Sau 1945, quận Hòn Chông không còn. Nó “xuống” thành một ấp: ấp Hòn Chông, xã Xã Bình Trị, quận Kiên Lương.             Quận Kiên Lương là một quận mới, nằm giữa Rạch Giá (thị xã) và Hà Tiên, một tỉnh cũ thời Pháp thuộc (?).

Xã Bình Trị gồm ấp Rạch Đùng nằm cuối núi Hòn Chông, ấp Hòn Chông ở đầu núi Hòn Chông. Ấp nầy bao gồm luôn cả “Chùa Hang”. Phía biển, ngoài Chùa Hang là “Hòn Phụ Tử”. Ngoài xa nữa là một phần “Quần đảo Hải Tặc”. Như tôi có trình bày với độc giả, “Quần Đảo Hai Tặc” là một “quần thể” nhiều hòn đảo trong vịnh Rạch Giá. Ngoại trừ “đảo” Phú Quốc”, các “đảo” khác không lớn lắm, nên dân chúng gọi là “hòn”. Xa nhứt là “hòn” Thổ Chu. Trước 1975, Thổ Chu đã có người Việt Nam định cư. Các năm 1972, 73… cho tới đầu 1975, người Việt ngoài đó ngày càng đông, nhứt là theo lời khuyến khích của mấy ông linh mục kêu gọi “di dân lập ấp”. Hồi đó, Việt Nam Cộng Hòa còn mạnh, tụi Campuchia không dám làm gì! Sau 1975, miền Nam sụp đổ rồi, Khmer Đỏ tấn công đảo nầy, giết sạch, không chừa một ai dù đàn bà, con nít. Mấy năm sau, khi quân đội Việt Nam Cộng Sản tái chiếm, người ta thấy đảo “đầy sọ người”. Sau đây là một đoạn trích trong “The Brother Enemy” của Nayan Chanda, (do tác giả bài nầy dịch):

Sáu ngày sau, Khmer đỏ đưa quân đổ bộ lên đảo Thổ Chu (Poulo Panjang – tiếng Miên là Krachak Ses) và bắt đi năm trăm người dân Việt Nam cư ngụ trên đảo, những người này về sau không còn nghe tin tức gì cả. Nguyễn Văn Tốt, một quân nhân chế độ Nam Việt Nam cũ, đang ở Rạch Giá lúc cuộc chiến xảy ra, mất hết toàn bộ gia đình tất cả gồm 12 người. Bốn tháng sau, ông ta trở lại Thổ Chu thì căn nhà anh ta đã hư nát, còn trên đảo thì rải rác đầy sọ người. Hai tuần sau khi Khmer Đỏ tấn công, Việt Nam phản kích, giết nhiều lính Khmer Đỏ và bắt giữ khoảng 300 tù binh.”

Gần hơn và khá lớn là hòn Sơn Rái, tên nôm na của dân chúng. Tên chữ là hòn Lại Sơn hay xã Lại Sơn, thuộc quận Kiên Thành, tỉnh Kiên Giang. Trong phạm vi xã Bình Trị có hòn Nghệ, hòn Đầm, hòn Heo, hòn Đội Trương (hòn Ngang). Những hòn nầy có nhà dân cư trú, còn một số hòn khác, nhỏ hơn, không có dân vì không có nước ngọt hoặc chỉ có một ít nước ngọt từ trên núi chảy xuống trong mùa mưa mà thôi. Dân chúng hầu hết làm nghề “hạ bạc” (1)

Ở các hòn trong “Quần đảo hải tặc” không có Việt Cộng. Dân chúng không theo, không ủng hộ, không chứa chấp Việt Cộng. Việt Cộng không có “hạ tầng cơ sở” nên “chỉ có nước chết” mà thôi. Nhưng chính quyền “rất mệt” vì tình trạng đào binh, trốn quân dịch.

Hòn Nghệ là tệ nhứt, “thiên đường” của đào binh, trốn quân dịch. Hễ lính Chi Khu và Cảnh Sát hành quân, vừa ra tới nơi là Hải Quân đã “hụ còi”. Tụi nó chạy lên núi trốn hết, chẳng bắt được thằng nào!

-“Tại sao Hải Quân hụ còi?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Ăn nhậu! Còn tụi nó ở đó, khi nào tàu Hải Quân ghé tới, tụi nó ăn nhậu với nhau. Nhiều khi tàu Hải Quân còn chặn lại hỏi giấy tờ, làm kế hoãn binh.”

-“Tại sao họ chặn tàu mình được!”

-“Được chớ. Mình không có tàu riêng, phải thuê ghe đánh cá. Ghe đánh cá thì tụi nó có quyền chặn xét, mình phải đưa giấy tờ ra nó mới cho đi. Trên biển thuộc quyền tụi nó.”

Tôi hỏi:

-“Ông Phó biết Tư Sậm không?”

-“Tư Sậm có thằng con trai hiếp dâm con Sáu Lánh?”

-“Chính hiệu. Bây giờ thằng con trai đó tới tuổi lính, cha con nhà nó dọn ra Hòn Nghệ ở, khỏi đi lính, ngày ngày đi đánh cá, chẳng ai đụng tới cái lông chân.”

-“Khỏe nhỉ! Chẳng coi chính quyền ra gì?” Phó Nghiêm nói như than.

-“Chuyện nầy mới đau hơn. Đau cho tui! Thằng Danh Điểm, trung sĩ Cảnh Sát của tui, ở Tín Đạo. Y đào nhiệm, dọn nhà ra Hòn Nghệ ở, cũng khỏe re. Thằng đi lính, thằng ở nhà, khỏi đi, thiệt bất công.”

-“Đời nầy có ngàn vạn cái bất công! Làm được gì “ông” ơi! Thằng ở Saigon, chức to quyền lớn, nhởn nhơ vui chơi trên đó, còn mình ở đây, ngày đêm tìm Việt Cộng, băng rừng, lội rạch, không bất công à?”

Tôi không trả lời!

&

-“Bữa bà thủ tướng ghé Hòn Nghệ đại úy có đi đón không?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Không! “Tôi trả lời.

-“Tôi với ông Quận Long cũng không!” Phó Nghiêm nói.

-“Có lệnh thì đi, không có lệnh thì thôi. Hơi đâu mà “nịnh bà.” Tôi nói.

-“Bả có ghé Chùa Hang, gọi tôi ra!”

-“Tui biết rồi. Vụ khoanh cho Bà một chỗ đất ở Bãi Hòn Trẹm chớ gì! Bãi biển đó đẹp lắm. Chiếc máy bay “AirVietnam” đại úy Vinh bỏ lại đó còn không?” Tôi hỏi.

-“Không! Câu đi mất tiêu rồi.”

            Ghi chú:

Nhà Máy XiMăng HàTiên thuê bao máy bay của “AirVietnam” mỗi tuần ba chuyến thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu để đi lại giữa Saigon và phi trường Bình An – phi trường xã Bình An của nhà máy. Đại úy Vinh – ông ta học lái máy bay một khóa với Tướng Kỳ – thường làm phi công tuyến đường nầy. Một hôm bay qua “Mật Khu Trà Tiên” bị Việt Cộng bắn hỏng máy bay, ông ta gắng “lết” tới Bãi Hòn Trẹm, hạ cánh an toàn. Ai cũng khen ông ta giỏi. Năm 1974, ông lại bị bắn khi bay qua Mộc Hóa. Máy bay cháy từ trên không. Sáu người trên máy bay, không ai sống sót cả.

&

-“Kỳ nầy ông thầy chùa ở Hòn Nghệ trúng mánh. Chỉ làm phiền tui!” Tôi nói.

-“Chuyện Bà Thủ Tướng cúng chùa năm chục ngàn chớ gì?”

-“Ông Phó biết không! Cúng chùa mẹ gì! Thêm tiền cho ông đại đức đánh xì phé với mấy con mẹ cờ bạc ngoài đó mà thôi.”

-“Tôi cũng nghe chuyện ông thầy chùa nầy đánh xì phé với mấy bà ngoài hòn, cả bọn vui chơi, ăn nói tục tằn lắm, không ra tu hành cái gì cả.” Phó Nghiêm nói.

-“Tu hành gì đâu. Trốn quân dịch đó. Hôm tui định bắt thằng chả thì chả có giấy hoản dịch vì lý do tu sĩ. Ngay cả ông thầy chùa tại Rạch Giá, cấp tỉnh đấy, cũng là tu tào lao không, huống chi ông thầy chùa Hòn Nghệ một mình một cõi. Đụng tới là họ la làng “Đàn áp Phật Giáo” đấy.”

-“Ông thầy chùa Rạch Giá có chuyện gì?” Phó Nghiêm lại hỏi.

-“Biện lý dặn tôi là không cho ông ta vô thăm tù. Biện lý nễ tình cho ông ta vô khám thăm tù mấy lần, ông ta chỉ cho tù khai bậy bạ, phản cung, khai cung tùm lum khiến biện lý khó xử.”

-“Hành vi cờ bạc của ông thầy chùa làm gai mắt hai ông thầy giáo nên họ về Sở tố giác ông ta, nhưng Sở Giáo Dục chưa giải quyết được.”

-“Tại sao?”

-“Tại hai ông thầy dạy sơ cấp ngoài Hòn Nghệ không thuộc sở Giáo Dục Kiên Giang. Trường ngoài đó cũng như tiền lương hai ông thầy là do USOM chi trả. Sở Giáo Dục của ông Thường can thiệp thế nào được. Còn như để cho USOM Kiên Giang báo về Saigon thì kẹt cả đám đấy. Báo chí lợi dụng khai thác làm tùm lum. Tui cũng kẹt luôn chớ không sao.”

-“Tôi cũng dính lây. Phiền thiệt. Bên Phật Giáo tổ chức lỏng lẻo quá!”

-“Thiệt bậy! Trường sơ cấp kế bên chùa, thường ngày bọn học trò thấy ông thầy chùa ngồi đánh bài với mấy bà. Hai ông thầy giáo bỏ lơ thế nào được!”

Tôi nói đùa:

-“Ông thầy chùa nầy hằng ngày cầu nguyện “tứ bảo” chớ cờ bạc gì đâu?”

-“Cầu nguyện “tam bảo”. Sao đại úy gọi là “tứ bảo?”

Tôi vẫn cười: “Tam bảo” là Phật, Pháp, Tăng. Đánh bài xì phé, người ta cầu trên mặt được “suốt”. Suốt ngon nhứt là Xì, Già, Đầm, Bồi. Đó là “tứ bảo”. Được “tứ bảo” ông thầy ăn tiền của mấy bả, cầu “tam bảo” ông ta thua “rạc gáo”, ông ta cầu làm gì!” Mai mốt, tui cho đệ tứ rình bắt tại trận, dẫn trình biện lý là xong.”

-“Ông biện lý cũng tha”. Phó Nghiêm nói. “Tỉnh Hội can thiệp, xin tha, biện lý không tha cũng không được. Thời “mạt pháp” rồi “ông” ơi, ông khong “chấn hung” được đâu!”

-“Ngoài Hòn Nghệ xa xôi như thế mà cũng có trường học. Bộ Giáo Dục cũng cẩn thận đấy chớ!” Tôi nói.

-“Bộ Giáo Dục đâu!” Phó Nghiêm giải thích. Viện trợ Mỹ đấy. Xây trường, bàn ghế, vật dụng, lương thầy giáo… USOM chu cấp toàn bộ, dính dáng gì tới Bộ Giáo Dục đâu! Phải nói là chính phủ mình tắc trách, hay không có con mắt nhìn tới những nơi xa xôi, kinh cùng, rạch chẹt như người Mỹ.”

-“Họ có mục đích cả đấy! Tôi có người bạn học cũ, tham gia đoàn “Thanh Niên Chí Nguyện Hoa Kỳ”, hoạt động tận các buôn làng trên Cao Nguyên. Như vậy, người Mỹ họ biết rành rọt các sinh hoạt của dân chúng các vùng xa xôi hơn chính phủ của mình!”

-“Để làm gì?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Người Mỹ đến đây để làm gì? Để làm gì thì chính các đoàn “Thanh Niên Chí Nguyện” là những người đi tiên phong. Về sau, khi chính phủ Mỹ có những chương trình gì đi nữa thì cũng từ những cái “ngụy danh” là “Chí Nguyện” đó mà ra. Tôi lấy ví dụ như cái địa thế chiến lược của núi Hòn Chông nầy. Ở đây, chống kẻ thù, bọn Tây thì thành công, tới chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thì thua “chăm phần chăm”. Tôi bày tỏ.

-“Theo đại úy thì sao? “Ông” nói rõ hơn.

-Thời Tây, sau khi bị bao vây ở núi nầy, ông Nguyễn Trung Trực “chịu không nỗi”, phải rút chạy ra Phú Quồc. Tây chiếm núi Hòn Chông. Để giữ an ninh vùng nầy, không cho nghĩa quân nổi dậy lần nữa, Tây cho làm một con đường rộng chạy vòng quanh núi, từ phía Tây, ấp Hòn Chông, tới phía Đông, ấp Rạch Đùng. Cần di chuyển, nhờ con đường nầy nên tiện lợi lắm. Từ năm 1945 tới giờ, con đường nầy bị bỏ hoang, phe ta không giữ được, Việt Cộng đi lui đi tới tự do. Có phải là ta đã thất bại không? Thời Pháp, họ lập ấp Rạch Đùng ở đầu phía đông, toàn là người theo đạo Thiên Chúa, có nhà thờ, có cha xứ là một ông Tây lãnh đạo, lại dựng thêm một Dòng Tu ở đây, cho đào Kinh 1, dẫn nước ngọt từ Kinh Xáng Hà Tiên về tận ấp Rạch Dùng nầy. Dân chúng có thể làm nghề đánh cá, làm ruộng, làm rẫy, chăn nuôi… Có điều gì bất thường, tín đồ “thưa lên ông cha Tây”. Ông cha Tây báo cho Tây biết. Bọn chúng có “biện pháp” ngay. Nghĩa quân nào mà có thể tái hoạt động ở đây để chống Tây được?

-“Còn đầu núi phía Tây?”

-“Đằng đó là “quận đường”, có quan quận, có lính tráng. Nghĩa quân có dám làm gì không? Sau cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, có nhiều cuộc khởi nghĩa khác nữa ở Miền Tây như cuộc khởi nghĩa của Bảy Thưa, Võ Duy Dương, Ba Thới, Sư Vãi Bán Khoai, Ông Phật Trùm, ông Đạo Nằm… mà vùng Hòn Chông vẫn yên, không ông nào dám “kéo quân” về đây như ông Nguyễn Trung Trực, đó không phải là vì Tây kềm kẹp chặt quá hay sao?”

-“Bây giờ thì đại úy thấy sao? Tại sao thằng trưởng ấp Lâm Hải đem 17 Nhân Dân Tự Vệ theo Việt Cộng?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Tổng thống Thiệu nói “một chính phủ không dám phát súng cho dân thì đó không phải là chính phủ của dân”. Điều đó đúng. Nhưng phát súng rồi, thành lập được một lực lượng người dân tự bảo vệ cho mình được là một chính sách hay, nhưng không có lực lượng yểm trợ cho dân là “đem con bỏ chợ”, là “sống chết mặc bay” như Phạm Duy Tốn nói. Khi Việt Cộng thấy mỗi ấp đều có “Nhân Dân Tự Vệ”, chúng không hoạt động được thì chúng sẽ tìm cách phá. Phá như thế nào? Chúng cho “Du Kích” của nó tấn công “Nhân Dân Tự Vệ”. Thắng thì chúng nó bắt, giết “Nhân Dân Tự Vệ”. Nếu thua, chúng sẽ “điều” Huyện Đội, có khi Tỉnh Đội về tấn công Nhân Dân Tự Vệ. Vì vậy, phe ta luôn luôn phải có lực lượng tiếp viện khi Nhân Dân Tự Vệ bị tấn công, đừng để họ một mình tự chiến đấu lấy. Khi một cái đồn của Đia Phuơng Quân, hoặc của Nghĩa Quân bị Việt Cộng chiếm, cấp chỉ huy phải báo cáo, chịu trách nhiệm. Cấp trên phải quan tâm. Còn như khi một đơn vi Nhân Dân Tự Vệ bị đánh bại, người ta coi thường, thậm chí người ta không coi đó là một lực lượng chống Cộng, không ai chịu trách nhiệm, không ai quan tâm, đặt thành vấn đề, thậm chí cũng không thiết đến số vũ khí bị lấy mất. Đó là những súng cũ, thời Đệ Nhị Thế Chiến, lỗi thời Garant-M1, Carbine M-1, Shotgun…Bộ Đội Việt Cộng thì dùng AK, Việt Nam Cộng Hòa thì AR-16, trong khi, theo tôi nghĩ, Nhân Dân Tự Vệ là lực lượng quan trọng nhứt, giữ ấp, giữ làng, giữ hạ tầng cơ sở nông thôn miền Nam, chính quyền ít quan tâm tới. Tôi gặp một lần rồi đó!”

-“Vụ gì?”

-“Vụ Phó Ấp An Ninh Cần Thăng, xã Dương Hòa. Bí thư xã nầy là Hai Ngộ – Nguyễn Văn Ngộ -. Hồi trước nó là Trung Đội Trưởng Nghĩa Quân phe ta, bị quận Nô đòi tiền đòi bạc gì đó, đòi bỏ tù nó. Nó trốn vô bưng. Bây giờ là bí thư kiêm Xã Đội Trưởng, thay cho Dương Nganh tự Xarum, người Miên, không được bọn chúng tin tưởng. Tên Ngộ hoạt động dữ lắm. Mới rồi cầu Ba Hòn sập là vì nó. Nó không sợ lính Chi Khu, cũng không sợ Tiểu Đoàn Thần Hổ 530 bảo vệ nhà máy. Nó chỉ sợ Danh Chịa, Trung Đội Trưởng lưu động của Chi Khu, sợ Trung Sĩ Thân, Trung Đội Trưởng Thám Báo Chi Khu với Nhân Dân Tự Vệ ấp Cần Thăng.”

-“Sao vậy?”

-“Dễ hiểu lắm! Những người “đi làm đồng” (tức đi làm ruộng, bắt cá, đốn tràm, v.v…) thường bị Hai Ngộ chận hỏi về Danh Chịa, về Thám Báo Chi Khu. Từng phục vụ “phe Quốc Gia”, nó hiểu cách tổ chức, hoạt động phe ta. Hai Ngộ không sợ những đơn vị đóng đồn. Tối lại, lính chui vô đồn. Nó ở trong rừng mò ra, làm sao đụng độ nhau. Còn như Trung Đội của Danh Chịa, Thám Báo Chi Khu là những đơn vị lưu động, Hai Ngộ khó tránh. Danh Chịa, Trung Sĩ Thân lại là những tay đánh giặc giỏi, từng bắn Hai Ngộ bị thương ở chân, khiến nó đi cà-vệt. Nhìn dấu chân bọn nó trên mặt bùn, phe ta biết có Hai Ngộ hay không! Nó không sợ sao được. Còn như Nhân Dân Tự Vệ ấp Cần Thăng ban đêm canh gác hoặc phục kích chung quanh trụ sở xã, chung quanh cầu Ba Hòn, Hai Ngộ mò về, cũng dễ đụng nhau lắm.”

-“Nhờ đâu dại úy biết những điều nầy?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Họp Phụng Hoàng hằng tuần chỉ là hình thức, đông thành phần, lộ tin tức. Gặp riêng nhau giữa tui, thiếu úy Kiệt, Năm Hùng, Bảy Hùng, những tay nầy là “thổ công” địa phương, bọn họ rành lắm, Danh Chịa, Trung Sĩ Thân. Chừng nầy người là nắm được tình hình toàn khu vực.”

-“Còn vụ Phó ấp Cần Thăng thì sao?”

-“Cái nầy là thất bại của tui!” Tôi cười, nói tiếp: “Ê chề, cay đắng!”  Hai Ngộ móc nối thế nào đó, đe dọa thằng Phó ấp, hẹn giờ, tối hôm đó, Phó ấp gom súng “kiểm tra”. Sau khi súng gom xong thì bọn Hai Ngộ tới, lấy hết súng, đem đi, không một tiếng súng, không ai bị giết, không ai bị thương, không ai bị đánh đập. Hôm sau, Phó ấp bị bắt. Hiện đang khai thác, tìm cho ra đường giây của Hai Ngộ ở xã nầy. Chắc rồi cũng phải “vớt” vài mạng đem ra Ban An Ninh.

-“Còn vụ Lâm Hải?”

-“Thằng Phó ấp Cần Thăng nầy, theo Việt Cộng mà không vô thẳng trong bưng, ở lại đây nên mới bị Quốc Gia hành tội. Giả tỉ nó làm như thằng Lâm Hải, vô tuốt trong núi Hòn Chông, Quốc Gia gãi đít nó chớ làm gì. Lớ ngớ bữa nay tui với ông đi Rạch Đùng mà thằng Lâm Hải bắt được mình thì nó sợ mình hay mình sợ nó? Mình mà bắt được nó, mình gài cho trăm thứ tội: Theo Việt Cộng, phản bội Quốc Gia, đem súng cho Việt Cộng… Đủ thứ tội. Vô tay tui là “một cái tóc, một cái tội”. Còn mình không có tội gì với nó hết, với “đương sự” hết! Phải không?”

-“Theo “ông” thì mình tội gì?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Đem con bỏ chợ” mà không có tội sao? “Sống chết mặc bay” mà không có tội sao? Tôi nhớ năm tôi học lớp Nhì – lớp bốn bây giờ – thầy dạy tôi là ông Trợ Khởi. Ông dạy bài tập đọc “Sống chết mặc bay” của nhà văn Phạm Duy Tốn – Phạm Duy Tốn là bố ông nhạc sĩ Phạm Duy đấy. Bài tập đọc kể dân các làng cầm cuốc, xẻng… đi “hộ đê”. Trời mưa to, nước sông Hồng lên cao, đê sắp vỡ, ai nấy lo lắng, trình quan huyện thì quan huyện đang bận đánh tổ tôm, “Sống chết mặc bây”, quan huyện không quan tâm. Vậy là quan huyện đã vô trách nhiệm mà còn ác nữa. Bây giờ, mình đây nầy, Quốc Gia đây nầy, có khác chi quan huyện không? Nếu Quốc Gia không phát súng cho dân, ban ngày Quốc Gia đi lùng, ban đêm Việt Cộng về tuyên truyền, khủng bố, người dân có thể yên thân được. Nay phát cho họ cây súng, tức là buộc dân chúng đứng về phía Quốc Gia. Việt Cộng về, một là họ nổ súng chống lại, hai là họ giấu súng rồi chạy trốn Việt Cộng.  Không chạy trốn, Việt Cộng hỏi “Súng đâu?” Đưa súng cho nó cũng chết; không đưa súng cho nó cũng chết. Vậy mà rồi Quốc Gia không làm gì cả, mỗi khi Nhân Dân Tự Vệ nổ súng chống lại Việt Cộng. Giao súng cho dân mà không bảo vệ họ, có phải là mình vừa vô trách nhiệm, vừa bất nhân không?”

-“Theo đại úy nghĩ thì mình phải làm sao?”

-“Giữ làng, giữ ấp là việc chung, phải cùng nhau chống Việt Cộng. Lính, Cảnh Sát, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn…  không thể buổi tối chui vô đồn, chui vô trụ sở ngủ rồi để Nhân Dân Tự Vệ một mình giữ ấp. Phải phối hợp: Tất cả bọn họ: Nhân Dân Tự Vệ, Nghĩa Quân, Xây Dựng Nông Thôn, họp chung thành một lực lượng giữ ấp. Nhân Dân Tự Vệ thấy “ấm” hơn, bớt “lạnh lưng” hơn, quyết tâm hơn. Giữ được ấp, Việt Cộng không xây dựng “Hạ Tầng Cơ Sở” được, thì làm sao phát triển thành “Du kích”.

-“Khó lắm!” Phó Nghiêm than!

-“Làm được thì may ra giữ được miền Nam, còn không thì bọn Cộng Sản trong Nam xây dựng được căn cứ, rồi rước bọn ngoai kia vô xâm lăng miền Nam, giống như “Bến Tre Đồng Khởi” vậy. Miền Nam không “Đồng Khởi”, tụi ngoài Bắc không vô trong nầy được.”

Tôi nghe tiếng ông Phó Nghiêm thở dài. Một lúc, Phó Nghiêm góp ý:

-“Tôi thấy ban đầu, Xây Dựng Nông Thôn làm được lắm chớ. “Cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với nhân dân: Lợp nhà giúp dân, làm chuồng heo, làm nhà bếp, cuốc đất rồng bắp, trồng khoai… cho dân. Việt Cộng không “bám trụ” được. Giết một Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn”, bằng giết mười người lính. Tôi nghe người dân nói thế đấy.”

-“Nhưng mà tụi Mỹ nó không muốn thế. Gây ra chiến tranh Đông Dương là để “Tập Đoàn Buôn Bán Vũ Khí Chiến Tranh” bán súng, bán đạn, bán xe tăng, thiết giáp, bán xăng… chớ đâu phải để bán “tôn”, “ximăng”, bán bột bắp, bán khoai tây, bán sữa…”

-“Thành ra người dân Việt Nam lảnh nhiều súng đạn nhiều hơn lãnh đồ “Mỹ Quốc Viện Trợ Caritas”! Ông Nghiêm mai mỉa.

-“Tui đọc hai bài báo, nói về hai nơi, kết hợp lại, tui thấy giựt mình.” Tôi nói.

-“Tin gì?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Tin thứ nhứt: Bắc Việt là nơi “kín nhứt thế giới”. Chuyện gì xảy ra ở ngoài Bắc, khó có ai biết được.”

-“Còn tin thứ hai?”

-“Bên Châu Phi, tận các nước lạc hậu bên Châu Phi: Chiến tranh liên miên, tàn phá nhà cửa, mùa màng, gây nên nạn đói, chết chóc… thất học…”

-“Hai xứ nầy xa nhau tít mù! Dính dáng gì nhau?”

-“Có chứ. Bọn trẻ lớn lên, cha mẹ không có, học hành cũng không, tôn giáo cũng không, sống lê la, dói ăn. Bọn “quân phiệt” tới, cho ăn, cho mặc, giao cho cây súng, biểu tha ai, chúng nó tha, biểu giết ai, chúng nó giết. Biểu tàn sát một làng, một xứ, bọn trẻ bấm cò không gớm tay.”

-“Đại úy nghĩ ngoài Bắc không khác?”

-“Trước khi nhập ngũ, tui có người bạn thân thuộc đảng Đại Việt, làm ở “Trung Tâm Chiêu Hồi Thừa Thiên/ Huế”. Anh ta nói có một Cán binh Cọng Sản, quê ở Nam Định, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ngoài đó, hỏi tôi có muốn gặp tay nầy nói chuyện chơi không? Tui hoan nghênh. Nhà tui làm cơm chiều, mời cả hai người đến chơi. Qua anh “Hồi Chánh Viên” nầy tôi biết được nhiều điều hay.”

-“Ông” kể nghe đi!” Phó Nghiêm đề nghị.

-“Ngoài đó học hệ 10 năm, không hệ 12 năm như trong miền Nam. Chương trình toán, vật lý, vạn vật… tức các môn khoa học thì giản lược, giảm bớt cho vừa hệ 10 năm nên học trò dốt hơn. Về lịch sử, không dám nói đến việc Tàu xâm lược, chỉ gọi là “Bọn phong kiến phương Bắc”, không dám gọi dân Tàu, nước Tàu mà kính cẩn gọi là Trung Quốc. Không gọi chủ nghĩa Mác Lê và Mao, chỉ gọi “chủ nghĩa Mác Lê-Nin và tư tưởng Mao”, không để Mao ngang hàng với Mác-Lê được. Học chính trị là chính, rất quan trọng, các môn khác đều la phụ. Đám “tập kết” còn trẻ cho vô trường, ưu tiên du học. Đám già học một năm ba lớp, rồi cho vô trường “Đại Học Nhân Dân” đào tạo nhanh để khi “thống nhứt” thì về miền Nam làm lãnh đạo. Người Miền Nam, dù có giỏi như thế nào cũng chỉ cho làm phó mà thôi. Phương pháp giáo dục thì nhồi sọ, đầu độc, chính yếu là “giáo dục thù hận”: thù hận giai cấp, giàu nghèo, quyền lợi, vô sản/ tư sản, thậm chí ghen ghét và thù hận hạnh phúc của người khác, ngoại trừ cán bộ đảng viên. Học “5 điều bác Hồ dạy”, trung thành với đảng, với chủ nghĩa Mác, dạy sự cuồng tín vào chủ nghĩa, vào đảng, v.v… Phương cách giáo dục như thế khác chi bọn trẻ châu Phi không được học, không đến trường, chỉ biết vâng lệnh cấp trên mà bóp cò, chỉ có lòng thù hận, không có lòng thương người, không có nhân đạo, v.v…

-“Ông” nói buồn cười! Có sự cuồng tín nào mà không tàn ác, mà có lòng nhân đạo, có từ bi, bác ái. “Ông” thử nhớ lại những cuộc tàn sát thời “Thập Tự Chinh” mà coi. “Cuồng tín tôn giáo”, người thì nhân danh ông Mohamad, người thì nhân danh Chúa Giê-Su, giết nhau còn tệ hơn giết loài súc vật, giết con gà, con chó… Thù hận, lòng thù hận làm cho người ta mờ mắt.”

-“Tui hoàn toàn đồng ý với ông Phó. Ông nghĩ lại coi, giữa cái xã hội không có giáo dục của Châu Phi với cái xã hội giáo dục mù quáng như Bắc Việt Nam đâu có khác gì nhau.”

-“Cụ thể là như thế nầy: Một thằng bé lớn lên ở châu Phi không có ăn, không có mặc. Nay theo một tên “Warlord” nào đó, một tay “quân phiệt”, sẽ được ăn no, ăn ngon, có áo quần mặc, có giày dép để mang, có quyền lực – là cây súng nó được phát đấy – thì cấp trên biểu gì, nó làm nấy, dĩ nhiên. Nếu so với một thanh niên lớn lên ở ngoài Bắc: Nó có ăn không? Nó có được ăn no không? Nó có dủ áo quần mặc không? Nó có được đi học không? Ở trường nó học cái gì? Có học thù hận không? Khi nó đi “nghĩa vụ”, nó sẽ được gì về cái ăn, cái mặc, đôi dép cao su, cái mũ cối để đội, cái “lon” để đeo… Nó không theo đảng, không trung thành với đảng có được không? Con người ta. quyền lợi là chính, huống chi đây là “quyền lợi sinh tử”. Cứ thế mà so sánh, suy nghĩ, người ta ai cũng thấy, đợi chi tới “ông” với tui.”

(còn tiếp/ Phần 3)

cuối tháng 5/ 2020

hoànglonghải

(1)-Nghề đánh cá biển – tiếng địa phương