Sau khi căn dặn Dụng một số điều cần phải làm khi nó sửa soạn dắt trâu ra đồng, ông Lục ra mở cổng, dắt con Mễ ra khỏi chuồng và trao sợi giây vào tận tay Dụng. Làm bấy nhiêu việc mà chưa yên tâm, ông Lục còn thủng thẳng theo Dụng ra tận đầu ngõ, vừa đi vừa chuyện trò và nhắc chừng nó ghi nhớ lấy những điều ông đã căn dặn. Ông chỉ quay vào khi bóng Dụng và con Mễ mất hút ở cuối con đường làng.

Vào nhà, ông Lục đi thẳng vào trong buồng ngủ, mở rương, lục tìm và lấy ra một bộ quần áo ướm thử lên người. Đây không phải là bộ quần áo mới may, cũng không phải là bộ quần áo kiểu sang, nhưng là một trong vài bộ quần áo kẻng nhất của ông. Vì nhà không có tủ, bà Lục phải gấp nó lại và cất trong rương để tránh chuột, dán đến cắn làm tồ.

Khi các nếp gấp trải rộng ra, mùi bích kê nồng nặc xông lên mũi làm ông khó chịu. Ông nín hơi, giũ mạnh bộ quần áo vài lần trước khi cởi bỏ bộ đang mặc trên người ra rồi mặc bộ quần áo này vào. Đến lúc đứng nhìn mình súng xính trong bộ quần áo còn nguyên mùi vải với nhiều nếp gấp, ông Lục không hài lòng. Ông cho như thế là khách sáo. Ông chẳng lên quan, cũng không ra huyện, cần gì phải mặc áo mới. Tự nghĩ thế, ông Lục cởi bỏ bộ quần áo này ra. Rồi theo các đường nếp cũ, ông gấp lại, đặt nó nằm gọn trong cái rương.

Khóa rương xong, ông Lục bước đến trước sợi giây cột sát theo bên bức vách, nằm ngay trong buồng ngủ. Đây là sợi giây ông thường dùng để vắt quần áo chung với bà. Ông với tay, có ý tìm một bộ nom khá hơn trong số những cái quần, cái áo và cả cái váy đã rách tả tơi của bà Lục. Lát sau, ông chọn được một bộ ưng ý. Bộ này, tuy chưa đến nỗi tang thương vì những miếng vá, nhưng đã lốm đốm, điểm một vài bông hoa lạ. Ông Lục cầm, đưa bộ quần áo lên trước mặt ngắm nghía. Ông gật gù vẻ hài lòng. Nó không làm ông xa cách với màu đất, xa cách đôi mắt của người dân Xuân Thủy trong mùa xã hội chủ nghĩa.

Mặc xong bộ quần áo, ông Lục đến bên cái chõng lấy xáp thuốc và cái đèn bật cho vào trong túi, bước ra ngoài. Mới đi được vài bước, ông lật đật quay trở vào trong nhà. Ông vội vàng làm như chợt nhớ ra một điều gì quan trọng, ông cần phải làm trước khi đi, nhưng chưa làm. Đến khi đứng giữa nhà đảo mắt nhìn quanh, ông không thể moi tìm trong trí nhớ xem ông phải làm gì. Đột nhiên, ông cho tay vào túi áo:

– Cái xáp thuốc, cái đèn bật đã có ở đây. Hay là chưa bỏ thuốc vào?

Hỏi xong, ông mở nắp ra xem. Ông an tâm ra khỏi nhà khi nhìn cái xáp đầy thuốc. Nhưng sau khi phải trở lại lần thứ hai để kiểm tra cái cánh cửa ra vào, ông Lục lắc đầu thất vọng với chính mình. Ông không thể hiểu vì lý do gì, buổi sáng nay ông lẩn thẩn đến thế. Nhớ lại, từ sáng sớm trước khi đi chợ, bà Lục đã dặn ông:

– Ông đi cho sớm rồi còn về làm chút công việc nhà. Độ này không có mùa màng, chả ai ra đồng, có thể ông sẽ nom thấy cả cái Hồi đấy.

Ông Lục trả lời vẻ thông thạo:

– Mùa này ai ra đồng làm gì. Cùng lắm là chăm sóc vài liếp rau cải tiến quanh nhà.

Ra đến đầu ngõ, bà Lục còn ngoái cổ lại dặn ông:

– Tôi ra chợ mua thêm tý thức ăn, ông nhớ mời bằng được ông bà ta sang dự đám giỗ nhá.

Ông gật đầu:

– Được rồi, bà cứ đi đi. Tôi biết lo liệu mà.

Đến lúc này, Ông Lục mới vỡ lẽ là ông đã nói cứng miệng với bà, nhưng thật ra, ông không biết lo liệu chuyện gì.

Chẳng ai nỡ trách ông. Nếp sống ở thôn quê miền bắc, tuy không có định lệ phân chia, nhưng việc to nhỏ như lo mai mối, dựng vợ, gả chồng cho con cái thường được khoán trắng cho các bà, và người mai mối. Phần các ông, thường là những người đóng góp ý kiến sau cùng. Trường hợp các bà đã vừa mắt, hợp ý đám nào cho con cái. Các ông có khuynh hướng làm nghị gật, tuyên bố xin vâng hơn là lên tiếng phản đối.

Ông Lục không ngoại lệ. Hơn thế, ngoài việc thiếu kinh nghiệm trong công tác to nhỏ, xin cưới hỏi cho con. Ông còn thiếu một bao… xi măng để gắn vết nứt tình cảm, do sự hiểu nhầm giữa ông và ông Đăng hôm nào, nên bước chân ông thấy ngượng ngùng.

Ra đến đầu ngõ, ông đứng ngửa mặt nhìn về cả hai phía tay

phải, tay trái con đường một lượt, rồi từ từ cất bước. Một lúc sau, ông giật mình nhìn xuống đôi tay không:

– Ơ hay, bỏ quên cái sợi giây ở đâu rồi?

Hỏi xong, ông quay mặt nhìn lại phía sau lưng. Biết mình nhầm, ông bật cười thành tiếng, rồi quay gót, đi ngược chiều với bước chân quen hằng ngày.

– Thưa ông ạ!

Nghe tiếng chào, ông Lục đứng lại, nhìn xững người thiếu nữ trên tay cắp cái rổ có vài bó rau vừa lên tiếng chào ông. Ông ngờ ngợ nhìn khuôn mặt khá quen, trả lời:

– Phải, không dám. Chị đi đâu về sớm thế?

Người thiếu nữ dừng chân bên đường:

– Thưa ông, con đi chợ về ạ.

– Đi chợ về rồi cơ à?

– Thưa vâng!

Ông Lục nhìn cô gái và lấy làm lạ. Con cái nhà ai ở thời Hồ mà còn ngoan ngoãn thế. Câu nói nào cũng dạ, cũng vâng. Ông nhìn cô ta lần nữa, rồi hỏi lửng:

– Có phải chị… chị là…

– Thưa ông con là Hồi ạ.

Ông Lục mở to đôi mắt ra:

– Thật đấy à? Thế mà tôi nhìn mãi không ra. Ông bà bên ấy khỏe mạnh cả chứ?

– Thưa ông, thày U con khỏe.

– Liệu gìơ này ông bà ấy có nhà không nhỉ?

– Thưa ông có ạ. Mời ông lại nhà. Thày U con nhắc tới ông luôn.

Ông Lục ngay thật:

– Thì… tôi cũng đang tính đến thăm ông bà ấy đây.

Đến lượt Hồi trố mắt nhìn ông Lục. Nhìn xong, nàng thấy ngượng. Ngượng vì nhớ đến câu chuyện hôm nào bà Đăng đã hỏi ý kiến Hồi về chuyện lập thân với Dụng. Nay bất ngờ gặp ông ta trên đường đến nhà mình, dù chưa ai nói, Hồi đã đoán được cái chủ đích của cuộc thăm viếng. Tự nhiên nàng lúng túng:

– Thưa ông…

– Ông bà bên ấy đi vắng à?

Hồi không trả lời câu hỏi. Nàng che lại vành nón nghiêng nghiêng:

– Thưa… Con xin phép về trước ạ.

– Phải, cháu cứ tự nhiên.

Không chờ ông Lục nói dứt câu, Hồi thoăn thoắt gót chân. Khi đi, Hồi cố gắng trấn an chính mình, nhưng nàng không kiểm soát được đôi chân. Lạ qúa, chưa bao gìơ Hồi thấy gót chân nóng và ngượng ngập như ngày hôm nay.

Sự thật là thế. Ở vào lứa tuổi của Hồi, những nàng gái quê thường có nỗi bồi hồi sao xuyến giống nhau. Đó là một thứ bồi hồi rất khó diễn tả. Bởi lẽ, vào thời gian ấy, sự giao tiếp giữa trai gái trong làng tuy nói là đã cởi mở. Nhưng thật ra, ít khi người ta nhìn thấy trai tơ, gái cặp kê, tự mình tìm đến và ước hẹn trăm năm với nhau, ngoại trừ lớp thanh niên thiếu nữ sớm theo VC. Nhìn chung, họ biết nhau, quen nhau, hoặc hơn thế. Họ bằng lòng lấy nhau, về với nhau là do ánh mắt, nụ cười, và do lời khuyên bảo của bố mẹ, người mai mối thay vì đi nhảy sol đố mì theo kiểu sinh hoạt đoàn đội của HCM.

Hồi không ngoại lệ. Trước khi được bà Đăng hỏi ý kiến về việc bà Lục ngỏ ý, xin hỏi cưới nàng cho Dụng, Hồi đã biết Dụng. Biết từ khi tóc còn để chỏm. Tuy nhiên, Hồi lưỡng lự không quyết. Sự lưỡng lự, không quyết của Hồi có nhiều nguyên do. Trong đó một phần là do sự cách biệt giữa hai giai cấp mới của xã hội. Một bên được nâng lên hàng khanh tướng liệt sỹ của Việt cộng. Còn một bên khác bị ghép vào bản án thành phần.

Từ khác biệt đó, có nhiều đêm Hồi thao thức tìm hiểu. Khối óc non trẻ, và lòng trong trắng của nàng không thể hiểu, không tìm ra nguyên do tại sao, Trời lại đẻ ra cái tổ chức bác đảng trên đất bắc? Tại sao Phật lại để cho Việt cộng dùng con dao mã tấu phân chia quần chúng nhân dân ra thành những giai cấp khác biệt và chống đối nhau?

Bên cạnh cái khó khăn vì giai cấp, thành phần do nhà nước tạo ra, Hồi còn một nghi vấn khác. Nàng thấy giữa ông Lục và ông Đăng có điều gì như gío không thuận, mưa không hòa. Những lúc gần đây, Hồi không thấy ông Đăng giải chiếu hoa mời ông Lục sang hút thuốc lào. Ngược lại, cũng không thấy ông Lục trải thảm điều rước ông Đăng qua đánh chén. Nay bỗng nhiên gặp ông Lục trên đường đến nhà nàng làm nàng thêm lúng túng. Lúc về đến nhà, đôi gò má còn nóng ran.

Phần bà Đăng, khi nghe Hồi báo tin: Hình như ông Lục đang đến nhà mình, bà đã không kiểu cách đổi xiêm y, không lấy gương lược ra chải đầu, và cũng không tô son đánh phấn, kẻ lông mày làm duyên trước khi khách vào, nhưng lại vội vã đôi chân ra tận đầu ngõ như có ý chờ đón khách.

*

*          *

Phía ông Lục, sau cái nhìn chăm chú theo gót chân Hồi, ông từ từ đếm bước. Khi vào đến nửa con ngõ nhà ông Đăng, ông mới ngỡ ngàng đứng lại trước cảnh tiêu điều, xác xơ bên mái lá rồi nhìn thấy hình hài một bà lão hom hem trong mái tóc bạc phơ cuối đời. Tự mhiên, ông Lục thấy chạnh lòng. Sau câu chào thay tiếng khóc cho nhau, ông ngay thật bảo:

– Gìa rồi nên lẩn thẩn bà ạ. Tôi đã qua đây hàng trăm lượt, nay bỗng dưng đi lạc. Nếu không gặp con cháu đi chợ về, có nhẽ đi đến tối vẫn chưa đến nơi.

Bà Đăng cười trả lễ, và chả dám nghi ông Lục nói dối, bà lên tiếng:

– Mời ông qúa bộ vào trong nhà nghỉ chân, thày cháu đang dở chút việc.

– Vâng, bà cứ để cho tôi tự nhiên.

Cùng lúc ấy, có bóng ông Đăng thấp thoáng trước cửa nhà. Thoáng nhìn qua, bà Đăng nom thấy rõ nét ngượng ngập của cả đôi bên. Bà nhanh trí, không muốn cho cảnh ngượng ngùng ấy biến thành tẻ nhạt, xa lạ mất tự nhiên. Bà mời ông Lục vào hẳn trong nhà. Khách chưa ngồi vào ghế, bà Đăng đã hối hả lên tiếng gọi, dục con rót nước lên mời khách. Bà gọi đến hai ba lần, nhưng không nghe tiếng trả lời. Bà đứng dậy, vừa đi vừa mắng yêu con:

– Cái con này đến là hay, vừa mới đi chợ về đã biến đi đâu rồi, Hồi ơi.

Gọi xong, tự bà xuống bếp rót ấm nước trong lúc ông Lục ngồi xuống ghế, kín đáo nhìn quanh. Ông thật sự bàng hoàng khi thấy căn nhà trống như nhà bỏ hoang. Ngoài một cái bàn, vài ba cái ghế xiêu vẹo, một cái chõng tre kê xát bên bức vách ngăn cách buồng ngủ với phòng khách, ông không thấy một thứ đồ đạc nào khác. Ông nhíu mày, mang máng nhớ lại câu chuyện ông Đăng lấy của đi thay người mà bà Lục đã kể cho ông nghe hôm nào, nhưng ông không để ý. Lúc này, ngồi nhìn cái bức vách trống đối diện với cửa ra vào, trên đó treo lủng lẳng một tấm hình bán thân khá mập mạp với nắm lông mồm của Hồ Quang thay vì cái tủ thờ và bài vị gia tiên của gia đình ông Đăng như ngày trước làm ông Lục xót xa, muốn nói không nên lời.

Đến khi nhìn lại người bạn năm xưa, ông Lục thất thần sắc khi thấy hình hài ông Đăng đã hoàn toàn biến dạng, đổi khác. Trên mặt ông Đăng, cái nét rắn rỏi ngày nào đã tan biến đi, và thay vào đó là một lớp da xanh xạm, bọc lấy cái gò má nhô cao lên. Phía bên trên cái gò má cao là hai con ngươi lờ đờ nằm chìm sâu vào trong hố mắt với những quầng thâm đen xếp lớp bên ngoài. Riêng phía bên dưới dãy núi cao ấy là hai cái má hóp hẳn vào bên trong như người đang kéo thuốc lào. Và cuối cùng, cái cằm có ít sợi râu lưa thưa như tơ mành thì đưa hẳn ra phía trước để đỡ lấy cái hàm răng chỉ còn có lợi.

Thấy hoảng thần hồn, ông Lục vội ném cái nhìn ra sân, kín đáo nuốt ngậm ngùi  thay tiếng thở dài:

– Chóng qúa ông bà nhỉ?

Bà Đăng ngồi trên cái chõng tre gần đó, góp chuyện:

– Phải đấy ông ạ, thời gìơ nó đi nhanh lắm. Mới đó, mà đã xế chiều cả rồi. Chả mấy tý nữa là xuống lỗ.

Câu nói của bà Đăng nghe rất thê lương, ông Lục lại gật gù mái đầu ra chiều như đồng ý với bà. Cùng lúc, ông Đăng đẩy cái điếu bát và xáp thuốc sang phía ông Lục:

– Ông ăn điếu thuốc.

Ông Lục đỡ lấy cái điếu:

– Phải, ông cứ để mặc tôi.

Nói xong, ông cầm cây thông nõ điếu gạt hết xác thuốc cháy dở trong nõ ra ngoài, rồi cho tay vào túi tìm xáp thuốc. Chờ ông Lục hút xong điếu thuốc, ông Đăng lên tiếng:

–  Bên ông bà độ rầy sinh hoạt ra sao?

Nghe hỏi, ông Lục không một hứng khởi, trả lời:

– Cũng làng nhàng qua ngày thôi ông ạ. Thời buổi này, kiếm được chén cơm độn cho vào bụng đã là may mắn rồi.

Thấy ông bà Đăng kín đáo đưa mắt nhìn nhau, ông Lục tiếp:

– Sự thật là như thế, nhưng khi có nói ra lại chẳng có mấy người  tin ông bà ạ.

Sở dĩ ông Lục phải nhấn mạnh câu, có nói ra cũng chẳng có mấy người tin, là vì ông biết có nhiều người trong thôn xóm đã nhìn ông bằng con mắt thành kiến. Họ cho rằng, ông thuộc diện gia đình liệt sỹ. Một diện được hưởng nhiều đặc ân đặc lợi của nhà nước, có lý nào đói ăn như nhân dân? Đã thế, ông còn con trâu và mấy sào ruộng nước. Nếu không gọi là giàu có thì cái chữ đói ăn cũng không thể đeo vào người ông được. Theo đó, việc ông ta than khổ phải được hiểu, một là ông ta chửi xéo thiên hạ, hai là kêu cho có câu chuyện làm qùa thôi.

Đứng trước sự việc gần như oan ức này, ông Lục đành ngậm tăm, không biết thở than tâm sự với ai. Bởi lẽ, người ta chỉ nhìn thấy cái bề mặt, không ai nhìn thấy bề trái. Nói cách khác, người ta chỉ nhìn thấy ông còn con trâu, nhưng không ai biết con trâu của ông chỉ để nhìn cho sướng mắt hơn là để hốt bạc. Lý do, ruộng đất của nông dân dù ít hay nhiều, đều gia nhập vào hợp tác xã và do nhà nước quản lý. Chẳng một ai cần thuê trâu, mướn cày của ông. Kế đến vài sào ruộng. Nếu quên đi thì thôi, nhưng mỗi lần nhắc đến là một lần ông Lục lên cơn uất. Bởi vì, cả một cánh đồng ngập nước, riêng mảnh vườn của ông lại thường bị hạn hán.

Sở dĩ có câu chuyện trời thương riêng nhà nước, và ghét bỏ ông Lục là vì:

–       Thứ nhất, vài sào ruộng của ông nằm lọt vào giữa cánh đồng của hợp tác xã.

-Thứ hai, Nguyễn văn Bảng đã ra lệnh cho các xã viên, đắp một cái bờ khá cao, chạy chung quanh, bao kín lấy thửa ruộng của ông Lục. Mục đích của công việc đắp đập be bờ này là Bảng muốn… cấm không cho nước của giời và phân bón của hợp tác xã chảy vào ruộng của ông Lục. Sau khi đã ra lệnh cấm không cho nước của giời chảy vào thửa ruộng của ông Lục. Chủ nhiệm Nguyễn văn Bảng còn cẩn thận ra thêm lệnh cấm vận. Bảng cấm không cho ông Lục tát nước, dẫn nước từ đầm nước gần đó vào ruộng của ông.

Tuy có lệnh cấm, ông Lục không thể khoanh tay đứng nhìn con lúa thiếu nước, chết khô. Ông đã kháng lệnh, và chủ nhiệm Bảng có đầy đủ lý do để tịch thu đôi gàu của ông. Bảng lớn tiếng:

– Ông phải nhớ, cái đầm nước ấy là của hợp tác xã. Nước trong đó dùng cho tập thể, không dùng cho lợi ích cá nhân. Ông làm ăn cá thể, ông không được phép tát nước của nhà nước.

Lời của chủ nhiệm Bảng rõ ràng như bản văn hiến pháp của

nhà nước Việt cộng. Ông Lục đành ngậm đắng nuốt cay trở về tay không, và thông báo cho bà Lục một bản tin buồn:

– Bà đừng có tưởng là nó không dám làm gì. Ruộng thì khô, con lúa chết cạn, hai cha con tôi đi tát nước đã bị nó tịch thu mất đôi gàu rồi.

Nghe chưa xong câu chuyện, bà Lục đã thấy nóng mặt và khí uất xông lên tận cổ. Bà lăn cao tay áo lên, đùng đùng ra khỏi nhà. Vừa nom thấy bà Lục, Bảng gỉa lả cười trừ, trả đôi gàu tát nước lại cho bà để gĩư hòa khí, nhưng quyết không bỏ lệnh cấm vận.

Từ khúc quanh đó, vài sào ruộng nước của ông Lục thường nứt nẻ, không thể cấy cày được. Sau này, theo kế của bà, ông Lục lấy những ống trúc nhỏ. Dùng dùi nóng, phá bỏ đốt mắt bên trong, và đặt ngầm xuyên qua bờ ruộng của hợp tác xã kế bên. Kết qủa, Bảng đã điên tiết và không thể nào hiểu nổi lý do tại sao, cha con ông Lục không vi phạm lệnh cấm, nhưng nước trong ruộng của ông ta luôn ngang bằng, hoặc cao hơn so với ruộng của hợp tác xã. Gã buồn lòng bỏ cuộc dò xét, vì tin rằng trời đã phụ lòng nhà nước.

Phần ông Lục, sau khi áp dụng kế lạ của vợ, ông ngồi rung đùi hút thuốc chờ thời. Ông tin rằng, phen này ông sẽ ngồi mát, ăn bát vàng. Rút cuộc, ông nhầm. Nhầm vì không biết cái xã hội chủ nghĩa quanh ông đã hoàn toàn biến đổi. Biến đổi từ con người lương thiện thành những kẻ phải theo đuổi kế sách “đói ăn vụng túng làm liều”.

Nghĩa là, dù không muốn, nhiều người dân và toàn bộ cán bộ Vẹm từ trung ương đến địa phương. Nếu muốn có miếng ăn cho vào miệng, muốn có cái ổ cho vợ con chui ra chui vào, bắt buộc phải hành nghề… chôm chỉa. Nói ra thì bảo là vạch áo cho người xem lưng. Nhưng sự thật, trong suốt lịch trình dài lập sử của người dân Việt, chưa bao giờ cái món nghề này gặp thời huy hoàng như dưới thời của  Hồ chí Minh.

Chuyện đời rõ trắng đen là thế, nhưng ông Lục như người rớt ở trên trời xuống. Ông không hề hay biết có chuyện đổi thay, cũng không hề hay biết việc ruộng lúa của ông trở thành mục tiêu lớn của những đôi mắt đói ăn. Ông vẫn ung dung, lo sắp bàn thờ cúng tế, tạ ơn trời đất khi nhìn thấy những bông lúa nặng trĩu bắt đầu đỏ đuôi. Ông chắc bụng, năm nay lúa sẽ vào đầy bồ.

Kết qủa, sau ngày bái thiên, ông đưa vợ con đi gặt lúa. Ra đến nơi, ông mới vỡ lẽ. Phía bên trong, cách bờ chừng năm, ba bước, lúa chỉ còn thân rạ. Riêng các bông lúa nặng trĩu hạt đã được người… anh em đến giải phóng từ nhiều đêm trước rồi. Ông giận, tay ông ném mạnh cái hái xuống đất. Phần bà, bà muốn xắn váy lên, cho cái thằng ăn trộm kia một trận no.

Mấy hôm sau, nhân lúc vui câu chuyện, ông đem việc mất lúa ra than thở với người hàng xóm. Khi ấy, ông mới sáng mắt ra để biết. Không phải chỉ một ruộng lúa của ông gặp tai ương, nhưng toàn cánh đồng hợp tác đều chịu chung một số phận. Lý do, các thành viên lao động, nói toạc ra là các xã viên, và cả đám cán bộ của hợp tác xã đều có chung một đối sách. Muốn có bát cơm thì phải lén cắt lúa của hợp tác xã cho vào bao riêng của mình trước khi có lệnh đi gặt của chủ nhiệm Bảng.

Nghe xong câu chuyện, ông Lục ngửa mặt lên nhìn giời và từ gĩa luôn ý định đi báo quan. Sự việc rõ ràng là thế, nhưng chẳng ai muốn tin. Ông Lục đành phải phân bua với ông bà Đăng:

– Chưa nói ra ông bà đã biết, có nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Người ngoài những tưởng, kẻ mang danh hiệu như tôi thì sẽ sung sướng hơn đời hơn người, nhưng thật ra, ông nhìn đây. Ông Lục dơ cao cái ống quần có một miếng vá ra trước mặt, tiếp:

– Bụng thì đói, quần áo tả tơi, nhưng nhà nước vẫn chưa hài lòng. Nay hô tích cực, mai khắc phục để làm gương cho quần chúng nhân dân noi theo. Họ coi chúng tôi như cái máy, chỉ cần nghe những khẩu hiệu ấy hơn là cơm gạo. Tôi nghĩ, nếu như tôi nhắm mắt tiến lên theo lời họ hô hào, chắc không bao lâu nữa, muốn kiếm manh vải làm cái khố để che kín… bác cũng khó kiếm ra, nói chi đến quần áo che thân.

Nghe thế, ông bà Đăng giật mình và bật cười vì câu nói táo bạo không che đạy, không dấu diếm của ông xui tương lai. Trong khi ấy, ông Lục lại nghiêng người về phía ông Đăng, hỏi nhỏ:

– Có phải như thế không ông? Nói ra thì bảo là lắm điều lắm nhời, nhưng không nói ra thì nó ấm ức trong lòng. Chính quyền ở đâu có thứ chính quyền ngược đời. Đã tước đoạt hết mọi tài sản,  quyền tự do của nhân dân, lại còn mặc tình mài lưỡi dao cho bén trước những thống khổ của đồng bào. Vậy mà cứ mở mồm ra là thi nhau hô hoán lên, chính quyền cách mạng với lại giải phóng. Thật không biết xấu hổ cái lỗ mồm.

Ông Lục xưa nay vốn là người hiền lành, dễ tính. Ông thuộc mẫu người trầm lặng, ít nói và hầu như chả mấy khi nghe thấy ông lý luận hoặc lên tiếng bình phẩm về một vấn đề nào. Hôm nay khác với thông lệ, ông nói hơi nhiều và nói những lời không giống cung cách những người nằm trong diện có công với nhà nước.

Lúc đầu, ông bà Đăng hơi ngạc nhiên vì cung cách khác thường của ông Lục, nhưng cả hai đều yên lặng. Phần ông Lục, ông cho rằng, việc ông có nói hơi nhiều hôm nay là sự kiện bó buộc ông phải nói. Ông muốn phơi bày ra một sự thật hơn là việc để  mua chuộc lòng gia chủ. Trong khi đó, Chờ ông Lục nói xong, ông Đăng cười hóm hỉnh:

– Nếu tôi nói ra, ông đừng cười nhá. Bên ông thuộc diện được ưu đãi của chế độ, ông còn những suy nghĩ lo âu như thế. Phía bên gia đình chúng tôi, đã đeo cái bản án thành phần vào cổ, cứ gọi là con cá nằm trên thớt!

Ông Lục cười thành tiếng:

– Ông lại nói thế. Chính ông đã chẳng bảo với bà nhà tôi khéo mà có ngày tôi phải làm… bò tế thần cho chúng hay sao?

Nghe ông Lục nhắc lại câu bình phẩm của mình, ông Đăng

lẳng lặng cúi xuống vê bi thuốc cho vào cái nõ. Ông Lục chột dạ, sợ ông Đăng hiểu nhầm, nên vội tiếp:

– Chả dấu gì ông bà, cái khoản ấy chúng tôi có nghĩ đến. Nhưng đã sống đến ngần này tuổi đời, còn phải lo sợ gì nữa? Nếu có chết cũng là đủ vốn đủ lãi rồi, nhưng chỉ tội cho đám trẻ mà thôi.

Bà Đăng giật mình đánh thót người. Bởi lẽ, ở đời người ta thường mơ ước sống lâu trăm tuổi. Nếu được trăm năm, con người có khi còn cho là qúa ngắn, và chả ai bảo sống như thế là đủ vốn đủ lời. Riêng ông Lục, mới qua một nửa cái trăm năm, ông đã cho là đủ vốn đủ lãi là thế nào? Chẳng lẽ cái vốn của ông là cách mạng. Cái lãi của ông là bất hạnh, là khổ đau? Nên ông không có ý mong chờ cái trăm năm lâu dài kia? Phần ông Đăng, chả biết nghĩ gì, sau khi đẩy hơi thuốc ra ngoài, ông bảo:

– Cũng không nên để gío thổi ngược chiều ông ạ.

Ông Lục đáp không cần suy nghĩ:

– Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Phải thế không ông?

Ông Đăng gật gù mái đầu bạc:

– Phải, ông nói nhời nói phải.

Từ nãy, bà Đăng ngồi theo dõi câu chuyện. Có lúc bà hồi hộp sợ đôi bên vô tình làm thắt chặt thêm cái nút hiểu lầm đang cần tháo gỡ. Bà toan lên tiếng đánh lạc đề tài, nhưng lại thôi. Lúc này, sau khi nghe chồng nói một câu chí tình, bà thở phào nhẹ nhõm góp chuyện:

– Nói cho ngay ở đời thì mỗi người một cảnh khổ khác nhau ông ạ. Riêng ở đây, hai cổ đều chung một tròng. Tha cắt cổ chúng lại mổ bụng. Do đó, chả ai thoát được cánh tay của nhà nước. Trừ khi là mọc cánh bay vào nam.

Ông Lục mở to đôi mắt nhìn bà Đăng. Chữ nam bà vừa nói đã nhắc nhở ông đến một thắc mắc lớn nằm sẵn trong bụng từ lâu. Không để lỡ cơ hội, ông đặt cái xe điếu xuống trên cái điếu, ghé xát người sang phía ông Đăng:

– Bà nhắc đến trong nam tôi mới nhớ. Không biết đời sống của họ ra sao? Ông bà có nghe biết được tin tức của các cháu  và đời sống ở trong đó thế nào không?

Ông Đăng nhìn vợ, khởi đầu câu chuyện bằng một điệp ngữ rất miền bắc:

– Dấu người ta, chứ dấu gì bên ông bà. Tôi cũng không nghe gì nhiều ngoài những tin đồn. Theo những nguồn tin ấy, người mình di cư vào trong nam được chính phủ tiếp đón và chăm sóc tử tế lắm. Nghe đâu chính phủ dùng toàn máy móc phá rừng và cấp phát ruộng nương cho đồng bào ta làm ăn. Rồi trong lúc chưa có hoa màu, chính phủ cấp phát lương thực nên không một ai bị đói.

Ông Lục nhổm người lên:

– Thật như thế hả ông?

– Tôi không dám chắc, nhưng đi đâu cũng nghe người mình to nhỏ với nhau hai vấn đề. Thứ nhất, về thời tiết. Đồng bào ta sống trong đó được trời đất thương riêng, nên không mấy khi có bão lụt, hạn hán mất mùa. Phần ruộng đất, hộ khẩu nào cũng nhà cao cửa rộng. Lúa mạ mỗi năm chỉ làm một mùa thôi, nhưng thóc, gạo có đổ cho lợn ăn cũng không hết! Kế đến việc sinh hoạt, thì ai muốn đi đâu thì đi, muốn nuôi nấng, muốn mua bán gì tùy thích, chẳng ai cấm cản. Và cũng không nghe nói đến chuyện phải đi học tập và hợp tác ông ạ.

Ông Lục đã nghe khá nhiều loại tin đồn từ trong nam. Tuy thế, ông không giữ nổi bình tĩnh khi nghe ông Đăng thuật lại câu chuyện, ông nhổm người dậy:

– Tin đồn ấy liệu có thật không hả ông?

– Sự thật thì chẳng ai biết rõ thật hư, nhưng không có lửa làm gì có khói? Người xưa có câu tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn xa. Ngoài mình, có ai nghe thấy tin đồn về cải cách và đấu tố ở trong ấy đâu? Chả lẽ nhà nước lại đi nói hay cho cái thằng… địch?

Ông Lục gật gù mái đầu bạc, ông không cho lời ông Đăng vừa kể là những tin đồn nhảm. Trái lại, lời nói ấy đáng tin lắm. Bởi vì, ông ta có con vào nam, nhất định ông ta phải biết chuyện hơn người. Ông hỏi tiếp:

– Còn phần cậu cả, ông bà có nhận được tin tức gì không?

Bà Đăng liếc nhìn chồng, cái nhìn như muốn bảo chả việc gì phải dấu. Ông Đăng hiểu ý, chậm rãi thả khói thuốc, trả lời:

– Cám ơn ông có lời hỏi thăm. Nhờ ơn trời đất thương, mấy anh em nó đều khỏe mạnh cả.

–  Tôi hỏi câu này, ông bà chớ trách tôi tò mò nhá?

–  Ông đến là khách sáo!

Tiếng bà Đăng nói chen vào; Ông Lục tiếp:

– Cậu cả còn ở trong đoàn quân Cộng Hòa, hay đã về tăng gia sản xuất rồi hả ông?

– Cháu còn ở trong quân đội ông ạ.

– Các cậu ấy vẫn đánh thư về cho ông bà đấy chứ?

– Có ông ạ. Khi mới vào, các cháu có viết về đều lắm. Nhưng có đến một năm nay, chúng tôi không nhận được tin tức gì của các cháu.

– Tại sao thế hả ông?

– Tôi cũng không hiểu cái lý do. Chỉ võ đoán theo lời nhà nước bảo, đồng bào trong nam vốn nghèo khổ gấp ba bốn lần ở ngoài bắc, lại thêm cái họa đế quốc xâm lược. Như thế, đời sống vô cùng lầm than cơ cực, cơm ăn không có, ngô khoai không đủ, tìm đâu ra tiền bạc để gởi tem thư. Hai là vì lý do an ninh, cháu vẫn viết nhưng thư không được phép… về nhà.

Nói thế là ông Lục biết ông Đăng không dám nói thật lòng. Nhưng thay vì trách cứ ông Đăng, ông Lục lại bảo:

– Có lý nào các cháu nó không viết, hoặc nghèo khổ đến mức không có tiền gởi tem thư như lời nhà nước tuyên truyền. Ông còn lạ gì cái thói tráo trở của nhà nước này.

Nghe thế, ông bà Đăng nhìn nhau im lặng, ông Lục tiếp:

– Biết được tin các cháu, tôi mừng cho ông bà và mừng cho chúng có được một tương lai tốt. Chỉ tiếc là hồi ấy, ông bà không đi làm tôi cũng bị nhỡ lây chuyến tàu cuối.

Bà Đăng thở dài, nói câu phân trần:

– Nói cho ngay, đã là dân thì sống dưới chế độ nào cũng là… dân, và khó thoát cảnh trên đe dưới búa. Tuy nhiên, việc ở lại có lẽ là một sai nhầm lớn ông ạ. Ngưng lại một chút, bà tiếp:

– Lúc ấy, ai cũng nghĩ rằng khi ra đi là mất nhà mất nghiệp, mất làng mất xóm. Còn ở lại đã có… bác, có giải phóng, có chính phủ…. Hơn thế, có hòa bình, có độc lập, có tự do, và ấm no hạnh phúc. Ai ngờ trăm voi không được một bát nước sáo.

– Bà nói nhời nói phải. Âu cũng là cái số do trời định sẵn, nên cả nước đều bị nó lừa.

Sau câu nói toạc móng lợn, ông Lục thấy lòng hứng khởi. Hứng khởi một phần vì buổi gặp gỡ, chuyện trò với ông bà Đăng khá thuận buồm xuôi gío. Và một phần khác thì tin rằng vết nứt tình cảm giữa ông và ông Đăng trước kia đã ăn da non. Ông yên trí, cúi xuống hút điếu thuốc, uống hớp nước trà thấm giọng, và sửa lại thế ngồi:

– Thật tình với ông bà, lâu nay vì những chuyện buồn riêng trong lòng, ngoài việc dắt con trâu ra đồng, tôi chẳng mấy khi cất bước ra khỏi nhà. Hôm nay, tôi sang đây là có ý muốn thưa với ông bà một câu chuyện.

Bà Đăng vội lên tiếng:

– Ông dạy qúa lời.

– Tôi không dám, nhưng sự thật là thằng cả nhà tôi đã mất. Cháu nó mất ngày nào, chôn cất ở đâu, tôi không hay biết. Họ chỉ gởi cho tôi tấm giấy báo tin là xuổi tay, hết trách nhiệm. Tính từ ngày nhận được tờ giấy báo đến nay, đã là giáp năm thứ hai. Chiều mai tôi dự định cho cháu chén cơm, nhân tiện xin được mời ông bà và cháu sang chơi.

Bà Đăng biết đây chỉ là cái lý do ông bà Lục viện ra để đôi bên có dịp nối lại cái thâm tình cũ, nên trả lời:

– Thời buổi này, ông bà bày vẽ ra cơm nước làm gì cho tốn kém. Phần chúng tôi, nếu ông bà không cho biết thì thôi, nhưng ông bà đã bảo, nhất định chúng tôi phải sang.

– Nào có bày vẽ cỗ bàn gì đâu. Bà nhà tôi có nuôi chui được vài con gà. Nhân ngày cùng tháng tận của cháu, gọi là có một

bát cơm, chén nước cho cháu. Sống cháu được hưởng, chết thì nó cũng được ấm lòng.

Nói chưa dứt câu, chừng như ông Lục bị rơi vào cơn xúc động khi nhớ đến người con. Ông ngưng câu chuyện, và đưa đôi mắt đỏ nhìn lơ đãng ra sân. Lát sau ông tiếp:

– Như ông bà biết, chỉ vì một phút nông nổi kém suy nghĩ, tôi đã để cho nó đi theo bọn hình nhân làm giải phóng. Kết qủa, phần gia đình thì tan nát. Con chết đã không nhìn thấy bố mẹ, rồi đến cái xác, cũng không biết bị người ta vùi dập vào bờ lau bụi cỏ nào. Đến khi bước vào xã hội, lại gây ra bao nhiêu điều tiếng cho dân làng. Thật, ông Lục chép miệng: Cho đến chết tôi cũng không quên được mối hận tủi này.

Nói xong, ông Lục rươm rướm hai hàng nước mắt. Bà Đăng không ngăn được cơn xót xa. Bà lên tiếng khuyên giải:

– Đã sinh ra đời là có phận ông ạ. Làm cha mẹ ai chẳng thương con, ai chẳng muốn được sống gần bên con. Tuy nhiên, trong trường hợp của cháu, biết đâu cháu đi sớm như thế lại là phần phúc riêng của cháu. Có sống như mình, đã chắc gì là hạnh phúc.

Ông Lục bùi ngùi:

– Phải, lắm lúc tôi cũng nghĩ thế! Chết là rảnh nợ, hết lo âu. Còn sống như tôi thì đúng là để làm trò cười cho thiên hạ.

Nghe thế, ông đăng cười hì một tiếng, hỏi đùa cho câu chuyện bớt căng thẳng;

-Họ tính mời ông ra nắm ủy ban hay bên hợp tác?

Ông Lục hiểu ý, vỗ đét bàn tay trên bắp đùi:

– Tôi mà nắm ủy ban thì nhờ ông nắm hộ cái nhà kho.

Nói xong cả hai cùng cười, riêng ông Lục mừng khấp khởi. Mừng vì ông đã làm tròn nhiệm vụ do bà Lục giao phó. Ông bà Đăng sẽ sang dự đám giỗ, khi ấy vợ ông tha hồ to nhỏ, bàn tính đến chuyện của thằng út. Phần ông, ông lại khề khà ly rượu bên người bạn cũ. Khi ấy, cái vết nứt tình cảm do ông gây ra năm nào, dù không muốn nó cũng phải liền. Tự nghĩ thế ông sảng khoái đứng dậy, cầm xáp thuốc và cái đèn bật cho vào túi:

– Có lẽ trưa đến nơi rồi, tôi xin phép ông bà thôi.

Sau câu giữ khách theo lệ, ông bà Đăng cùng đứng dậy. Ra đến cửa, ông Lục không quên nhắc lại lời mời lần nữa:

– Thế nào ông bà và cháu cũng sang chơi đấy nhá.

Bà Đăng tiếp lời:

– Vâng, chúng tôi sẽ sang, nhưng xin ông bà đừng bày vẽ cỗ bàn ra làm gì! Riêng cháu nó, xin ông bà để cho khi khác.

– Phải, để tùy ý cháu bà ạ.

Nói xong, ông Lục bước ra khỏi con ngõ nhỏ. Con ngõ ông đã cố tình bỏ quên mấy năm nay, lúc này, nhờ nó lòng ông lại rộn lên một niềm vui mới. Bước chân ông dòn dã hơn. Về đến nhà, ông chưa kịp vào trong. Bà Lục đã đon đả hỏi chồng:

– Ông có gặp ông bà ấy không mà về trễ thế? Tôi chờ mãi.

– Có, tôi gặp cả hai đấy chứ.

– Công việc thế nào, liệu ông bà ấy có sang không?

Ông Lục chân trong chân ngoài kể lại đầu đuôi câu chuyện, rồi bảo:

– Ông bà ấy sẽ sang, còn cái Hồi thì không chắc.

– Vậy cũng được, bề gì nó cũng là con gái, chả nên ép nó.

Đang dở hỏi câu chuyện bên cửa, bà Lục quay nhìn ra ngõ và thấy có bóng người thấp thoáng. Bà lên tiếng:

– Ai đó?

– Thưa bà, cháu là Hồi đây ạ.

Ông Lục thoáng ngạc nhiên, trong lúc bà Lục bước trở ra sân:

– Vào đi cháu, có việc gì mà phải rón rén thế?

Hồi bước lên thềm nhà vẻ ngập ngừng:

– Thưa bà…

Bà Lục đỡ vuông vải đen trên tay Hồi:

– Cái gì vậy cháu?

Không chờ Hồi trả lời, bà Lục đi vào trong nhà rồi để túm vải xuống trên cái chõng. Trong lúc tay bà lần mở các nút thắt vuông vải, tiếng bà ngỡ ngàng kêu lên:

– Ấy chết, sao thày mẹ cháu lại làm thế này?

– Thưa bà, thày mẹ cháu có nhời dặn, ông bà bên đây không phải là người xa lạ, nên mới dám có chút qùa mọn để cúng giỗ cho anh cả. Nếu là người ngoài, thày mẹ cháu không dám đường đột.

Ông Lục từ nãy đứng ngây người, ông hết trố mắt nhìn vợ, nhìn Hồi rồi đến cân gạo nếp gói trong vuông vải. Ông hoàn toàn rơi vào trong sự xử thế đầy tình người của ông bà Đăng. Riêng bà Lục, mặt bà lộ rõ nét tươi vui. Vui không phải vì được bát gạo nếp, nhưng chính vì sự kiện bà sắp có con dâu. Bà cười nói luôn miệng. Sau khi đem cân gạo nếp cất vào trong buồng, bà đưa trả vuông vải đen cho Hồi:

– Cháu có vào ngồi chơi uống bát nước không?

– Dạ thưa bà, xin phép bà để cho khi khác.

Bà Lục không nài ép, bà bảo Hồi khi nàng bước xuống bậc thềm:

– Cháu về cho bác gởi lời cám ơn thày mẹ cháu nhá.

– Thưa vâng.

– Rồi hôm giỗ, nhớ sang đây giúp bác một tay.

– Dạ…!

Hồi quay gót bước đi, ông bà Lục đứng nhìn theo bước chân nhẹ nhàng khoan thai của nàng. Bà Lục nhìn thẳng mặt chồng:

– Được người như thế về làm dâu, tôi có chết cũng an lòng.

Ông Lục nhìn bà đáp gọn:

– Phải, bà nói nhời nói phải…

  • Chương 1

    Sau hơi thuốc lào dãn phổi, Bảng đứng dậy, nhịp nhàng vỗ đôi tay vào nhau:  - Báo cáo làng nước đã hết gìơ nghỉ. Yêu cầu làng nước tranh…

  • Chương 2

    Sau khi khóa cánh cửa ra vào bằng một ống khóa to bản, Bảng kẹp cái mũ cối vào bên hông, bước vội ra đường. Trên đường về, Bảng gặp…

  • Chương 3

    Ra đến đầu ngõ, Bảng thấy một bóng người chạy xầm xập lại trước mặt. Gã quát hỏi: - Ai đó? - Tôi đây! Thưa ông chủ nhiệm. - Anh…

  • Chương 4

    Thời khóa biểu của ông Lục vào những ngày không đưa con Mễ đi cày rất giống nhau. Buổi sáng, sau khi lót dạ một chén cơm nguội, hoặc một…

  • Chương 5

    Chiều đến, ông Lục lững thững dắt trâu về nhà. Trong lúc chân ông bước từng bước chậm chạp trên con đường mòn cũ, lòng ông không quên nhẩm lại…

  • Chương 6

    Sau khi căn dặn Dụng một số điều cần phải làm khi nó sửa soạn dắt trâu ra đồng, ông Lục ra mở cổng, dắt con Mễ ra khỏi chuồng…

  • Chương 7

    Đã từ lâu lắm, hôm nay ông Đăng mới có được một niềm vui nho nhỏ. Niềm vui đó chính là sự đả thông nỗi lòng uẩn ức giữa ông…