôn ông Đăng. Ông giận ông Đăng vì một nguyên do khá đơn giản. Tại ông Đăng có con đi lính Cộng Hòa chống lại với con ông. Giận vì nếu nó không làm… tay sai cho thằng địch, con ông đã không ăn đạn đồng. Sau lần nói thẳng nói thật ấy, mối thân tình giữa ông Lục và gia đình ông Đăng nhạt đi trông thấy.

Chuyện là  thế, tuy nhiên, đến giai đoạn này mối tình giữa ông Đăng và ông Lục mới chỉ nhạt đi qúa một nửa. Phải chờ đến sau ngày ủy ban nhân dân Xuân Thủy tổ chức ăn mừng chiến thắng. Làm lễ tuyên công, phát văn bằng tưởng thưởng, nâng cấp những gia đình đã dập mật vì cách mạng như ông Lục lên hàng khanh tướng của chế độ. Sau đó, xây đài đấu tố, buộc vào cổ ông Đăng bản án thành phần thì mọi việc mới được coi là chấm hết.

Câu chuyện này, ông Lục đã tạm quên vài năm nay. Đến lúc này, khi nghe vợ nhắc đến tên của người xa xưa, ông bỗng dưng thấy buồn. Bởi vì bát nước đã lỡ đổ, hốt lại làm sao đây? Cùng lúc ấy, có tiếng bà Lục nhắc lại:

– Ý ông thế nào?

Mải nhớ về câu chuyện cũ, ông Lục giật mình bảo:

– Bà hỏi ý tôi về chuyện gì?

Tiếng bà Lục cao vút lên:

– Ông hay nhỉ. Đang nói chuyện về việc của thằng Dụng, tôi muốn hỏi ý kiến của ông về con Hồi với con Thắm. Ông đã không trả lời lại còn nghĩ đi đàng nào?

Ông Lục như người vừa tỉnh ngủ:

– Bà tính hỏi cái Hồi con ông bà Đăng cho nó đấy à?

– Phải, tôi định thế! Không biết ý kiến ông ra sao?

Tiếng ông Lục vẻ rời rạc:

– Có lẽ không được đâu bà ạ. Cái chỗ ấy…

Trước câu trả lời như có sẵn chủ đích của ông Lục. Bà hỏi thẳng:

– Ý ông định chê người ta bị ghép vào thành phần, còn gia đình ông thuộc diện gia đình liệt sỹ chăng?

Bà Lục nói to, vô tình chạm vào chỗ đau trong lòng ông. Ông quắc mắt lên, gằn giọng:

– Bà ăn nói hay nhỉ?

Bà Lục xững xờ khi nghe tiếng chồng gắt gỏng. Nhưng lại lên tiếng ngay:

– Ông không chê người ta vì cái khoản ấy, ông chê cái Hồi vì lý do gì mà đề quyết là không được?

Nghe bà Lục hỏi những câu trật đường, ông Lục, trên tay cầm sẵn cái đóm đã châm lửa, nhưng không hút nổi điếu thuốc. Ông dụi đóm lửa trên hè và bỏ cái điếu xuống. Ông nhìn bà bằng ánh mắt đầy thất vọng. Thất vọng vì chính người vợ đầu gối tay ấp của ông mấy chục năm qua, còn nghi ông vì cái thể diện, vì cái danh hão huyền gia đình liệt sỹ kia để mất bạn bè, mất xóm làng thì trách người ngoài làm sao đây? Tự nghĩ thế, ông Lục nén tiếng thở dài. Cùng lúc, bà  Lục lên tiếng:

– Thật, chả ai như ông. Có được mối thân tình hiếm hoi ấy. Ông đã không lấy giây rợ mà buộc cho chặt vào, lại tính dùng dao mã tấu mà chém đứt hay sao?

Nghe thế, ông Lục tỏ vẻ khó chịu:

– Bà đừng có nghĩ quẩn như thế để tạo ra sự xích mích không cần thiết trong gia đình. Ý của tôi không phải như vậy. Khi tôi bảo không được là có ý lo phía bên ấy họ không thuận.

– Ông nghĩ họ không bằng lòng à?

Ông Lục trả lời không cần đắn đo:

– Phải. Vì tôi biết rõ cái lý do, còn bà thì không.

Nói xong, ông Lục thuật lại câu chuyện cũ cho bà nghe. Theo câu chuyện ông kể, vào một ngày xấu giời, khi ông từ văn phòng ủy ban đi ra đã đụng đầu ông Đăng. Qua vài câu chào hỏi, ông Đăng vẽ ngón chân trên mặt đất:

– Thật đúng là gặp thời chó nhẩy bàn độc nên thế sự đảo điên ông ạ. Đầu đường xó chợ đã không thiếu kẻ theo đóm ăn tàn, lại thêm lũ vô loại quần áo xênh xang vào ra như mục nhĩ vô nhân, nom thật chướng mắt.

Ông Lục vốn đã chất đầy một bụng những lời chói tai của Thọ, Bảng. Thêm mặc cảm, lại cho rằng ông Đăng đã biết rõ khúc đoạn trường giữa ông và ủy ban. Do đó, một câu nói cay như ớt của ông Đăng đã làm ông Lục phỏng lưỡi. Ông gằn từng tiếng một:

– Đấy bà xem. Tình nghĩa bao nhiêu năm với nhau, mà ông ta nỡ lời nặng lời nhẹ với tôi như thế. Ông ta đã nhìn tôi ngang hàng với những thằng Thọ, thằng Bảng. Tôi hỏi bà, nếu ông ta coi tôi như thằng Thọ thằng Bảng, bằng phương cách nào họ nhận lời cầu hôn cho con mình? Thêm vào đấy, có đến vài năm nay tôi không liên lạc với bên ấy. Lúc này đem đầu đến hỏi con gái người ta. Có khác nào cho người ta cái ý nghĩ là mình đến để lên mặt, hoặc đến để chửi bố người ta.

Chừng như sợ bà Lục không nắm được ý chính của câu chuyện, ông Lục cắt nghĩa thêm:  – Tôi chả cần giải thích rông rài bà mới hiểu. Bà cứ nhìn thẳng sự kiện bên ấy bị ghép vào… thành phần. Nghĩa là thuộc diện bị gạt ra ngoài bản lề của xã hội này. Trong khi ấy, mình lại được tiếng là người của chế độ. Từ sự khác biệt này, bên ấy rất dễ có mặc cảm, và hiểu nhầm.

–       Từ hiểu nhầm, họ không tin tôi với bà vẫn một lòng sắt

Son  chung thủy, giữ nguyên vẹn tình nghĩa bạn bè lối xóm xưa. Cũng không tin mình vì thành tâm thiện ý mà đến cầu thân. Trái lại, có thể nghi ngờ mình đến dò thám làm mật báo viên cho nhà nước. Khi ấy, tình đã không giữ được, lại thêm lời qua tiếng lại, làm trò cười cho lối xóm. Nên đề nghị với bà hãy quên đám ấy đi, và tìm đám khác cho nó.

Nói xong, ông Lục thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Nhẹ nhõm vì tin là vào phút cuối, ông đã đả thông cho bà hiểu được cái nguyên do ông ngại sang làm thông gia với ông Đăng. Trong khi đó,  sau khi được nghe lời phân giải của ông, bà thấy nở từng khúc ruột. Bà mừng vì biết chắc, việc hỏi cưới Hồi cho Dụng, ông Lục sẽ không phản đối. Riêng việc ông Lục, ông Đăng vài năm nay không giải thảm điều ngồi chung với nhau, lúc đầu bà Lục hơi lo. Nhưng qua câu chuyện ông vừa kể, bà mỉm cười, rót thêm nước chè nóng vào cái bát cho ông:

– Đây, ông uống thêm hớp nước cho nó thấm giọng, rồi tôi sẽ kể rõ đầu đuôi gốc ngọn câu chuyện cho ông nghe.

Đến lúc này, ông Lục vẫn không ngờ câu chuyện bên đục bên trong giữa ông và ông Đăng đã được bà Lục, vợ ông, biết rõ từ lâu,  ông gạt ngang:

– Đầu đuôi câu chuyện gì?

– Thì chuyện phạt giao giữa ông và ông ấy!

Ông Lục để vội bát nước xuống:

– Ai bảo bà thế?

Bà Lục cố tình làm ra vẻ bí mật:

– Còn ai trồng khoai đất này.

– Bà đã gặp ông hay bà ấy?

Có sẵn chủ đích, bà Lục thong thả gỉa nhời:

– Thì tôi gặp cả … hai ông bà ấy.

Ông Lục trố mắt nhìn vợ, ông hỏi như người vừa ngã từ trên giường xuống:

– Thế… lâu nay bà vẫn gặp ông bà ấy à? Ông bà ấy có khoẻ không?

Bà Lục vẫn chậm rãi:

– Khỏe, khỏe mạnh cả. Ông ta gởi lời hỏi thăm ông đấy.

Nghe chưa thủng câu chuyện, ông Lục đã trách:

– Thế mà bà không nói cho tôi nghe một tiếng!

Bà Lục kêu oan:

– Ơ hay, nào tôi có biết là ông đã hết giận người ta rồi hay chưa mà nói.

– Nào tôi có để bụng bao gìơ.

Nghe ông nói thế, bà Lục nhắc lại câu phân trần rất miền bắc:

– Thật chả ai như ông. Người ta nói một đàng, ông đi hiểu một nẻo. Rút cục, lại đi hờn với dỗi.

Ông Lục nóng lòng muốn nghe cho rõ đầu đuôi câu chuyện hơn là lời trách khéo của bà:

– Bà ăn nói đến hay. Có chuyện gì mà cứ úp úp mở mở mãi như thế chứ.

Bà Lục làm thêm hớp nước, thấm giọng:

– Có gì mà phải úp với mở. Thong thả rồi tôi sẽ kẻ hết cho ông nghe. Nhưng trước tiên, ông chả nên trách ông ấy. Lý do, Có là bạn bè nghĩa thiết với nhau lâu năm, ông ta mới có lời nói ấy. Nếu không, có cạy miệng ra, ông ta cũng chẳng bao giờ nói như thế. Câu chuyện ông Đức, ông Sáng còn như gương treo trước mặt. Chỉ vì một lời nói ”ruộng thì vào hợp tác nhưng quyết không hợp sức” đã đi không có ngày về. Do đó, ông chả nên trách ông ta. Có trách, ông hãy trách cái bọn mặt lơ mày láo, đang được thời đắc thế cùng phe với… ông thì hơn.

Bà Lục nói chưa dứt câu, ông Lục đã muốn nổi nóng:

– Bà nói cùng phe với tôi là phe gì?

– Còn phe nào vào đấy? Việc ông có nuốn nhập bè, kết phái với chúng hay không thì chẳng ai biết. Nhưng khi chúng khoác cho ông manh áo gia đình liệt sỹ là chúng đã khua chiêng đánh trống và kéo ông vào bè vào phe với chúng. Từ đó, dù không nói ra, làng xóm đương nhiên nhìn ông bằng ánh mắt một chiều, rồi lặng lẽ kẻ đường ranh giới xa ông cho dễ thở.

– Kế đến, chuyện ông có được hưởng phần đặc ân đặc lợi như lời chúng thường rêu rao hay không, cũng chẳng ai cần biết. Họ chỉ nghe chúng nói từ ngày nọ sang ngày kia, họ phải tin. Tin vì ông đã vào bè với những kẻ cướp cơm chim. Ông nghĩ xem, nhời tôi nói như thế có đúng hay không?

Nghe hỏi, ông Lục giật mình nhìn bà, rồi nhìn lại hoàn cảnh trong lần cuối gặp ông Đăng. Ông Lục như tự thấy mình nhầm. Nhầm vì hôm ấy trên nét mặt ông Đăng, không có một dấu hiệu nào chứng tỏ ông ta muốn khích bác, hoặc chê bai ông. Nhưng lý do gì lại đưa đến đoạn kết tai hại ấy? Ông Lục chợt nhớ ra là giữa lúc ông đau buồn vì mất đứa con, người em. Lại được Bảng Thọ nhân danh ủy ban mời lên, yêu cầu ông hiến con trâu và tài sản cho nhà nước để làm gương cho quần chúng noi theo. Ông đã uất ức bảo Thọ:

– Tôi không việc gì phải dâng với hiến. Nếu ủy ban thích thì cứ đến mà tịch thu.

Nói xong ông bước ra ngoài, cùng lúc ấy, ông giáp mặt ông Đăng lên trình diện công an xã. Hai người vốn chưa đả thông câu chuyện từ ngày ông Đăng đến chia buồn, lại nghe thêm câu nói… của ông Đăng, lửa giận bốc lên đầu, ông Lục bảo:

– Phải, không mục nhĩ vô nhân thì cũng chẳng làm gì đến thành phần xấu bước lên đài.

Nói xong, hai người đường ai nấy đi, và nỗi buồn mỗi lúc một thêm xe thắt trong lòng ông Lục không một phương cách tháo gỡ. Rồi giữa lúc nỗi buồn trong lòng không biết ngỏ cùng ai. Ông Lục lại phải chứng kiến cảnh bà Lục thường xuyên săn cao tay áo, đem cái bánh vẽ gia đình liệt sỹ ra nói xa xả vào mặt Bảng, và những người xã viên theo Bảng đến nhà ông. Trước cảnh phát thanh bằng miệng bằng tay của bà, ông Lục thêm xấu hổ. Ông xấu hổ vì cho rằng:

Bà Lục đã kém hiểu biết, lại thêm nhẹ dạ, hay tin vào những lời nói không đầu không đuôi của nhà nước. Đã thế, bà còn thiếu suy nghĩ, nông nổi làm trò cười cho hàng xóm bằng cách đem cái bánh vẽ liệt sỹ ra khoe trước mặt người ta. Nào có một ai nể vì cái mảnh giấy lộn ấy đâu mà bà cứ khoe khoang mãi thế. Chẳng lẽ vợ ông không biết rằng, mỗi lần bà săn cao tay áo lên, là một lần làm cho ông đau, và làm cho láng giềng xa lánh gia đình bà hay sao?

Tự hỏi thế là ông biết rất rõ cái nhược điểm của bà, tuy thế, ông Lục vẫn không thể ra tay ngăn cản bà. Kết qủa, việc bà Lục mắng Bảng trở thành một thói quen khó chừa. Phần ông, mỗi ngày thêm lặng lẽ, rồi buộc cuộc sống còn lại của ông theo bước chân con Mễ. Ông vui với nó để tìm quên, và quên luôn việc kề tai tâm sự nhỏ to với bà.

Cho đến tối nay, qua câu chuyện hàn huyên với bà. Ông Lục đã sáng mắt, thấy sự việc diễn tiến hoàn toàn trái ngược với ý nghĩ của ông về bà. Một người, ông thường cho rằng kém trí khôn, không suy nghĩ, hoặc là người nông nổi đã làm ông phải xấu hổ lây, lại là người có lòng can đảm, giỏi tính hơn ông nhiều. Tuy nghĩ thế, ông lại chống chế:

– Bà cũng khéo trách tôi để mất bạn. Còn bà? Bà không nhớ là đã từng đứng trước ngõ xăn cao tay áo, hò hét là gia đình cách mạng, là mẹ chiến sỹ để đòi hỏi phải được hưởng chế độ đãi ngộ riêng hay sao? Bà không biết những khi bà lên nước như thế là hàng xóm họ cười vào… mũi tôi, và rủ nhau tránh cho xa cái kiểu cách mạng của bà hay sao?

Bà Lục trả lời không cần suy nghĩ:

– Chả một ai cười tôi về cái khoản ấy. Trái lại, họ còn thích nữa là khác.

– Bà nói chuyện lạ đời.

Bà Lục cười duyên giải thích:

– Chẳng có gì lạ. Ông không tin, cứ hỏi lối xóm xem họ có hài lòng khi tôi xăn tay áo lên mắng vào mặt cái thằng Bảng hay không?

– Ông không biết khi tôi mắng vào mặt chúng là tôi trả thù dùm nhân dân đấy à?. Ông biết lý do tại sao không? Tại chúng tự cho mình là những kẻ trên không giời dưới không đất, rồi cậy có con dao trong tay nên không một ai dám nói động tới chúng. Phần tôi, tôi sợ gì chúng? Con tôi đã chết cho… cách mạng, rồi cái danh hiệu mẹ cách mạng tôi đeo trên người không đủ tư cách mắng vào mặt chúng, hoặc không đủ để tôi dậy dỗ chúng đôi điều hay sao? Chúng nghe hay không thì mặc, còn nếu chúng không bằng lòng thì cứ mang cái mảnh bằng tuyên công ấy và tôi ra mà đấu tố.

Được lời giải thích của vợ, ông Lục thực sự bừng tỉnh cơn mơ. Theo đó, so với bà, ông thua bà nhiều lắm. bà Lục tiếp:

– Mà thôi, bỏ chuyện ấy đi, Ý của tôi muốn hỏi cưới con Hồi cho thằng Dụng, ông nghĩ sao?

Được hỏi ý sau hơi thuốc lào, ông Lục thấy khoan khoái nhẹ bỗng người:

– Nếu được như nhời bà liệu tính thì còn gì phải nói. Chỉ ngại bên ấy không nhận lời xin của mình thôi

Đến luc này, bà Lục không ngại nói toạc ra câu chuyện::

– Về điểm này, ông thua xa gia đình người ta rồi. Những người có con đi lính Quốc Gia thì thường tốt bụng và chẳng có chút thành kiến riêng tư nào. Còn phía của nhà nước? Mở mồm ra là nói chuyện nhân nghĩa đạo đức buông xuôi và to mồm hò hét đoàn kết. Nhưng thật ra, trong bụng luôn thủ con dao nhọn, lúc nào cũng sẵn sàng lôi ra đâm chết cha mẹ, anh em hay họ hàng thân thuộc.

Nghe thế, ông Lục ngắt lời vợ:

– Bà lại nói đi đàng nào rồi? Tôi đang lo bên ấy không bằng lòng và chưa tìm ra lý do để nối lại câu chuyện cũ với ông ta. Bà đã không giúp ý kiến, còn phát biểu linh tinh.

Dĩ nhiên bà Lục không phải là người thích phát biểu linh tinh. Sở dĩ hôm nay bà nói hơi nhiều hơn ngày thường vì những nguyên nhân riêng. Lâu nay hai ông bà ít chuyện trò với nhau. Kế đến, khi thấy ông bế môn tỏa cảng, ít đi lại với bạn bè. Bà Lục nghĩ ông vì ôm cái mảnh bằng tuyên công của nhà nước, nên muốn xa lánh người thân. Bà muốn nhân cơ hội này đả thông cái ý tưởng sai nhầm ấy cho ông. Đến lúc này, chừng như ông Lục đã vỡ nhẽ, bà đáp gọn:

– Phía bên ấy coi như họ đã thuận ý rồi.

Ông Lục giật mình, hỏi lại:

– Bà bảo ai bằng lòng?

Bà Lục thấy không cần thiết phải dấu ông nữa. Bà bảo:

– Thì phía bên ông Đăng chứ còn ai vào đấy. Tôi đã ngỏ ý xin, và ông bà ấy không phản đối. Tuy nhiên, họ có ý muốn gặp ông để nói thêm câu chuyện.

Chẳng hiểu nghĩ gì, ông Lục nói như dỗi:

– Chuyện như thế mà bà không bàn với tôi một tiếng hay sao?

– Thì sớm muộn gì tôi chả phải bàn với ông.

Trước sự việc đã rồi, thay vì trách bà vài câu cho hả. Ông Lục lại hỏi:

– Ông bà ta có khoẻ không bà?

– Khỏe cả, nhưng sinh hoạt thì gặp khó khăn hơn.

Có tiếng ông Lục nhỏ nhẹ hơni:

– Khi gặp bà, ông ấy có nhắc gì đến tôi không bà?

– Sao chả nhắc. Lần nào gặp tôi, ông ta cũng hỏi thăm ông và còn bảo…

– Bảo gì…?

Tiếng bà Lục trầm hẳn xuống:

– Ông ta có vẻ lo lắng cho ông lắm.

– Lo lắng cho tôi à?

Bà Lục kín đáo nhìn ông, rào trước đón sau:

– Phải, ông ấy lo cho ông lắm. Nhưng nếu tôi có nói ra lời nói thật, ông cũng nên nghe và để bụng mà suy gẫm. Ông ấy lo cho tôi và ông có ngày trở thành kẻ hy sinh, hoặc làm… vật tế thần cho chúng.

– Ông ta có nghĩ như thế à?

Sợ ông Lục hiểu lầm, bà vội tiếp:

– Phải! Chính tôi đôi khi cũng nghĩ như thế. Riêng ông bà ấy còn có ý khuyên can tôi phải cẩn thận, không nên già néo, kẻo đứt giây.

Ông Lục biết rõ vợ ông muốn tốt cho ông Đăng, nhưng thay vì trách bà, ông lên tiếng:

– Bà chả nên nghĩ quẩn như thế làm gì cho nó khổ, chuyện tới đâu thi lo tới đó. Sống hôm nay biết hôm nay! Sống ngày mai biết ngày mai. Hơi sức đâu lo lắng cho thêm nhức đầu.

Nói xong, ông Lục hăng hái, chống tay đứng dậy:

– Cái chuyện xin cưới con Hồi cho thằng Dụng bà cứ để cho tôi lo liệu. Phần bà, liệu lời mà khuyến dụ cái thằng Dụng.

Bà Lục lại bảo:

– Nếu ông muốn sang chơi bên ấy thì tùy ý. Riêng việc xin  cưới hỏi cho chúng, chả cần ông bận tâm! Tôi với bà ấy có bàn thảo qua rồi.

Ông Lục vội quay lại:

– Bà đã nói chuyện với bà ấy rồi à?

– Phải.

– Còn thằng Dụng thế nào, bà đã bảo cho nó biết chưa?

Bà Lục trách yêu chồng:

– Thật, chả ai hờ hững như ông. Ý nó cũng muốn, chỉ ngại ông phản đối.

Tiếng ông Lục ngỡ ngàng:

– Thật thế à?

Ngay lúc đó, Dụng đi sinh hoạt về. Nhìn thấy dụng sắp bước vào trong nhà, ông Lục toan lên tiếng gọi, nhưng lại thôi. Ông đứng nhìn quanh trời đất một vòng, rồi cúi xuống cầm cái điếu đi vào trong nhà. Bà Lục thấy ông rời chỗ, cũng đứng lên theo. Trong lúc một tay bà cuộn cái chiếu cắp ngang hông, còn một tay cầm  cái bình vôi bước theo sau.

Sau khi bà bước hẳn vào bên trong, ông Lục với tay kéo cái phên làm cánh cửa lại, rồi lấy cây then gài chận ngang giữa khung cửa. Xong việc, ông bước đến vặn nhỏ ngọn đèn dầu để trên gía xuống, đi vào buồng ngủ. Vừa đặt lưng xuống trên cái giường tre ọp ẹp, ông Lục ngồi bật dậy bảo vợ:

– Tôi thấy không  ổn rồi bà ạ.

– Ông thấy chuyện gì chưa ổn?

– Thì cái việc xin ủy ban làm tuyên bố cho chúng nó.

Bà Lục nói cứng:

– Tưởng gì chứ việc ấy ông cứ để tôi. Ông không phải lo.

Tuy nghe vợ nói cứng, ông Lục không thể yên tâm. Bởi vì, ông biết rõ bụng dạ những kẻ trong của ủy ban. Chúng sẽ nại ra hàng trăm lý do để từ chối hoặc chèn ép ông. Nghĩ thế, ông do dự bảo vợ:

– Hay là để thư thả rồi hãy lo có được không bà?

Tiếng bà Lục dứt khoát:

– Không có thong với thả gì hết. Tôi đã có nhời dứt khoát với bên ấy. Ngày mai, ông giao con Mễ cho thằng Dụng trông coi. Phần ông, phải sang bên ấy. Trước là thăm để nối lại chỗ

đứt, sau là mời ông bà ấy và nó sang đây dự đám dỗ cho thằng cả. Nếu ông bà ấy nhận lời, ta sẽ nhân đó bàn tính luôn cái ngày cưới xin cho chúng. Còn việc xin ủy ban tuyên bố, ông để mặc tôi. Chúng không làm, tôi làm.

Ông Lục nghe vợ tính toán gọn ghẽ, chả thiếu xót một điểm nhỏ nào. Ông mềm như con chi chi, đặt lưng xuống giường. Khi vừa nhắm mắt lại, ông đã mường tượng ra khung cảnh và cuộc hội ngộ với ông Đăng vào ngày hôm sau. Một cuộc gặp gỡ, lúc trước ông cho nó là chuyện tầm thường, không đáng bận tâm. Nhưng lúc này, bỗng gieo vào lòng ông ít nhiều hoang mang. Trong cái hoang mang ấy, có cả ý tưởng ngộ nghĩnh của ông Đăng đưa ông vào giấc ngủ:

– Gìa néo khéo mà đứt giây!

  • Chương 1

    Sau hơi thuốc lào dãn phổi, Bảng đứng dậy, nhịp nhàng vỗ đôi tay vào nhau:  - Báo cáo làng nước đã hết gìơ nghỉ. Yêu cầu làng nước tranh…

  • Chương 2

    Sau khi khóa cánh cửa ra vào bằng một ống khóa to bản, Bảng kẹp cái mũ cối vào bên hông, bước vội ra đường. Trên đường về, Bảng gặp…

  • Chương 3

    Ra đến đầu ngõ, Bảng thấy một bóng người chạy xầm xập lại trước mặt. Gã quát hỏi: - Ai đó? - Tôi đây! Thưa ông chủ nhiệm. - Anh…

  • Chương 4

    Thời khóa biểu của ông Lục vào những ngày không đưa con Mễ đi cày rất giống nhau. Buổi sáng, sau khi lót dạ một chén cơm nguội, hoặc một…

  • Chương 5

    Chiều đến, ông Lục lững thững dắt trâu về nhà. Trong lúc chân ông bước từng bước chậm chạp trên con đường mòn cũ, lòng ông không quên nhẩm lại…