Đã từ lâu lắm, hôm nay ông Đăng mới có được một niềm vui nho nhỏ. Niềm vui đó chính là sự đả thông nỗi lòng uẩn ức giữa ông và ông Lục. Sau khi tiễn chân ông Lục ra về, thay vì ra xem liếp rau, vợ chồng ông Đăng ngồi lại nói thêm vài câu chuyện với nhau. Qua trưa, ông nhìn vào phía trong dục vợ:

– Bà gọi con nó ra đây, hỏi nó lại một lần nữa trước khi gỉa nhời dứt khoát cho người ta.

Bà Đăng liếc nhìn chồng:

– Còn phải hỏi han gì nữa, tôi đã bảo nó đến mấy lần.

– Tuy là như thế, nhưng tôi muốn nghe rõ ý kiến của nó để sau khỏi có điều ân hận.

Bà Đăng chiều chồng, quay vào trong gọi lớn tiếng:

– Hồi à… ra đây U hỏi tý việc nào.

Chưa nghe tiếng trả lời, bà tiếp:

– Cái con này đến hay, vừa mới ở đây đã bỏ đi đâu rồi, Hồi ơi.

Bà chưa dứt câu, bóng Hồi đã thấp thoáng, ngập ngừng bên khung cửa:

– U cho gọi con?

Thay vì trả lời, bà Đăng ngước nhìn Hồi từ đầu đến cuối chân, như để thẩm định lại sự đánh gía của bà cho rằng, con gái út của bà vừa đẹp vừa ngoan. Bà mỉm cười hài lòng, biết chắc sự đánh gía ấy không đến nỗi nhầm. Bà đáp:

– Phải, U gọi con ra cho thày con hỏi tý việc.

– Thưa thày, có chuyện gì ạ?

Hỏi xong, Hồi mau mắn đến ngồi phía sau lưng bà Đăng. Rồi chả cần ai dục, Hồi tự động cởi nút thắt vuông vải dùng làm khăn quấn trên đầu bà Đăng xuống, nàng muốn rẽ lại mái tóc và nhổ bớt cho bà dăm ba sợi tóc bạc. Khi vuông vải vừa tụt xuống khỏi đầu, Hồi vẻ bỡ ngỡ kêu lên:

– Không nhổ được nữa U ạ. Nhổ thế này thì hết tóc.

– Thì có ai bảo con nhổ nữa đâu.

Tuy nói thế, bà Đăng không phản đối việc Hồi tiếp tục rẽ lại mái tóc và nhổ cho bà vài sợi tóc sâu. Đây là một cử chỉ rất đơn sơ, vừa thân thương vừa đầy tình nghĩa mẹ con, Hồi thường làm cho bà trong lúc hai mẹ con nàng rảnh rỗi. Bà Đăng rất yêu thích công việc nhỏ bé ấy. Lát sau, thấy chồng ngồi im lặng, bà lên tiếng dục:

– Ông hay nhỉ, muốn hỏi con điều gì thì cứ hỏi. Đã cho gọi nó ra đây, ông lại ngồi yên ắng thế?

Ông Đăng từ nãy, mải ngồi nhìn và quan sát từng cử chỉ lời nói của hai mẹ con Hồi. Khi nghe vợ dục, ông giật mình chưa biết mở đầu câu chuyện bằng cách nào. Ông đẩy sang cho bà:

– Thì bà cứ nói cho con nó nghe đi.

Nghe ông Đăng nói thế, Hồi đâm ra lo lắng, cúi xuống gần bên  vai bà Đăng:

– Thày muốn hỏi con điều gì hả U?

Bà Đăng kín đáo nhìn chồng, nhìn con rồi bảo:

– Thì… về chuyện trăm năm của con chứ còn chuyện gì nữa.

Hồi thở ra một hơi dài nhẹ nhõm như trút được gánh lo,

nhưng lại gục hẳn đôi má đỏ xuống trên vai bà Đăng vì câu trả lời của bà:

– U hay thế! Con không muốn lập gia đình sớm.   Con chỉ muốn ở nhà với thày U thôi.

– Nữ thập tam, nam thập lục. Con năm nay đã 17, không lấy chồng còn để đến bao gìơ?

Không chờ cho Hồi trả lời, bà Đăng phần trần:

– Nếu xét về tuổi tác thì các cụ ta thường dạy như thế, nhưng nói cho ngay, chả mấy người lập thân vào lứa tuổi này. Tuy nhiên, con năm nay đã 18, và thày U thì giống như cánh lá vàng cuối chiều, cái ngày về với ông bà không còn bao xa. Thày U muốn lo cho con có nơi có phận hơn là long đong về sau. Ý con…

Hồi mỉm cười, tiếp lời bà Đăng:

– Ý con… chỉ muốn ở nhà thôi. U chả nên lo con ế chồng, ở nhà ăn hết cơm gạo của U.

Bà Đăng mắng yêu con:

– Con này nói lạ…

Câu chuyện hỏi ý kiến Hồi những tưởng khá dễ dàng, không ngờ, cả hai bên đều nhìn nhau trong ngập ngừng im lặng. Sự im lặng về phía ông bà Đăng có nhiều nguyên do, trong đó có sự kiện nhìn cảnh nhà xơ xác, họ không biết lấy gì để lo cho con. Nói thế, không có nghĩa là những người nghèo khó thỉ con cái thường ế ẩm. Tuy nhiên, cái mặc cảm ấy đời nào cũng có. Kế đến, cái bản án thành phần ông Đăng bị đeo vào cổ và chưa biết đến ngày tháng nào mới được tháo gỡ mới là vấn đề nghiêm trọng. Bởi lẽ, khi chưa được tháo gỡ, ông bà Đăng, và dĩ nhiên, con cái của họ cùng chịu chung một số phận là bị gạt ra ngoài sinh hoạt của xã hội Việt cộng.

Xã hội này tồn tại được bao lâu thì chưa ai dám quyết, nhưng

còn chúng ngày nào thì những người như ông bà Đăng, có con di cư vào Nam, đi lính cho phía Cộng Hòa thì còn gặp nhìều tai ách với chúng. Chúng quyết không để cho những người này  có cơ hội đồng sàng với người đồng thôn. Đó là một điều khổ tâm nhất cho những người sống trong cùng một lũy tre xanh. Ông Đăng không ra ngoài cái thông lệ đó.

Riêng với Hồi, nàng biết mình đang độ xuân mới chớm. Nghĩa là, nàng đang ở vào lứa tuổi mơn mởn như đòng đòng sắp trổ bông. Một lứa tuổi tốt nhất, thuận lợi nhất cho việc lập gia đình. Hoa có lứa gái có thời. Không có con ong, cánh bướm nào mê hoa tàn nhụy rữa. Và chắc không ai dại dột, ngồi chờ gái lỡ thời cho mình mảnh tình si.

Tuy biết thế, Hồi lại cho rằng, tư tưởng ấy qúa khắt khe và không công bằng. Khắt khe vì chuyện lập gia đình là do ý thức của mỗi cá nhân, hơn là ý muốn của người ngoài. Theo Hồi, mỗi người có quyền chọn lựa lấy cuộc sống và sống cho mình, không nên trói buộc người con gái vào trong cái thành kiến cổ hủ của xã hội. Bởi vì, nó luôn luôn trói buộc  người con gái vào trong ý nghĩ nghĩ thiển cận, cứ đến tuổi lớn khôn là phải lo đi lập gia đình.

Từ đó có cảnh, nhiều người lấy chồng, không cần biết đến tình yêu, không cần biết đến hạnh phúc tương lai là gì. Họ phải lấy chồng vì lo ế ẩm, vì ngại những điều tiếng chung quanh, và phải lấy chồng cho có chồng với chị với em. Hoặc phải lấy chồng vì mấy câu hát dạo: – ”Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi. ” hay là ”không chồng khổ lắm chị em ơi.”

Cứ thế, từ thành kiến đến những câu ca vè. Chị em phụ nữ

tiếp tục rủ nhau lấy chồng cho yên phận. Phần kết qủa hạnh phúc, hay đắng cay thì hoàn toàn phó mặc cho dòng định mệnh với sự rủi may của đôi ba bến nước, trong nhờ đục chịu. Có cơm có cá thì may, không cơm không cá, chạy về nhà, mò nồi cơm bà ngoại. Khi nghĩ đến khúc quanh này, Hồi bật cười tự bảo:

– Nếu thế, Hồi chẳng đi lấy chồng.

Hồi có ý tưởng ngộ nghĩnh này, không phải vì Hồi biết mình là cô gái đẹp với hương xắc tinh khôi, làm nhiều trai làng ngơ ngẩn. Cũng không phải vì nàng tự cho mình là cô gái duyên dáng, từ đó, nàng chỉ cần đưa tay ra là: ”Ba đồng một gánh đàn ông”. Cũng không phải vì nàng thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt, vào xe đẩy, ra xe cáng, để nàng có quyền kén cá chọn canh. Đặc biệt, nàng cũng không thuộc diện tiểu thơ Việt cộng, muốn dùng đôi dép râu để hù những tay chơi yếu bóng vía. Nhưng chính vì nàng là cô gái mới, vừa trưởng thành trong xã hội chủ nghĩa Việt cộng.

Từ trong xã hội chủ nghĩa của Việt cộng, Hồi thấy, những người thanh niên, thiếu nữ trên đất bắc, cùng thời cùng trang lứa với nàng, không nên hủ hóa theo lời đảng. Trái lại, nên võ trang cho mình một ý thức mới trong vấn đề lập gia đình:

– Thứ nhất phải vì tình yêu, vì hạnh phúc và vì tương lai của mình cũng như của con cái trong việc kết hôn.

– Thứ hai, nếu vì tình yêu mà họ kết hôn. Con cái đẻ ra phải

được huấn luyện, được đào tạo trong cái nhân bản đạo đức làm người. Tuyệt đối không bao gìơ được phép noi gương đá cá lăn dưa của lãnh đạo đảng và nhà nước Việt cộng.

Sở dĩ Hồi có ý tưởng khác người này là vì suốt một chiều dài của đất nước yên vui, nhưng riêng người dân trên đất bắc phải trở thành những công cụ lao động, không nói, không cười, không niềm vui, không hạnh phúc, không tương lai. Tệ hơn thế, đảng còn buộc họ học bỏ tình người, bỏ đạo lý, rồi tham gia vào trò chơi đấu tố để tạo niềm vui, tìm lẽ sống cho bác và cho cây mã tấu.

Hiện tại là thế, đến khi nhìn vào học đường, nơi tạo tương lai, Hồi thấy đó chính là nơi, cán bộ đảng dạy cho trẻ lý thuyết tam vô. Nơi, chúng dạy dỗ cho trẻ biết cách tô son đánh phấn kẻ gian ác, thay vì dạy dỗ trẻ điều nhân, lễ, nghĩa, tín, trung. Dưới sự giáo dục như thế, những đứa trẻ ngây thơ xinh đẹp, được biến đổi thành những hình nhân, mặt mang hình người, nhưng lòng là dã thú rập theo khuôn mẫu của bác của đảng.

Hoặc được biến đổi thành những con dao mã tấu biết đi, biết nói, biết chém giết không gớm tay trên thân xác người đồng loại. Biết trở dáo cho người thân, và biết chém chết niềm ước mơ hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc của người dân Việt. Một đời sống với muôn vàn bất hạnh ấy, có gì gọi là vui, có gì gọi là hạnh phúc, để nàng truyền lại cho thế hệ kế tiếp? Từ suy nghĩ đó, Hồi không có ý định lập gia đình.

Trong khi đó, ông bà Đăng lại không thể hiểu lòng con mình. Cứ thấy con càng lớn lên lại càng lo. Hơn thế, có lúc ông bà Đăng nhìn nhau bằng ánh mắt buồn phiền lẫn thất vọng. Buồn vì để con gái lớn trong nhà, có khác gì chứa qủa bom nổ chậm? Khi có mấy đám đến xin hỏi cưới Hồi, ông bà Đăng mỉm cười, những tưởng phen này sẽ khiêng bom sang nhà người khác. Ai ngờ, lúc hỏi ý kiến Hồi, Hồi nhất định không bằng lòng. Kết qủa, ông bà Đăng đành trả lời cho người mai mối, sau đôi ba phen khuyên bảo con.

– Cám ơn ông bà có lòng thương đến cháu. Nhưng cháu còn nhỏ dại và chưa muốn đi gánh vác.

Người được nghe câu trả lời thừa biết ông bà Đăng và Hồi chê thân chủ của mình. Tuy nhiên, không thể đưa ông bà Đăng ra tòa vì cái lý do, cháu còn nhỏ chưa muốn đi lấy chồng. Nên ngay khi vừa bước ra đến đầu đường, người mai mối kia không quên nhìn sâu vào trong con ngõ nhỏ, phang ngang một câu:

-Thật không biết giời cao đất thấp là gì. Đã mang cái án thành phần vào cổ, còn chưa mở mắt ra hay sao mà neo gía.

Ông bà Đăng nghe được lời bình luận ấy đã buồn, lại rát như muối xát vào mặt. Nên khi ông bà Tế là người cùng chung một danh sách thành phần, đến gặp ông bà Đăng, nói câu chuyện trăm năm cho con là Đạo, ông bà Đăng có ý bằng lòng. Đến khi hỏi ý kiến Hồi, nàng lại thưa:

– Con biết anh ấy là người có học lại tử tế, và cùng hoàn cảnh với gia đình ta, con rất qúy trọng bên ấy. Nhưng xin thày U thương, con chưa muốn lập gia đình.

Nghe câu trả lời ấy, ông bà Đăng thất vọng ra mặt, nhưng không muốn ép buộc con, đành tìm cách trả lời cho ông bà Tế vui lòng. Kể từ ngày gỉa nhời cho ông bà Tế, ông bà Đăng tự ý xếp lại hồ sơ, không muốn đề cập lại vấn đề hôn nhân với Hồi nữa. Không ngờ, lúc gần đây, bà Lục, một người mẹ của cách mạng Việt cộng, người mẹ của chiến sỹ nhân dân lại chính thức bước vào đường đua, khiến ông bà Đăng khó nghĩ, nhưng không thể không có câu trả lời. Một lúc sau, bà Đăng buộc lòng phải hỏi lại con:

– Chuyện ông bà Lục đã sang đây ngỏ ý, muốn xin con về bên ấy, ý của con thế nào?

Ý con thế nào? Câu hỏi Hồi đã dự đoán trước, nàng vẫn không tránh được sự giao động.

Dụng, một chàng trai làng cùng trang lứa với Hồi. Anh ta không có nét tuấn tú, thanh lịch, nhưng cũng không có điệu bộ quê kệch của những người đặc ruộng. Anh ta cũng không có cái cung cách dị hợm, vênh váo, đá cá lăn dưa của lớp người được liệt kê vào danh sách ưu tú như cán bộ, đảng viên hay gia đình liệt sỹ của của Việt cộng. Dụng chỉ là một chàng nông phu áo vải, có vóc dáng vạm vỡ khỏe mạnh, có một khuôn mặt trông rõ nét thật thà đôn hậu. Tài của Dụng là việc sử dụng ngọn roi nhỏ thoăn thoát trên tay. Ngồi uống chưa cạn chén trà nóng, Dụng đã dẫn trâu cày xong công ruộng.

Với Hồi, Dụng không phải là người xa lạ. Hồi và Dụng đã biết nhau ngay từ khi tóc còn để chỏm. Ngày ấy, Dụng, Hồi và những đứa trẻ lối xóm thường chạy nhảy, chơi chung với nhau. Khi chơi, Dụng nổi tiếng là một đứa trẻ vừa nhát vừa dốt. Nó không bao gìơ biết chơi ăn gian. Mỗi khi chia phe, chơi trò đuổi bắt, Dụng giống như một trái banh. Chúng bạn hết đẩy nó sang bên đây, lại trả về bên kia. Nó trở thành một đứa trẻ không có mặt thì thiếu người, có lại là thừa thãi. Những lúc đứng nhìn trái bóng chạy ngược chạy xuôi ấy, con bé Hồi thấy vừa buồn cười vừa tội nghiệp cho thằng Dụng.

Tuy Dụng bị bạn bè sử nhạt, nhưng nó lại là một đứa trẻ tốt bụng. Thỉnh thoảng nó mang đến cho Hồi, cho Cách qủa chuối, củ khoai. Trong lúc vui vẻ, chia chung nhau củ khoai của tuổi thơ, có khi nào Hồi dám nghĩ đến chuyện sau này, khi lớn lên, bố mẹ thằng Dụng đi hỏi cưới con bé Hồi cho thằng Dụng?

Dĩ vãng làm Hồi tự mỉm cười, nàng giữ im lặng. Bà Đăng lên tiếng nhắc lại câu hỏi. Hồi nói tránh:

– Con không biết anh ta mấy.

– Có gì mà biết với không. Nó hiền lành chân thật cả làng đều hay.

– U dạy như thế cũng phải, nhưng anh ta là con của liệt sỹ còn gia đình mình…

Hồi bỏ lửng câu nói khi nàng bắt gặp ánh mắt đầy dấu phẫn nộ, và đau khổ của ông Đăng như muốn bảo:

– Thế con định trách bố mẹ, là tại bố mẹ cho anh con đi lính cộng hòa rồi di cư vào nam, để gia đình bị liệt kê vào thành phần, làm dở dang việc trăm năm của con đấy à?

Nhưng ông Đăng kịp giữ lại câu hỏi đầy uẩn ức ở trong lòng, rồi lặng lẽ ném ánh mắt phiền muộn ra ngoài khung cửa. Tín hiệu ấy giống như một câu trẩ lời chấm hết cho những hy vọng của ông. Ông toan đứng dậy, bước ra ngoài để tìm lấy chút không khí ở trước sân cho lòng ngực bớt nóng, ngộp, nhưng lại thôi.

Lát sau, ông nhìn con, toan giải thích cho Hồi biết việc ông cho Thông, người anh cả của Hồi gia nhập vào đoàn quân cộng hòa là một việc tốt cần phải làm. Kế đến, việc ông bảo Thông đưa thêm vài đứa em vào nam là một hành động can đảm, đúng đắn không sai nhầm. Riêng việc ông quyết định ở lại thì… sai. Nhưng chuyện ấy đã dĩ lỡ rồi, ông có hối cũng bất cập, Hồi không nên nhắc lại, để nó làm rách thêm ra vết thương không thể lành trong gia đình.

Ý tưởng của ông Đăng rõ ràng như mực đổ trên tờ giấy trắng. Hơn thế, với tính tình ngay thẳng không để bụng, những tưởng ông có thể giải thích cho Hồi nghe bất cứ lúc nào. Ai ngờ, mỗi lần ông toan tính nói cho Hồi nghe là một lần ông tự luẩn quẩn, suy đi tính lại, cân nhắc thiệt hơn. Cuối cùng, ông chọn con đường yên lặng, chôn chặt câu chuyện kia xuống đáy dạ dày thay vì tháo gỡ ra. Từ sự kiện không thể tháo gỡ này, đẩy ông vào cảnh cô đơn, khắc khẩu với con và cũng ít chuyện trò với vợ.

Trong khi ấy, Hồi lại đọc được hết niềm tâm sự và nỗi u uẩn trong lòng ông Đăng. Nàng biết, đến lúc nút thắt kia cần phải được tháo cởi, nàng đã trải lòng mình ra trước mặt ông bà Đăng:

– Xin thày U đừng nghĩ oan cho con tội nghiệp. Sự thật, con không hề than thân trách phận, cũng không bao gìơ có ý phiền trách thày U vì chuyện anh cả ra đi, để gia đình ta bị nhà nước quy vào thành phần xấu. Lý do, nhà nước có mở tuyên truyền hết ngày này sang tháng khác, rồi quy những gia đình có con em, có thân nhân vào nam là thành phần xấu, cũng chẳng có một ai tin lời nhà nước. Gia đình ta tốt xấu ra sao, làng xóm đều có đánh gía. Riêng việc lập thân của con, con có nhiều lo lắng, nên chưa muốn lập gia đình.

Bà Đăng ngay tình hỏi:

– Con lo lắng những chuyện gì? Có phải việc xin ủy ban thuận

cho làm tuyên bố không?

Tiếng Hồi rõ ràng, dứt khoát:

– Không U ạ. con không sợ chuyện ấy. Chỉ sợ anh ta sau này

lại vào đoàn, vào đảng, tiếp tay cho chúng gây thêm tội ác đối với nhân dân, rồi để  nghiệp chướng lại cho con, cho cháu về sau thôi.

Ông bà Đăng toát mồ hôi nhìn nhau. Riêng bà, sau khi nhìn ông, bà quay phắt lại phía sau, nhìn như xoáy đôi mắt trên mặt Hồi. Bà không thể ngờ, và không biết người con gái bé bỏng của bà lấy ở đâu ra cái tư tưởng kỳ lạ như thế? Có bao gìơ ông bà Đăng dám hé môi nói ra nửa lời lo âu trước mặt Hồi, hoặc có bao giờ ông bà Đăng khuyên bảo Hồi bằng cái suy tư ấy đâu? Ai đã dạy bảo nó như thế? Càng nhìn con, ông bà Đăng càng thêm hoang mang, ngỡ ngàng. Hồi tiếp:

– Thưa thày U, thật tình không phải con không có cảm tình với anh ta, hoặc là với anh Đạo con bác Tế trước đây. Cũng không phải con có ý lấy đũa mộc chòi mâm son, nhưng xin thày U thương là con không muốn lập gia đình. Bởi vì, khi lập gia đình người ta thường nhắm đến hai mục đích. Một là hạnh phúc bản thân. Hai là tương lai của gia đình và xã hội. Về hạnh phúc bản thân, con quyết là không thể có khi con người bị trói buộc vào cuộc sống trong xã hội chủ nghĩa này.

– Kế đến về mặt xã hội. Nếu chồng của con là người có liên hệ với đoàn đảng, có thể nào con nuốt trôi miếng cơm khi anh ấy ra ngoài, rồi dúng tay vào tội ác? Làm sao con ngủ yên giấc, khi lo đến đàn con cái mai sau đi theo nghiệp chướng đoàn đảng, dúng tay vào máu người dân hiền lành vô tội, và chà đạp lên nền luân lý đạo đức của nhân dân, làm tủi hổ cho tông đường?

Trường hợp lấy người trong diện như mình? Con cũng không thể ăn ngon ngủ yên. Bởi vì, nếu trời thương ban cho con có được người chồng đức hạnh, không dúng tay vào chuyện ác gian giống họ thì lại lo cây dao của nhà nước không hài lòng. Riêng lũ con thì lại phải học những  điều bất nhân nghĩa của chúng, con sống sao được. Vì những lý do ấy, xin thày U cho con được ở nhà.

Trong lúc Hồi giải bày tâm tư, nét mặt ông Đăng không ngừng biến đổi. Biến đổi từ nét giận hờn ngấm ngầm đến cái nhìn chăm chú, đầy ngỡ ngàng. Lúc đầu, ông những tưởng Hồi sẽ nhân câu chuyện, để xa gần trách cứ cái quyết định sai nhầm của ông. Khi đó, dù không muốn, ông bó buộc phải tìm cách để lấn lướt nàng. Đến lúc này, ông mới vỡ lẽ và biết. Hồi đã không hề phiền trách ông. Hơn thế, Hồi hoàn toàn thông cảm với những băn khoăn lo nghĩ trong lòng ông. Tự nhiên ánh mắt ông dịu hẳn xuống rồi thấy buồn.

Buồn vì cái búa cái liềm, cái trớ trêu của bác đảng đã đẩy con ông vào bước đường cùng không lối thoát. Buồn vì Hồi phải hy sinh thời xuân xanh tươi trẻ, hy sinh tình yêu hạnh phúc gia đình. Buồn vì nàng phải dấu cuộc đời vào trong ngõ tối hiu quạnh. Rồi buồn vì xét về lỗi lầm? Hồi không có một lỗi lầm nào. Xét về tài mạo, đức hạnh. Hồi không thua kém ai, nếu không muốn nói là nàng hơn người. Và buồn vì Hồi đã không có, dù chỉ một lời trách cứ ông.

Nghĩ đến đây, ông thấy đôi mắt cay nặng và cổ nghẹn đắng.

Ông dụi mắt, muốn khóc òa lên vài tiếng như đứa trẻ cho vơi

niềm cay đắng. Nhưng khốn nỗi, những uất hận, đắng cay, chừng như mỗi lúc một dâng cao lên và chẹn chặt lấy cổ ông. Ông há miệng ngáp vài cái, uống vội bát nước. Ông muốn nhờ chén nước kéo hết những uất nghẹn ấy vào đáy dạ dày cho yên chuyện. Kết qủa, ông nuốt đến đau cần cổ, nỗi đắng cay không chịu vào.

Nuốt không vào, ông lại muốn mửa những hờn căm ấy ra ngoài. Tội thay, mửa đến khàn hơi, chảy nước mật xanh, bác đảng vẫn kiên trì bám chặt lấy cổ ông. Ông tuyệt vọng, nhắm mắt, lắc mạnh cái đầu trên cần cổ mấy vòng cho tỉnh táo, rồi mở to ra, nhìn người con bé bỏng ngồi trước mặt. Càng nhìn, trái tim ông càng quặn thắt. Ông hối hận, ông giận chính ông. Giận vì một phút nông nổi, thiếu suy nghĩ, tiếc mảnh vườn con trâu mà ở lại để đến nỗi như ngày hôm nay.

Ngồi đối diện với ông là bà Đăng. Bà cũng hoang mang bối rối không kém ông. Nhưng thay vì than vãn trước cảnh cá nằm trên thớt, bà lên tiếng khuyên nhủ con:

– Trời có khi nắng khi mưa. Trăng có lúc tròn lúc khuyết. Không ai nằm vắt tay lên trán từ tối đến sáng. Cũng thế, lo âu là chuyện từng ngày, lập thân là chuyện một đời. Con không thể vì những suy nghĩ kia mà bỏ qua việc đi gánh vác. U ngày xưa trước khi lấy thầy con, tuy không có bác đảng, nhưng cũng có hàng trăm nghìn nỗi lo. Kết qủa, dù không có nhà cao cửa rộng, không lụa là gấm vóc, vẫn tìm được niềm vui bên các con. Con nên lấy đó làm kinh nghiệm cho con hơn là ngồi lo nghĩ xuông.

– Nào có phải con sợ khổ hay thích mơ ước nhà cao cửa rộng? Con chỉ ngại vì những điều bất thường trong xã hội này thôi.

Chẳng hiểu nghĩ gì, bà Đăng bảo:

– Giời sinh voi thì giời sinh cỏ. Xã hội nào cũng có những quy luật riêng. Tuy nhiên, con chả nên lo vì việc vào đoàn vào đảng của nó.

– U nói như thế là có ý gì?

– Nào có ý gì đâu con. U muốn cho con biết là chính nó đã bảo U, có chết nó cũng không vào đoàn vào đảng với chúng.

– Anh ta có nói thế à?

– Có nói thế. Lúc trước U không tin, sau này chính bà Lục bảo U như vậy.

Hồi buột miệng:

– Thật dại qúa.

– Con bảo dại cái gì?

– Con sơ ý lỡ lời. Ý con muốn bảo anh ta thật thà qúa, nói ra như thế nhỡ đến tai người khác thì khó sống với chúng.

– Nó đâu có dại đi nói với người ngoài.

– Thì chính anh ta đã nói với U.

Bà Đăng liếc yêu con gái:

– Nó chẳng coi U là người ngoài.

Hồi gỉa như không nghe rõ, tuy nhiên, nàng có ý mừng thầm

trong bụng. Nàng mừng, không phải vì cảm tình riêng tư của nàng có thể đạt, nhưng chính vì chủ quan cho rằng. Dụng và phần đông các thanh niên nam nữ trên đất bắc, đã tự võ trang cho họ cái ý thức nhất định không làm tay sai, không tiếp tay với cộng sản trong việc gây tai họa cho dân. Nàng tươi nét mặt hỏi lại:

– Mà U có dám chắc như thế không?

Bà Đăng mắng yêu con gái:

– Cái cô này hỏi đến hay. Nó nói như vậy thì biết vậy, ai mà dám chắc.

Hồi đang tính bảo: U chỉ hay tin người thì nghe có tiếng gọi từ phía đầu ngõ, bà Đăng vội quay ra cửa nhìn và kéo cái vuông khăn lên đầu, dục Hồi ra ngoài xem chừng có ai đến. Cùng lúc đó, Hồi bước ra sân, nàng thấy bà phó Ba đã vào đến trong sân.  Nàng vội lên tiếng chào:

– Thưa bà phó, bà phó lại nhà.

          *

      *      *

Bà phó, một tay bưng cái rổ không, một tay cầm nghiêng nghiêng vành nón nhìn Hồi mỉm cười:

– Ấy cô cứ khách sáo kêu bà phó làm gì. Tôi tiện đường ngang qua đây, muốn ghé thăm thày mẹ cô một tý thôi, ông bà có nhà không cô?

– Thưa bà có a.! Mời bà phó qúa bộ vào trong nhà ngồi nghỉ chân.

– Cám ơn cô, cô cứ để cho tôi tự nhiên.

Hồi quay vào, nàng chưa lên tiếng gọi, bà Đăng từ trong nhà bước ra:

– Ai vậy con?

– Thưa U, có bà phó lại chơi.

Bà Đăng miệng xuýt xoa:

– Qúy hóa qúa, bà phó lại nhà.

Bà Đăng bước nhanh ra sân:

– Mời bà phó vào trong nhà nghỉ chân, uống bát nước đã.

Bà phó Ba đảo mắt quanh một vòng rồi thay vì vào hẳn trong nhà theo lời mời của gia chủ, bà ngồi bệt xuống bậc thềm, ngay trước lối cửa ra vào:

– Thôi ngồi ngoài này cho mát bà ạ. Tiện đi ngang qua đây tôi ghé vào thăm ông bà một lát, chứ có công chuyện gì mà phải vào trong nhà chè với nước. Ông có nhà không bà, ông bà và cháu khỏe cả chứ?

Bà Đăng không cần khách sáo nhắc lại lời mời, bà hiểu rõ dụng ý của bà phó Ba. Ngồi ở ngoài, một phần cho nó mát như lời bà nói, và một phần khác quan trọng hơn, để dễ quan sát người qua lại trong lúc nói câu chuyện. Sau khi bà phó Ba yên vị trên thềm đất, bà Đăng bước quay vào trong. Lát sau, bà mang ra theo hai cái ly nhỏ và ấm nước chè còn ấm. Bà để xuống bên cạnh bà phó, và kéo manh chiếu cũ trải ra trên vỉa hè:

– Cám ơn bà phó có nhời hỏi thăm. Nhờ ơn… bác với đảng

nên chúng tôi khỏe cả. Ông nhà tôi đang dở ăn điếu thuốc ở trong nhà.

Nghe nhắc đến ông Đăng, bà phó Ba ngoái cổ vào trong hỏi lớn tiếng:

– Ông khỏe không ông?

Ông Đăng thở phào khói thuốc ra trước mặt:

– Khỏe, khỏe lắm bà ạ. Chỉ tội đói ăn thôi.

Bà phó Ba tay cầm bát nước, ngồi nhích gần lại phía bà Đăng:

– Ông lại nói thế. Có bác, cùng lắm là thiếu ăn thôi. làm gì có đói.

Nói xong, bà ghé sát người bên bà Đăng cười nửa miệng:

– Thời buổi đến hay bà nhỉ? Câu nói nào cũng phải thêm vào ”nhờ ơn bác, nhờ ơn đảng”. Bà xem, mình chưa nhờ được gì đã rách… toác như hôm nay. Nếu có nhờ thật, chắc tôi với bà chả còn gì.

Bà Đăng bật cười thay tiếng trả lời, bà phó tiếp:

– Đúng là câm hay ngóng, ngọng hay nói bà nhỉ? Từ thời cha sinh mẹ đẻ đến bây gìơ, tôi chỉ nghe người ta nói cám ơn trời, đội ơn đất. Nhưng lúc này, thời tôm lộn cứt lên đầu, chúng lại bắt dân phải nói nhờ ơn bác… lông!

Những lúc gần đây, mỗi khi gặp bà Đăng, bà phó Ba thường ăn nói táo bạo như thế, tuy nhiên, chả lần nào bà Đăng phản đối. Nhớ lại lúc trước, bà Đăng và bà phó Ba, tuy là người đồng thôn. Nhưng đôi bên có một khoảng cách khá rõ rệt. Họ biết mặt nhau hơn là sự đi lại chuyện trò thân thiết.

Đến lúc Hồ vác búa, vác liềm về Xuân Thủy làm mùa đấu tố phú nông địa hào, và cạo… lông ông phú Lộc, rồi phân chia tình làng xóm, láng giềng ra theo những đường ranh giới mới. Bà phó Ba ngó trước nhìn sau, tự thấy phận mình lẻ loi, lép vế, nên tìm đến và làm thân với bà Đăng.

Khi đến, bà phó Ba không cầu kỳ rào trước đón sau, cũng không võng lọng, xe cáng. Bà tự nhiên kéo cái chiếu rách ngồi xuống bên bà Đăng, tự coi ông bà Đăng như những người thân không thể thiếu trong cuộc đời. Từ khúc quanh đó, tuy không ký kết giấy tờ, đôi bên đã trở nên thân và chẳng có câu chuyện to, chuyện nhỏ nào bà phó Ba nghe biết mà không kể lại cho bà Đăng cùng nghe. Bà hỏi:

– Lâu nay bên bà có nhận được tin của cậu cả ở trong nam không?

– Tôi nghe người ta đồn thổi với nhau nhiều chuyện lạ lắm, không biết thật hư thế nào?

Hỏi xong, bà phó Ba để bát nước chè xuống trên manh chiếu, rồi thuận tay, bà lấy gói trầu và qủa cau bổ sẵn, được gói cẩn thận trong một cái miếng ny lông nhỏ, ra khỏi túi. Bà đưa mời bà Đăng trước khi lấy một miếng cho mình. Cả hai bà đều vui vẻ cho miếng trầu vào miệng để bắt đầu câu chuyện. Khi nhai dập miếng cau, bà phó ba cho cuốn lá trầu vào miệng. Nhai bõm bẽm thêm vài cái nữa, bà phó Ba quay mặt sang một bên, nhổ toẹt bãi nước trầu xuống trên nền đất. Bà Đăng có cùng một cung cách ấy. Bà hỏi lại câu chuyện bỏ dở dang:

– Những chuyện gì vậy hả bà phó?

Bà phó Ba bỏ thêm cục thuốc lào vào miệng cho câu chuyện thêm đậm đà:

– Những chuyện tôi kể ra, có khi bà đã nghe rồi.   Hôm trước tôi có nghe nói, ở trong Nam chính phủ họ cho người dân được tự do đi lại và xây dựng đời sống. Riêng đồng bào ta mới di cư vào, được chính phủ mở những khu dinh điền cho định cư. Nghe đâu mỗi hộ được cấp phát đến ba bốn mẫu ruộng, và cả trâu bò để làm mùa nữa bà ạ.

Nghe thế, bà Đăng xuôi theo câu chuyện:

– Chả biết có đúng như thế không, hay chỉ là những tin đồn nhảm.

– Nhảm thế nào được mà nhảm. Chả gì người ta ũng được chữ tự do.

Sau khi đưa ra lời qủa quyết chắc chắn như thế, bà phó  Ba ghé xát bên tai bà Đăng vẻ bí mật:

– Còn chuyện bầu cử thống nhất nữa, bà có nghe được tin tức gì không?

Bà Đăng cười nhạt:

– Không bà phó ạ.

Bà phó Ba làm ra vẻ quan trọng:

– Khéo mà ngoài này đã nuốt nhời rồi. Nghe đồn nhà nước ta  đồng ý cho bỏ phiếu để thống nhất. Nhưng trong ấy họ lại sợ cái gian trá ở ngoài này nên không thuận..

Nói xong, bà phó Ba há miệng, lấy miếng bã trầu ném ra góc sân:

– Nếu không có bỏ phiếu, mình chẳng còn một tý hy vọng nào. Ruộng vườn đành chịu mất, chả lấy lại được. Ngưng lại một lát, bà tiếp:

– Nghĩ lại, thật không ai dại hơn ông phú nhà tôi.   Lúc còn tiền thúng bạc gánh, thì không chịu gánh vào nam để an hưởng tuổi gìa, lại đi nghe vài ba cái thằng đầy tớ nằm vùng ở trong nhà rồi ở lại. Kết qủa, sau khi chúng về, vườn rộng ao sâu đều bị tịch thu hết. Đã thế, ngày chết nấm mồ cũng không có người nhang khói. Phần vợ con thì bị chúng liệt kê vào thành phần có liên hệ nợ máu với nhân dân, bị bỏ ra ngoài lề xã hội.

Sau tiếng thở dài, bà phó Ba tự ý kéo bà Đăng trở lại câu chuyện ngày xưa của bà. Đây là một loại chuyện mà bà phó Ba thường cho rằng, nó đẹp và có đầy những kỷ niệm và bà chẳng khi nào quên. Bà tả:

– Đấy bà xem, thời con gái và những ngày tôi sống với ông phú… đẹp có khác gì một giấc chiêm bao. Mỗi sáng khi mở mắt ra là nhìn thấy ánh mặt giời lung linh vươn lên khỏi ngọn cau. Rồi lúc chiều xuống, lại thong thả đứng trước hiên mà nghe tiếng tiêu và đợi giăng rụng xuống cầu. Bà chắc còn nhớ, khi ấy, tiếng là ta sống dưới thời thằng tây đô hộ và bị nó bóc lột, nó kìm kẹp nhưng thật ra tôi thấy nó còn dễ chịu hơn bây giờ. Vì có khi nào lời ăn tiếng nói của mình bị dòm ngó, bị phê bình kiểm thảo? Rồi việc đi lại có khi nào bị cấm cản và phải xin phép xin tắc? Còn lúc này? Bà phó ba ngưng lại lấy hơi, tiếp:

– Được gọi là nước độc… nập, tự ro, ấm lo hạnh phúc với chính quyền cách mạng của bác lông thì cả nước đói rách cơ hàn, và xếp hàng làm tôi mọi cho Nga, cho Tàu. Muốn đi đây đi đó thì hàng trăm thứ giấy tờ vẫn chưa được phép ra khỏi nhà. Khi có công có việc, muốn tổ chức lễ lạc đình đám hội hè, cưới vợ gả chồng cho con, cho cháu thì ôi thôi, chúng vẽ ra hàng chục thứ giấy tờ khác nhau. Nếu không thuận theo ý chúng, một là vào tù hai là bị kiểm thảo, bị phạt vạ vì cái tội… ngu. Giọng bà phó bỗng vút lên cao:

– Tội ở đâu lại đẻ ra thứ tội lạ đời? Có chăng vì một lũ ngu nên mới đẻ ra được cái tội ngu như thế bà nhỉ?

Dĩ nhiên, cái nhìn của bà phó Ba về xã hội của Hồ Quang chỉ đúng có 90 phần trăm, còn một chục phần trăm khác thì… sai. Sai vì bà là người thuộc giai cấp tư sản cũ, thế nào bà chả thêm vào tý mắm tý muối cho nó mặn mà câu chuyện. Tuy thế, không có ai nỡ trách bà lắm nhời. Bởi vì:

– Thứ nhất, bà và người dân Xuân Thủy không cần Việt cộng, không cần giải phóng của chúng. Đặc biệt không cần sự có mặt của Hồ Quang ở đây.

– Thứ hai, người dân như bà chỉ cầu mong một đời bình dị bên vườn rau luống cải, bên ruộng lúa con trâu, bên nồi cơm nóng bát canh ngọt. Họ không cần những khẩu hiệu dao to búa lớn của nhà nước Việt cộng. Nói cách khác, họ sống vì miếng cơm manh áo, không thể sống vì những cái khẩu hiệu lẫy lừng của CS.

– Thứ ba, người dân thường cổ hủ, nặng thành kiến nên thích ngày hội, nhớ ngày lễ. Càng nhớ ngày xưa, họ càng không thể thích ứng, hoặc xích lại gần với lối sống của những đỉnh cao trí tuệ ở Hà Nội. Bởi vì, khi chúng úp cái nón cối, đi dép râu lên nền phong hóa là chúng đã chà đạp lên nền luân lý đạo đức căn bản của tiền nhân.

Từ đó, họ có đủ trăm ngàn lý do để cạch mặt Hồ Quang, nhưng lại không thể phản kháng bác. Không thể phản kháng, vì bác rất giỏi nghề ném đá dấu tay, và thạo việc thắt hộ khẩu của người anh em. Kết qủa, những người như bà phó Ba đành phải nhường Hồ một bước bằng cách tiêu cực, dấu cuộc đời, dấu nỗi cay đắng vào trong cuôc sống. Phần bà Đăng, nghe thế, bà  thở dài. Riêng bà phó thì chưa muốn chấm dứt câu chuyện:

– Đấy bà nhìn xem. Họ bảo cần phải đánh đổ phong kiến, phải tiêu diệt cường hào ác bá để người dân được tự do ấm no hạnh phúc. Phong kiến đã đổ, cường hào ác bá đã tiêu diệt hết. Nhưng tại sao người dân mình lại điêu linh khốn khổ gấp trăm lần thời phong kiến và cường hào ác bá xưa kia? Hỏi xong, tự bà làm câu kết luận:

– Vì cường hào ác bá độc ác thua xa bác, thua xa đảng.

– Vì cường hào ác bá chẳng qua là những kẻ cậy quyền cậy thế, làm điều phi nghĩa, bất nhân theo tư thế cá nhân. Trong khi đó, nhà nước ta có bác, có đảng, có cả một chính sách đánh cho dân không có đường chạy, và cũng không thể khiếu nại. Đánh thế mới tài bà nhỉ?

Bà Đăng chưng hửng vì câu hỏi giữa đường của bà phó ba, bà ngồi im chưa góp ý. Phần bà phó Ba, càng nói càng hăng. Bà quơ tay múa chân, đôi khi lại kéo cái váy rách lên qúa đầu gối với cử điệu làm như bà sẽ một sống một chết với Hồ Quang. Hoặc ít nhất, bà muốn cho người ngoài hiểu rằng, bà và Hồ đã đoạn tuyệt, đã đường ai người nấy đi, đã nhà ai nấy ở. Và cả hai đã chỉ tay vào gốc chuối thề rằng, sống không thể ngủ chung một giường và chết không chôn chung một… lỗ.

Sự thể lục đục giữa bà phó Ba và Hồ Quang ra sao chả ai biết. Nhưng cho đến hôm nay, hai bên vẫn không thể xích lại gần nhau, lại cũng không thể lấy gío đá để hàn lại vết nứt, nên người ngoài không thể biết phần lỗi về bên nào. Chỉ tội cho bà Đăng, khi không bị rơi vào giữa hai thế kẹp. Mỗi lần gặp mặt bà phó Ba là một lần, bà Đăng phải ngồi nín thở hàng gìơ để nghe bà phó Ba mở loa tuyên truyền, kể tội Hồ Quang và tay sai của gã. Nghe riết, bà Đăng thuộc nằm lòng từng cử chỉ, từng lời nói của bà phó. Tuy thế, bà phó Ba không có ý đổi đề tài. Hơn thế, bà còn dọa:

– Tôi còn sống ngày nào là tôi còn nhắc đến câu chuyện ấy.

Trong khi đó, bạn bè nối khố của Hồ ở Xuân Thủy, cũng không vừa. Chúng luôn luôn phản tuyên truyền, chống lại cái luận điệu đầy ác ý của bà phó ba. Tuy nhiên, chúng hơn hẳn bà phó. Chúng có tập thể, vừa nói vừa đánh. Kết qủa, làng xóm trắng tay nhưng không một ai dám nói ra nửa nhời.

Phần bà phó, là người thua cuộc, đành đeo cái bản án thành phần vào cổ để mà chờ chết. Từ khi đeo bản án vào cổ, bà phó như đoán biết trước được cái kết qủa không thể thay đổi này. Tuy thế bà không có ý định theo Hồ. Kết qủa, hai bên không thể xích lại gần nhau. Chuyện vãn thêm một lúc nữa, bà phó Ba chống tay đứng dậy:

– Có nhẽ qúa trưa lâu rồi, tôi phải đi về thôi. Chứ ngồi nói chuyện thế này, có nói cả đời cũng không hết chuyện bà ạ.

Được thể, bà Đăng đứng lên theo:

– Bà phó thong thả ngồi chơi đã, về làm gì sớm.

Như không cần để ý đến lời mời của bà Đăng, bà phó Ba tiếp tục bước trên đôi chân mỏi. Ra đến giữa sân, như chợt nhớ ra điều gì quan trọng, bà phó Ba đứng lại, níu lấy cánh tay bà Đăng:

– Cái Hồi nó nhớn qúa rồi nhỉ? Đã có ai cho người đến mai mối dạm hỏi, hay ông bà đã đồng ý cho cháu đám nào chưa vậy?

Bà Đăng cười dễ dãi:

– Chưa bà phó ạ, cháu nó còn nhỏ. Vả lại, chuyện trăm năm của cháu, thày cháu cho cháu được tự do quyết định.

Bà phó làm ra vẻ sành sỏi có nhiều kinh nghiệm, dù bà chả có một người con nào:

– Chớ, ông bà không nên thế. Dẫu gì làm cha mẹ, ông bà cũng nên bảo ban, khuyên nhủ cháu. Không thể để cho chúng tự ý quyết định được. Bà cứ nom gương cái Nụ nhà tôi thì biết. Lấy ai chả lấy, đi lấy ngay cái thằng Bảng không cha không mẹ, để nó kề dao vào cổ bố mình. Lúc này thì dở sống dở chết, đòi ly dị nhiều lần rồi nhưng nhà nước không thuận. Có sống như thế cũng bằng thừa bà ạ.

Ra đến đầu ngõ, bà phó còn đứng lại dặn dò bà Đăng thêm lần nữa:

-Khuyên nhủ cháu bà ạ. Lấy ai thì lấy, đừng bao gìơ đụng đến cái đám đoàn đảng, ủy viên ủy cục hoặc gia đình của chúng. Không được yên thân đâu.

Bà Đăng gật đầu quay vào sau câu chào tiễn chân bà phó. Cùng lúc, trong lòng bà có muôn ngàn ý nghĩ ngổn ngang. Ngổn ngang không hẳn do lời bà phó Ba nhắc chừng, nhưng chính vì bà bị giằng co bởi nhiều phía. Một bên là ý kiến của Hồi xin được ở nhà với cha mẹ. Một bên là cái cảm tình chân thật của Dụng và ông bà Lục…

  • Chương 1

    Sau hơi thuốc lào dãn phổi, Bảng đứng dậy, nhịp nhàng vỗ đôi tay vào nhau:  - Báo cáo làng nước đã hết gìơ nghỉ. Yêu cầu làng nước tranh…

  • Chương 2

    Sau khi khóa cánh cửa ra vào bằng một ống khóa to bản, Bảng kẹp cái mũ cối vào bên hông, bước vội ra đường. Trên đường về, Bảng gặp…

  • Chương 3

    Ra đến đầu ngõ, Bảng thấy một bóng người chạy xầm xập lại trước mặt. Gã quát hỏi: - Ai đó? - Tôi đây! Thưa ông chủ nhiệm. - Anh…

  • Chương 4

    Thời khóa biểu của ông Lục vào những ngày không đưa con Mễ đi cày rất giống nhau. Buổi sáng, sau khi lót dạ một chén cơm nguội, hoặc một…

  • Chương 5

    Chiều đến, ông Lục lững thững dắt trâu về nhà. Trong lúc chân ông bước từng bước chậm chạp trên con đường mòn cũ, lòng ông không quên nhẩm lại…

  • Chương 6

    Sau khi căn dặn Dụng một số điều cần phải làm khi nó sửa soạn dắt trâu ra đồng, ông Lục ra mở cổng, dắt con Mễ ra khỏi chuồng…

  • Chương 7

    Đã từ lâu lắm, hôm nay ông Đăng mới có được một niềm vui nho nhỏ. Niềm vui đó chính là sự đả thông nỗi lòng uẩn ức giữa ông…