Kinh Kha, Dũng sĩ & Nghệ sĩ?!

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” [Không Quảng Cáo] – b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)

1)-Chuyện cũ

            Tần Trang Tương Vương (Tức Tử Sở) lên ngôi được 3 năm thì bị bệnh qua đời, thái tử lúc đó mới có 13 tuổi, nối ngôi, tức Tần Vương Chính. Quyền bính nằm trong tay Lã Bất Vi, xưng là “Thần Phụ”.

            Năm Tần Vương Chính 22 tuổi, muốn tự mình chấp chính, phát hiện Lã Bất Vi lộng quyền và hoành hành ngang ngược trong triều. Vừa lúc đó trong cung xảy ra nội loạn, kẻ cầm đầu lại có quan hệ thân thiết với Lã Bất Vi.

            Tần Vương Chính bèn nhân việc này bải chức tướng quốc của Lã Bất Vi, phát vãng sang Ba Thục. Trên đường đi Lã Bất Vi bị bức tử. Trừ được Lã Bất Vi, Tần Vương Chính muốn thống nhất Trung Nguyên, ít lâu sau khởi binh diệt các nước Hàn, Triệu. v. v… và chiếm mấy thành trì của nước Yên.

            Thái tử Đan nước Yên nguyên làm con tin tại nước Tần, khi thấy nước Tần quyết ý thôn tính các nước, chiếm đoạt đất đai của nước Yên, bèn trốn về nước, rồi thu nạp dũng sĩ, hiệp khách trong thiên hạ để diệt vua Tần, ngăn chặn công việc thống nhất Trung Nguyên của Tần Vương Chính.

            Nhờ người tiến cử, thái tử Đan gặp Kinh Kha, một dũng sĩ. Thấy người này khí phách hiên ngang, cử chỉ phi phàm, thái tử Đan vô cùng mừng rỡ, bái làm thượng khanh, cho ở quán trọ, ngày ngày thịnh tình khoản đãi.

            Ít lâu sau, đại tướng Vương Tiễn nước Tần dẫn quân lên miền bắc xâm phạm nước Yên, thái tử Đan bèn cho mời Kinh Kha đến bàn rằng: “Nếu ta đem binh ra đánh quân Tần, chẳng khác nào đem trứng chọi với đá. Nay các nước chư hầu đều khoanh tay đứng nhìn, việc liên hợp đánh Tần hóa thành mây khói. Nay chỉ còn cách cử dũng sĩ giả làm sứ thần đến gặp vua Tần, bức vua Tần hoàn trả đất đai của chư hầu, bằng không thì giết quác đi. Vậy ý ông thế nào?”

            Kinh Kha nói: “Kế ấy hay lắm; nhưng muốn đến gần vua Tần, thì trước tiên phải để hắn tin, chúng ta đến để dâng lễ và cầu hòa. Tôi nghe nói vua Tần muốn lấy đất Đốc Cáng, nơi phì nhiêu nhất của nước Yên. Ngoài ra, tướng quân Phàn Ư Kỳ nước Tần đang lưu vong ở nước Yên, vua Tần đang treo thưởng truy nã. Nay chỉ cần tôi đem theo bản đồ đất Đốc Cáng và đầu lâu Phàn tướng quân, vua Tần nhất định tiếp tôi. Tôi sẽ tìm cách trừ khử hắn.”

            Thái tử Đan tỏ vẻ khó xử nói: “Bản đồ đất Đốc Cáng thì dễ, còn Phàn tướng quân vì cùng đường mới đến nương nhờ tôi. Nay tôi nỡ lòng nào hại ông ta”.

            Kinh Kha biết thái tử Đan không nhẫn tâm, bèn tự mình gặp Phàn Ư Kỳ, nói rằng: “Vua Tần ngược đãi tướng quân, không những giết hết người nhà ông, mà còn treo thưởng để bắt ông. Chẳng lẽ tướng quân không muốn báo thù hay sao?”

            Phàn Ư Kỳ nghe xong nghiến răng, những muốn ăn sống nuốt tươi vua Tần, nhưng ngặt nỗi một mình một thân thì biết báo thù sao?

            Kinh Kha đoán được ý Phàn Ư Kỳ liền nói rằng: “Nay tôi quyết định sang Tần giết Tần Vương Chính; chỉ lo không đến được gần hắn. Nay vua Tần đang ra lệnh bắt tướng quân, nếu tôi đem đầu tướng quân sang đó thì vua Tần tất tiếp tôi, rồi tôi sẽ thừa cơ giết hắn”.

            Phàn Ư Kỳ hiểu được ý của Kinh Kha, vui vẻ nói: “Chỉ cần giết vua Tần, trừ hại cho nước Yên, rửa hận cho tôi, thì tôi có tiếc gì”.

            Nói xong, Phàn Ư Kỳ bèn rút gươm tự sát. Thái tử Đan được tin này, vội đến phủ phục bên xác Phàn Ư Kỳ than khóc, ra lệnh hậu táng cho Phàn.

            Sau đó, thái tử Đan đưa cho Kinh Kha một con dao rất bén, rồi cử dũng sĩ Tần Vũ Dương làm trợ thủ cho Kinh Kha cùng sang Tần.

&

            Mùa thu năm 227 trước công nguyên, thái tử Đan bày tiệc tiễn Kinh Kha ở bờ sông Dịch Thủy. Ba ngàn người cùng mặc áo tang đến dự!

            Kinh Kha đến Hàm Dương. Tần Vương Chính nghe báo sứ thần nước Yến đem bản đồ đất Đốc Cáng và đầu lâu của Phàn Ư Kỳ đến dâng thì vô cùng mừng rỡ, bèn ra lệnh tiếp kiến sứ thần trong cung Hàm Dương.

            Kinh Kha tay bưng hộp gỗ đựng đầu Phàn Ư Kỳ, còn Tần Vũ Dương tay nâng bản đồ, kẻ trước người sau tiến vào cung.

            Tần Vũ Dương thấy cung Tần uy nghiêm thì mặt mày tái mét, người run lên bần bật, đám thị vệ thấy vậy liền quát hỏi tại sao, thì Kinh Kha vội cười, đáp rằng: “Nó là kẻ quê mùa thấp hèn, chưa bao giờ được nhìn thấy sự uy nghiêm của đại vương, mong đại vương thứ tội”.

            Vua Tần hoài nghi, bèn ra lệnh chỉ một mình Kinh Kha đem hộp gỗ và bản đồ lên. Nhà vua xem qua đầu Phàn Ư Kỳ rồi bỏ sang một bên, đoạn bảo Kinh Kha dâng bản đồ lên. Kinh Kha từ từ mở tấm bản đồ ra. Vua Tần mừng rỡ! Nhưng khi mở tới phần cuối bản đồ, thì một luồng sáng lạnh lóe lên, nhà vua giật mình. Nhanh như cắt, Kinh Kha tay trái túm vạt áo vua Tần, tay phải rút dao đâm sang. Vua Tần vùng vẫy giật đứt tay áo, rồi chạy núp sau tấm bình phong. Kinh Kha đuổi theo. Nhà vua chạy quanh cột trụ bằng đồng. Kinh Kha vẫn bám theo. Hai người cứ chạy vòng quanh chiếc cột. Các quan văn võ tay không tấc sắt, mà đám thị vệ lại không được phép lên điện, đều rối cả lên.

            Trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, ngự y Hạ Vô Thả liền ném túi đựng thuốc về phía Kinh Kha. Kinh Kha né tránh, thì vua Tần nhân lúc này rút được thanh bảo kiếm ra, chém một nhát vào chân trái Kinh Kha. Kinh Kha ngã khuỵu xuống đất liền ném con dao về phía vua Tần. Vua Tần tránh được. Con dao bay trúng vào trụ đồng, tóe lửa ra. Vua Tần quay lại đâm Kinh Kha 8 nhát, rồi ra lệnh võ sĩ lên điện kết liễu tính mạng Kinh Kha. Tần Vũ Dương trước đó đã bị đám võ sĩ chém chết rồi.

2)-Ngoại truyện:

            a-/Hai bàn tay người đẹp:

            Kinh Kha khi ở nước Yên, y được thái tử Đan biệt đãi, đại yến tiểu yến mỗi ngày. Hai người thù tạc với nhau, thật là “tri kỷ”:

                              Đời người bất quá vị tri kỷ,

                              Sống, chết, nên, chăng, ai sá chi!

                              Túi áo xênh xang ba tấc kiếm,

                              Bụi hồng rong ruổi đôi bánh xe.

                              Ngoảnh lại thành Yên đầy uất khí,

                              Thấu lòng hoạ chỉ người tương tri

                                    (Tráng Sĩ Hành – Á Nam Trần Tuấn Khải)

            Có lần, Kinh Kha khen hai bàn tay đẹp của một người hầu nữ, lát sau, Kinh Kha nhận được một cái hộp, có hai bàn tay của người đẹp trong ấy. Vì vậy, trong bài thơ “Hành Phương Nam”, Nguyễn Bính viết:

                        “Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén

                        Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?

                        Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự

                        Giày cỏ gươm cùn ta đi đây!

            Giữa chợ là “chợ đời” đấy!

            Dâng vàng, biếu tay ý nói quà tặng thái tử Đan dành cho Kinh Kha, trong đó có cả đôi bàn tay người đẹp. Trong vở kịch thơ “Tâm sự kẻ sang Tần” của Vũ Hoàg Chương, có đoạn thái tử Đan tặng đôi bàn tay người đẹp cho Kinh Kha. Tiếc rằng tôi không kiếm được tập kịch thơ nầy để trích lại quí độc giả đọc cho biết!

b-/ Nghệ sĩ:

            Kinh Kha không chỉ là Dũng sĩ. Đúng hơn, ông là một Nghệ sĩ!

            Kinh Kha quê ở nước Vệ, một tay lãng tử giang hồ, qua nước Yên, kết bạn với Cao Tiệm Ly. Cao Tiêm Ly cũng là một nghệ sĩ không thua gì Kinh Kha, có tài chơi đàn trúc thật hay, – (theo Wiki!) Trong vở kịch “Tâm sự kẻ sang Tần” và một vài hình ảnh đã từng thấy, Cao Tiệm Ly không đánh đàn trúc, mà ông thổi sáo. Xem vở kịch thơ nói trên của Vũ Hoàng Chương, tôi thấy người đóng vai Cao Tiệm Ly thổi sáo bên bờ sông Dịch Thủy, khi tiễn Kinh Kha qua sông, không phải “lên xe” như  truyện kể. Dĩ nhiên, đánh đàn trúc hay thổi sáo, cái tài của Cao Tiệm Ly bao giờ cũng nổi bật.

            Ở nước Yên, có ba người kết bạn với nhau rất thân: Kinh Kha thì làm thơ, Cao Tiệm Ly chơi đàn và một người nữa, không thấy nói tên, bán thịt chó.Mỗi khi họp mặt, họ mở “chương trình thơ nhạc”: Cao Tiệm Ly chơi đàn, Kinh Kha ngâm thơ rồi nhậu thịt chó đến khi say ngất thì thôi.

            Có thể coi như họ là ba người thất chí, tương tự như trong “Hành Phương Nam” của Nguyễn Bính hay “Hồ Trường” của Nguyễn Bá Trác vậy:

                        “Người giam chí lớn vòng cơm áo

                        Ta trí thân vào nợ nước mây

                        Ai biết thương nhau từ buổi trước

                        Bây giờ gặp nhau trong phút giây

 

                        “Nợ thế chưa trả tròn một món

                        Sòng đời thua đến trắng hai tay

                        Quê nhà xa lắc, xa lơ đó

                        Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay…”

 

                        Ta đi nhưng biết về đâu chứ?

                        Đã đẩy phong yên lộng bốn trời

                        Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ

                        Uống say mà gọi thế nhân ơi!

 

                        Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

                        Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

                        Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,

                        Hát rằng phương Nam ta với ngươi.

Ghi thêm:                   

                        Ai biết thương nhau từ buổi trước

                        Bây giờ gặp nhau trong phút giây!

                                                            (Hành Phương Nam / Nguyễn Bính)

            (Trúc Hồ gặp Việt Khang phải như hai câu thơ nầy của Nguyễn Bínmới thật là “tri kỷ” đấy!)

                        Trời nam nghìn dặm thẳm
Non nước một mầu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
Trăm năm thân thế bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát
Nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường

                                                (Hồ trường / Nguyễn Bá Trạc)

            Những người như “tam hùng Yên Quốc” (Kinh Kha, Cao Tiệm Ly và anh chàng bán thịt chó), hay Phạm Thái – của Trương Quỳnh Như – Nguyễn Bá Trạc, Nguyễn Bính, hay Việt Khang là kẻ “nghệ sĩ anh hùng” thất thế cả. Nếu không làm thích khách để bị giết trong cung điện nhà Tần, không bị Cộng Sản giết như Nguyễn Bá Trạc hay tù tội như Việt Khang thì đời đâu có coi họ ra gì!

            Cũng may, dù tai họa như thế nào, họ cũng gặp được tri kỷ trên đường đời.

& 

            Trước khi qua sông Dịch, Kinh Kha đọc mấy câu thơ của ông:

                        “Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn

                        Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn”,

            nghĩa là “Gió hiu hắt thổi, sông Dịch lạnh / Tráng sĩ một đi, không trở về”.

                        “Gió đìu hiu sông dịch lạnh lùng ghê!

                        Tráng sĩ một đi, không trở về!”

Tôi không nhớ tên người dịch!

            Trong cuộc đưa tiễn ấy, Kinh Kha ngâm thơ thì Cao Tiệm Ly thổi sáo!

            Cao Tiệm Ly người nước Yên, là bạn thân của Kinh Kha, những kẻ cùng thất chí ở đời. Sau khi Kinh Kha bị giết, Tần Thủy Hoàng truy nã những ai là bạn của ông ta. Cao Tiệm Ly phải đổi tên, đi trốn.

            Cao tiệm Ly làm công trong tửu quán “Phi Tuyết các”.

            Lại vì ngón nghề, Cao tiệm Ly lại nổi tiếng. Người đời lại biết ông nên ông bị vua Tần bắt. Vì cảm mến tài nghệ của Cao Tiệm Ly, Tần Thủy Hoàng cho móc hai mắt của ông, tha tội chết.

            Không chỉ nhà vua mà cả em gái cua vua, công chúa Lịch Dương cũng mê tài nghệ Cao Tiệm Ly. Hai người sống với nhau như vợ chồng.

            Để trả thù cho bạn, Cao Tiệm Ly đổ chì vào cây đàn để lựa dịp lấy đàn đánh vỡ đầu nhà vua. Bởi vì mù, ông đánh trật. Vua không chết, nhưng lần nầy, vua Tần cho Cao Tiệm Ly về chín suối dể gặp bạn cũ: Kinh Kha.

c-/Thần tượng: Chớ đem thành bại mà luận anh hùng!

            Mặc dù Kinh Kha là một dũng sĩ, nghệ sĩ “thất bại” vì không giết đưọc Tần Thủy Hoàng, nhưng người đời không phê phán ông. “Chớ đem thành bại mà luận anh hùng.” Người đời bàn như thế. Nhưng cái dũng của Kinh Kha ít có ở đời. Bên Tầu cũng như bên ta, người đời thường ca ngợi. Kinh Kha trở thành một biểu tượng, một thần tượng của giới thanh niên (tiểu tư sản). Thần tượng đó biến thành Dũng trong “Đôi Bạn” của Nhất Linh, Khang trong “Trường Đời” của Lê Văn Trương, và chính Trần Huy Liệu cũng “xạo” ra một Lê Văn Tám của Nam Bộ Kháng Chiến.

            Người có cái “Dũng” hiểu rất rõ cái “dũng” ấy. Đó là cái “ý thức” của người có học, của sĩ phu, của tiểu tư sản, tư sản. Những người “lấy thân mình lấp lỗ châu mai” như Phan Đình Giót, Cù Chính Lan không có cái dũng ấy, bởi vì hành động của họ là hành động của kẻ cuòng tín, kẻ bị tuyên truyền.

&

            Năm 1959, Vũ Hoàng Chương được giải “Văn Học Nghệ Thuật” của Việt Nam Cộng Hòa, hai năm sau, trong “Phong trào văn học chống Cộng” ở miền Nam, ông Vũ soạn vở kịch thơ “Tâm sự kẻ sang Tần”. Báo chí thời kỳ ấy bàn rằng ông Vũ muốn ám chỉ chế độ Cọng Sản Bắc Việt chuyên chế, đốt sách chôn học trò như chế độ của Tần Thủy Hoàng. Có ai ra Bắc để làm Kinh Kha?

Tiễn biệt!

            Ở phần phụ lục, độc giả có thể đọc thêm vài tác phẩm viết về Kinh Kha.

            Tôi không khuyến khích ai làm Kinh Kha, bởi vì đời bây giờ, làm thích khách như Kinh Kha, có thể bị ghép vào tội “khủng bố”, nhưng nếu như có ai can đảm về nước lên tiếng chống Cộng như những nhà hoạt động nhân quyền thì không những tôi mà đồng bào trong nước, ngoài nước đều hoan hô. Hành động như thế là tiếp nối cái “dũng khí” và “nghệ sĩ tính” của Kinh Kha vậy!

            Ở hải ngoại, chưởi cho thật to, cũng chỉ chúng ta nghe với nhau. Đồng bào trong nước không nghe được mà Việt Cộng chúng nó có “lắng tai” nghe hay không nhỉ?

hoànglonghải

Phụ lục

Tráng Sĩ Hành

Trần Tuấn Khải

                                    “Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi, không bao giờ về!”
Tay nâng chén rượu giã người cũ,
Miệng đọc câu ca chân bước đi.
Dao tình mài liếc với thanh khí.
Chí hùng tung bốc đầy sơn khê.
Nghe tiếng đờn trúc gõ réo rắt,
Mặc cho kể hết niềm phân ly.

Niềm phân ly!
Đã bước chân ra khôn hẹn kỳ,
Đời người bất quá vị tri kỷ,
Sống, chết, nên, chăng, ai sá chi!
Túi áo xênh xang ba tấc kiếm,
Bụi hồng rong ruổi đôi bánh xe.
Ngoảnh lại thành Yên đầy uất khí,
Thấu lòng hoạ chỉ người tương tri

Người tương tri,
Lá gan bầu mật, cùng nhau thế:
Thề đem tấm thân tới hang hổ,
Giết con cọp dữ rừng man di,
Đời nếu chôn lấp hết công lý,
Anh hùng hào kiệt còn ra gì!
Phá núi Thái Sơn, lấp Đông Hải;
Ấy là phận sự đàn nam nhi.

Đàn nam nhi,
Chuyển đất xoay giời thường có khi.
Khuyên ai chớ học bọn khăn yếm:
Xa nhau một bước lệ đầm đìa.
Liếc mắt khắc trông vũ trụ đó.
Đâu không là cảnh ta say mê!
Chếch choáng hơi men bốc chính khí,
Ngâm câu khẳng khái mình ta nghe…

“Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không bao giờ trở về!”

Hai khổ đầu bài thơ tác giả viết vào năm 1926, tác giả viết tiếp và hoàn thành bài này vào năm 1933.

_____________________________________________________

Bài Ca Sông Dịch

Tác giả: Vũ Hoàng Chương

Đời lắng nghe đây trầm tư hồn bể dâu
Bàng bạc trường giang lạnh khói
Đìu hiu điệp khúc ly sầu
Đã mấy thời gian nằm u hoài sông Dịch
Tiễn kẻ một đi người kiếm khách Đông Châu
Ôi sông ngát dư linh! trải bao đời có biết
Hào khí ai xưa giờ vang bóng nơi đâu
Phải chăng ngươi! phải chăng kìa dấu vết
Tình anh rờ rỡ ngàn sau
Nước trôi đây nước trôi bờ cõi Việt
Âm u gợn tiếng ghê màu
Ai tráng sĩ bao năm mài gươm dưới nguyệt
Còn tưởng nghe hồn thép múa sông sâu
Kinh Kha hề Kinh Kha
Vinh cho người hề! ba nghìn tân khách
Tiễn người đi tiếng trúc nhịp lời ca
Biên thùy trống giục
Nẻo Tần sương sa
Gió thê lương quằn quại khói chiêu hà
Buồn xưa giờ chưa tan
Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn
Bạch vân! Bạch vân! kìa ngang rừng phất phới
Ôi màu tang khăn gói lũ người Yên
Nhịp vó câu nẻo Hàm dương tung bụi
Ta nghe , ta nghe ! này cuồng phong dấy lên
Tám phương trời khói lửa
Một mũi dao sang Tần
Ai trách Kinh Kha rằng việc người đã lỡ
Ai khóc Kinh Kha rằng thềm cao táng thân
Ai tiếc đường gươm tuyệt diệu
Mà thương cho cánh tay thần
Ta chỉ thấy
Tơi bời tướng sĩ thây ngã hai bên
Một triều rối loạn ngai vàng xô nghiêng
Áo rách thân rung hề ghê hồn bạo chúa
Hùng khí nuốt sao Ngâu hề nộ khí xung thiên
Một cánh tay đưa mà danh lừng vạn cổ
Hiệp sĩ Kinh Kha hề người thác đã nên
Ta há quan tâm gì việc thành hay bại
Thế gian ơi kìa bãi bể nương dâu
Cung điện Hàm dương ba tháng đỏ
Thành xây cõi dựng là đâu
Nào ai khởi nghiệp đế
Nào ai diệt chư hầu
Ca trùng lửa đóm cùng hoàn phản không hư
Dù lăng ngà hay cỏ khâu
Riêng tồn tại với thời gian việc làm chính nghĩa
Tranh sáng với trăng sao tấm lòng trượng phu
Một nét dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư
Kìa uy dũng kẻ sang Tần không trở lại
Đã trùm lấn Yêu Ly hề át Chuyên Chư
Ôi Kinh Kha
Hào khí người còn sang sảng
Đâu đây lòa chói giấc mơ
Nước sông Dịch còn trôi hay đã cạn?
Gương anh hùng vằng vặc sáng thiên thu!

__________________________________________________

Hành Phương Nam

Nguyễn Bính

Gửi Văn Viễn

Đôi ta lưu lạc phương Nam này
Trải mấy mùa qua én nhạn bay
Xuân đến khắp trời hoa rượu nở
Mà ta với người buồn vậy thay

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu
Mà không uống cạn mà không say
Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã
Mà áo khinh cừu không ai may

Người giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trí thân vào nợ nước mây
Ai biết thương nhau từ buổi trước
Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ thế chưa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay
Quê nhà xa lắc, xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi hãy hay
Ngày mai có nghĩa gì đâu nhỉ?
Cốt nhất cười vui trọn tối nay

Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt
Giữa chợ ai người khóc nhận thây

Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén
Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?
Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây

Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
Đã đẩy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Dằn chén hất cao đầu cỏ dại,
Hát rằng phương Nam ta với ngươi.

Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề ngươi ơi!
Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…

Đa Kao 1943

Chú thích:

Ý nói Tư Mã Tương Như đời Hán. Thuở Tương Như còn hàn vi, qua cầu Thăng Tiên, đề lên thành cầu rằng: “Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử kiều” (Không cưỡi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này).

Áo khinh cừu

Khi Tương Như thành danh, được Lương vương trọng vọng, ban cho quan tước, còn tặng một chiếc áo cừu túc sương. Khi Lương vương mất, Tương Như về quê, gặp Trác Văn Quân là con gái một tay cự phú trong vùng, hai người cùng nhau trốn đi. Tương Như nghèo khó, bèn đem cầm chiếc áo cừu lấy rượu cùng Văn Quân đối ẩm. Sau hai người mở quán nấu rượu, vợ nhóm lò nấu rượu, chồng rửa chén bát.

Phùng Hoan, thực khách của Mạnh Thường Quân lãnh nhiệm vụ đi đòi nợ, khi đến ấp Tiết gọi các con nợ lại và tuyên bố đốt hết văn tự nợ. Sau về nói với Mạnh Thường Quân là tiền nợ ấy đã lấy mua “Đức” hết rồi! Sau Mạnh Thường Quân bị vua Tề phế, khi qua ấp Tiết thì toàn dân ra đón linh đình, nhờ thế vua Tề thu dụng lạixx Một người anh hùng ẩn thân đời Chiến Quốc. Có người biết chàng, tìm đến xin chàng trả hộ mối thù với Hiệp Luỹ, tướng quốc nước Hàn, phi anh hùng không ai làm nổi. Người đó cung phụng mẹ già của Nhiếp Chính rất tử tế như con cái trong nhà, đến lúc chết lại lo ma chay phận sự. Cảm cái ơn đó, lại không còn vướng bận, Nhiếp Chính đến nước Hàn, vào phủ tướng quốc giữa thiên binh vạn mã, đâm chết Hiệp Luỹ, chống cự với ba quân rồi rạch nát mặt, tự vẫn mà chết. Vua nước Hàn đem thây chàng ra giữa chợ trao giải cho ai tìm được tung tích. Chị gái Nhiếp Chính đã đi lấy chồng, nghe tin lần đến ôm xác em mình khóc thảm thiết, rồi nói với những người xung quanh đại ý rằng: Em tôi là Nhiếp Chính, vì sợ liên luỵ đến tôi và người ơn của nó nên mới phải rạch mặt mà chết thế này, nay tôi lại tiếc thân để người đời không ai biết đến nó thì còn mặt mũi nào nữa. Nói rồi cũng tự vẫn chết bên xác em. Nhờ đó, tên tuổi của Nhiếp Chính mới lưu danh sử sách như một anh hùng. Chị của Nhiếp Chính cũng là một nữ nhân anh liệt, đáng cảm phục.

Gần 900 năm sau “biến cố”, thi sĩ Lạc Tân Vương đời Đường sáng tác “Dịch thủy tống biệt”. Bài thơ lưu truyền rộng rãi, ở ta đã nhiều người dịch. Sau đây xin chép lại bản dịch của Tản Đà, Trần Trọng Kim, và xin góp thêm một bản.

Nguyên văn:

Dịch Thủy Tống Biệt

Thử địa biệt Yên Đan

Tráng sĩ phát xung quan

Tích thời nhân dĩ một

Kim nhật thủy do hàn.

Dịch nghĩa

Chia Tay Ở Bờ Sông Dịch

Đây là nơi (Kinh Kha) từ biệt thái tử Đan của nước Yên

Tráng sĩ (đã tức giận Tần Thủy Hoàng đến nỗi) tóc dựng đụng mũ

Người thời xưa đã khuất rồi

Nước sông ngày nay vẫn còn lạnh.

Dịch thơ

Tản Đà:

Đất này biệt chú Yên Đan,

Tóc anh tráng sĩ tức gan dựng đầu.

Người xưa nay đã đi đâu,

Lạnh lùng sông nước cơn sầu chưa tan.

 

Trần Trọng Kim:

Đất này từ biệt Yên Đan,

Tóc đầu đứng ngược, máu hờn nóng sôi.

Người xưa khuất bóng đi rồi,

Ngày nay còn thấy nước trôi lạnh lùng.

 

Thu Tứ:

Tử sinh quyết đã một lời

Gươm giơ tóc dựng đội trời sang sông

Người đi khuất nẻo bụi hồng

Hờn xưa còn lạnh mênh mông nước này!

____________

(1) Trong thời hiện đại, ở ta Vũ Hoàng Chương vừa thơ vừa kịch về “kẻ sang Tần”, còn bên Tàu Trương Nghệ Mưu đạo diễn phim Anh Hùng.

(2) Nói nước lạnh là nhắc câu hát của Kinh Kha khi ra đi: “Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn / Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn”, nghĩa là “Gió hiu hắt thổi, sông Dịch lạnh / Tráng sĩ một đi, không trở về”. Trong Hạn mạn du ký (1921), Nguyễn Bá Trác viết “Bắc Kinh (…) thủ đô Trung Quốc (…) cổ là nước Yên”. Nếu đây chính là nước Yên thời Tần, thì sông Dịch bây giờ hẳn khác xưa lắm lắm…

Đã xem 9202 lần

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.