Lâu lắm, mới nói chuyện “bác” Hồ!

Trước đây, tôi có nói chuyện “bác” Hồ, không chỉ nói về “bác” Hồ mà nhắc tới cả họ Hồ ở hai làng Quỳnh Đôi (huyện Quỳnh Lưu) và Lai Nhã (huyện Thanh Chương, cùng tỉnh Nghệ An), tuy hai làng khác nhau nhưng đều cùng con cháu ông tổ Hồ Hưng Dật, từ bên Tàu qua làm quan thái thú ở đất Diễn Châu (Nghệ An) ngày nay. Hậu duệ của ông Hồ Hưng Dật là Hồ Quí Ly, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Huệ… Độc giả muốn biết rõ hơn, xin đọc “quan hệ Ngô gia, Hồ gia” trong phần phụ lục.

Trầu  già gặm cỏ non.

Nguyễn Sinh Sắc, sau đổi là Sinh Huy, là con rơi của ông Hồ Sĩ Tạo, thuộc dòng họ Hồ làng Quỳnh Đôi nầy. Hồ Sĩ Tạo là danh sĩ đất Nghệ An, nhiều người biết tiếng. “Cậu” học trò Nguyễn Tất Thành, sau mấy chục năm lưu lạc bên Châu Âu và bên Tầu (1911/ 1945) về nước cầm quyền, lấy lại họ Hồ – Hồ Chí Minh là lấy lại cái gốc họ Hồ của ông ta.

Ông Hồ Sĩ Tạo là người tài danh nhưng lôi thôi tình ái, ham vui chơi, hát hò. Hậu quả là cô Hà Thị Hy, 27 tuổi, có bầu với ông Tạo. Khi ấy ông Tạo mới 21 tuổi. Thế rồi để “tránh tiếng” và tránh vạ làng, có thể bị phạt vạ, cô Hà Thị Hy mang cái bầu về làm vợ ông già Nguyễn Sinh Nhậm đã 70 tuổi, gần đất xa trời. Bà Hy sinh ra thằng bé lấy họ là Nguyễn Sinh nhưng chính ra là họ Hồ Sĩ.

Dòng họ Hồ có nhiều người tài giỏi, nhưng các con ông ông Hồ Sĩ Tạo phần nhiều ăn chơi, rượu chè, cờ bạc. Vì vậy, ông Tạo thưòng chăm chút đứa con rơi Nguyễn Sinh Sắc, hy vọng cậu Sắc học hành giỏi giang làm rạng danh ông Tạo.

Không ngờ ông Huy chẳng hơn gì anh em ông. Giới quan trường Huế, giúp ông Huy đậu vớt phó bảng, bổ dụng làm quan. Tính rượu chè không chừa, khi làm tri huyện Bình Kê, ông Huy phải chịu tội say rượu sai lính đánh chết dân. Mặc dù Thành Thái đã phê vào tờ trình của Bộ Lễ “trảm giam hậu”, nhưng rồi ông Huy cũng được tha: “Cách chức, đuổi về”. Không mặt mũi nào mà về làng cũ, ông Huy bỏ đi Nam, và qua đời ở Cao Lãnh, Sadec.

Xét về dòng dõi như thế, người ta không lạ gì về tánh khí và cuộc đời của “bác” Hồ. Có điều hơi tréo cẳng ngỗng, ông Tạo cặp với cô Hà Thị Hy 27 tuổi khi ông Tạo 21 tuổi, còn “bác” Hồ cặp với Nông Thị Xuân 20 tuổi, từng là “cháu ngoan bác Hồ” khi “bác” Hồ 55 tuổi, đáng tuổi “Ông Nội”. “Trầu già ưa gặm cỏ non” chính là “bác” chớ ai vô đây!

Tôi không tin “bác Hồ vĩ đại” bởi vì người ta đồn nhiều ông Việt Kiều, khi ở Mỹ thì “show up” lắm, nhưng khi “cờ quạt” cất vô kho rồi thì “mấy ổng” về Việt Nam làm “con trâu đồng”, như mấy trăm con trâu của “Ông Chủ Ry” ngày xưa, tới “Mùa len trâu” thì kéo nhau lên núi Cô Tô mà “gặm cỏ non”. “Bác” với mấy ông nầy “cá mè một lứa”, “vĩ đại” cái gì đâu!

Độc giả biết “Ông Chủ Ry” là ai không? Ông là người nổi tiếng ở đất Vàm Rầy, là ông già vợ ông đại tướng Trần Thiện Khiêm đấy.

Mấy ông Việt Kiều già, sau khi biểu tình hoan hô, đả đảo… về Việt Nam “gặm cỏ non” là theo “gương ai đó hỉ?”

Đi Tây

Hồi mới vô trại Tù Cải Tạo, học xong 10 bài, nhiều người “hồ hỡi”, “phấn khởi” (danh từ Việt Cộng đấy hí!), chờ ngày “tha ra khỏi trại cải tạo” (Câu ghi trong lệnh tha). Bọn tù chúng tôi có anh còn thiệt thà, cả tin, nghe cán bộ chính trị Việt Cộng nói câu: “Bác” là người thông minh sáng suốt, thay vì đi về phương Đông, qua Nhật như mọi người thì “bác” đi về phương Tây, “bác” qua Pháp để tới ngay cái gốc của nó để tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, hiểu biết bản chất nó như thế nào, để đánh bại nó, ngay tại quê hương của nó.

Thiên hạ vỗ tay hoan hô!

Đêm đó, tới giờ kẻng đánh “vô chuồng”, mười hai anh em chúng tôi, thuộc Tổ 1, Khối 1, trại L3/T3 Trảng Lớn, cùng một phòng, chờ giấc ngủ mà chưa ngủ được – nhớ nhà quá, nhớ con nhớ vợ quá – , nói chuyện với nhau về “bài học” ngày hôm đó, có người hỏi tôi:

-“Anh Hải dạy học mười năm, lại dạy sử địa, anh thấy cán bộ nói có đúng không?”

Tôi trả lời: “Cán bộ là người thay mặt cho “Đảng”. Mấy “ông” không nhớ đại úy Thảo, (chính trị viên tiểu đoàn) nói hôm trước không: Cái gì cũng tương đối, nhưng “nghị quyết” của Bộ Chính Trị là tuyêt đối đúng!”

Có nhiều tiếng cười, không to lắm. Tiếng cười rúc rích, cười anh cán bộ “cuồng tín”, như “cuồng tín tôn giáo”, cái gì đảng cũng đúng! Ông trời còn sai, huống chi là người.

-“Vậy muốn biết cái gì đúng hay sai,” – Tôi nói –  “hỏi xem hồi nảy ai đi đái sau hè, có thấy ai là ai đứng sát vách phòng mình không?

Lại có tiếng cười!

-“Nếu không có ai đứng đái sát vách nhà mình cả.” – tiếp tục lại có tiếng cười – Tôi nhắc lại một câu của Pascal: “Bên nầy Pyrenees là chân lý, bên kia thì ngược lại.” Bọn học trò thời chế độ cũ, khi học triết thì nghe thầy giảng “chân lý tương đối”, ngoại trừ “Trường Dòng”. Còn như ai học Trường Tây thì biết câu nầy là do các chiến tranh giữa Pháp và Tây Ban Nha. Vua Pháp thì nói Pháp có chính nghĩa, vua Tây Ban Nha thì nói chính nghĩa thuộc về phía ông ta. Trong chùa thì “Sư nói sư phải, Vãi nói vãi hay”. Toàn là “phịa” cả. Ông cán bộ học ở “Trường Đảng” ra cũng không khác mấy với ông cha học ở “Trường Dòng” ra. Quan điểm cực đoan nầy là do văn hóa, nguồn gốc từ cái nôi văn hoa của nhân loại: Văn Minh Lưỡng Hà” cộng thêm với chủ nghĩa Mác – Lênin: “Đi với kẻ cướp mà có lợi thì ta vẫn đi.”

-“Câu đó là của Lênin!” Có người góp ý.

-“Đúng! Là là ngụy biện, là “bá đạo” là Machiavelli – thủ đoạn và vô đạo – Chỉ có Cộng Sản mới nói kiểu ấy: Bẻ ngược con đường sang Đông, đi sang Tây với đi Tây, biến hóa một người đi “kiếm ăn” thành một vĩ nhân.

-“Đúng hay sai! Nói mẹ đi! Nói lòng vòng như vậy, chút nữa không ngủ được đâu!” Phạm Ngọc Hiền, nằm phía cửa, vừa đưa võng, vừa cằn nhằn.

-“Sai trăm phần tram.” Tôi nói ngay. “Nhưng “ông” phải để tôi nó về “Phong Trào Đông Du” môt chút, mới hiểu tại sao Hồ Chí Mình “đi Tây!”

-“Đồng ý! Anh Hải nói đi!” Hoàng Hữu Chung, góp ý.

-“Có Phong Trào Đông Du là do cụ Phan (Phan Bội Châu) với mấy cụ Quảng (Quảng Nam). Trước hết, xin nói về mấy ông “Đồ gàn”. “Gàn” là thi đậu, cử nhơn, phó bảng… Thường thì người ta đi hi đẻ ra làm quan, nhưng mấy ông nầy đi thi để “đậu chơi” mà lại “đậu cao”, để cho “đời biết mình chơi!” Thật ra, “Thưa rằng đừng lấy làm chơi” mà để chống Tây, để làm cách mạng. Vì vậy, ở Huế, người ta gọi mấy ông đồ gàn nầy một cách kính trọng là cách “nhà cách mạng”, hoặc “người làm cách mạng”. Đó là các ông Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Bá Hạp, Tiểu La… nhiều lắm, tui không nhớ hết.”

Trung úy Phan Hải, Trưởng Khối, con trai ông Phan Mạch, Việt Cộng cỡ bự, “Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhứt” ngoài Hà Nội, hỏi:

-“Vậy ông Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh “bác” Hồ”?

-“Ông nầy khi thi đậu phó bảng năm 1901 thì không ra làm quan. Đến năm 1905 thì xin bổ dụng, được làm “Hành Tẩu Bộ Lễ”, dưới quyền ông Ngô Đình Khả, làm thượng thư.

-“Hành tẩu. Tẩu là chạy, chức nầy nhỏ lắm. Còn thượng thư là chức quan to, ngang hàng với bô trưởng sau nầy.” Đại úy Phạm Xuân Lý, trước khi vô tù là “sinh viên trường Luật” nói tiếp như thế.

-“Mấy ông biết không. Cụ Phan nói: “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ.” Ra làm quan là chịu cảnh nô lệ với quan trên rồi. Bây giờ, ra làm quan với triều đình, nhưng thực ra là làm quan với Tây, làm cho Tây, đời nào mấy ông nầy chịu. Còn như ông Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh “bác Hồ”, “bát cháo” gì đó, ra làm quan là vì gia đình xuống quá, nhà nghèo, thôi đành “vuốt mặt khôn cùng” mà kiếm miếng đỉnh chung vậy. Hoặc lý do gì khác nữa thì… tui không biết!”

-“Rồi đi Nhựt?” Có người hỏi, nôn nóng.

-“Phải kể chuyện Nhựt thắng Nga chút đã. Năm 1905, hạm đội Hắc Hải của Nga bị Nhựt đánh bại ở eo biển Đối Mã, eo biển ở phần cuối bán đảo Triều Tiên. Hạm đội Nga tan tác, chạy trốn. Một chiếc vào núp ở Cam Ranh. Người Việt Nam lại bàn tán xôn xao về sức mạnh của quân đội Nhựt. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp vô Cam Ranh “coi” tàu Nga. Trong cuốn “Tự Phán”, cụ Phan kể: Coi xong, mấy ông về “lắc đầu, lè lưỡi”. Tàu bè như thế mà bị Nhựt đánh bại. Vậy thì tầu Nhựt to lớn, mạnh mẽ như thế nào!

Vậy là mấy cụ còn “ếch ngồi đáy giếng”, bàn nhau qua Nhựt, mượn quân Nhưt về đánh Tây, rồi cử cụ Phan Bội Châu ra đi. Đó là cái ngòi của “Phong Trào Đông Du.”

“Bấy giờ mấy cụ cũng đã bắt đầu hiểu thế nào là Cộng Hòa, Tự Do, Dân Chủ, Quân Chủ, không phải qua sách Tây – chữ Quốc Ngữ còn chưa biết, làm sao mà đọc sách Tây. Mấy cụ có “thấm nhuần” được những tư tưởng tiến bộ của “Thế Kỷ Ánh Sáng” là nhờ qua sách Tầu. Người Tầu họ có viết, dịch về những tư tưởng tiến bộ đó là bằng sách Tàu, nên mới có chuyện dịch tên Tây ra tiếng Tàu: Montesquieu thì dịch là “Mạnh Đức Tư Cưu”, Rousseau thì dịch là “Lư Thoa”, Voltaire có tên Tàu là “Phúc Lộc Đặc Nhĩ”. Sau nầy, thời đại bọn mình, ai mà còn xài Lư Thoa với Mạnh Đức, phải không?”

-“Đồng ý!” Nhiều người trả lời, hào hứng, khi đêm nằm không, có người “kể chuyện đời xưa” cho nghe, chờ giấc ngủ.

-“Qua tới bên Tàu, cụ Phan mới ra khỏi giếng. Khi cụ Phan nói chuyện “qua Nhựt cầu viện” với Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu thì hai ông nầy bảo: Đem quân Nhựt về đánh đuổi quân Pháp thì có chi “Dịch củ tái nô”. Không làm nô lẹ cho Tây thì qua làm nô lệ cho Nhựt, cũng là thân phận nô lệ chớ có khác gì đâu. Vì vậy mới có câu chuyện đưa thanh niên qua Nhựt du học, lo đào tạo cán bộ trước đã. Khi đã có cán bộ rồi mới giành được độc lập, gìn giữ đưọc độc lập. Việc nầy mới khó hơn.

“Vì vậy, Nhựt cho thanh niên sang Nhựt học ở hai trường Đồng Văn, Chấn Võ. Tuy nhiên, chưa được bao lâu thì Pháp biết phong trào nầy, bèn thương thuyết với Nhựt, nhượng cho Nhật một ít quyền lợi gì đó, Nhựt bèn đuổi du học sinh Việt Nam ở Nhựt ra khỏi nước họ. Đám du học sinh nầy phải tụ tập lại bên Tầu, bơ vơ báo váo mà không õ tương lair a sao.”

“Trở lại chuyện ông Nguyễn Sinh Huy bị đuổi ra khỏi quan trường, không về quê được, bèn đi dần về phương Nam. Anh học trò Nguyễn Sinh Thành cũng không về quê, theo dấu của cha mà đi về phương Nam. Anh ta ghé lại Phan Thiết, làm thầy giáo ở trường tư thục Dục Thanh. Chưa được bao lâu thì Nguyễn Sinh Thành cũng bỏ Phan Thiết vào Nam.”

-“Sao vậy?” Có tiếng hỏi.

-“Anh ta dạy cái chi được. Chữ Quốc Ngữ, tiếng Tây thì anh ta mới học lớp Ba trường sơ học Pháp-Nam ở phía ngoài cửa Đông Ba. Còn chữ Nho thì anh ta học với ai? Học với bố anh ta. Không có tài liệu nào khen anh ta giỏi chữ Nho. Với lại, bấy giờ “Phong trào Đông du” xuống dốc, “Phong trào Duy Tân” của vua Thành Thái đang lên, người ta chủ trương học chữ Quốc Ngữ với chữ Tây. Vì vậy mà “anh Thành” phải bỏ Phan Thiết vào Nam.”

-“Nghe nói “bác” Hồ học trường Quốc Học.” Phan Hải hỏi.

-“Làm sao mà ông Hồ học ở Trường Quốc Học được. Hồi đó, phải là “hậu bổ” mới được vô học trường nầy hay là con các quan trong triều. Ông Hồ Chí Minh chưa phải là “hậu bổ”, cũng chưa phải là con các quan. Ông Nguyễn Sinh Sắc mới làm tri huyện chưa được bao lâu thì mất chức. Người cha mất chức thì người con phải bỏ học. Ai nuôi?

“Đông lực chính khiến anh học trò Nguyẽn Tất Thành đi Tây là như thế nầy. Năm 1911, hai cha con ông Nguyễn Sinh Huy xuống Mỹ Tho thăm cụ Phan Chu Trinh đang bị Pháp giam lỏng ở đây. Cụ Phan cho biết cụ sắp đi Pháp vì Pháp cho cụ sang bên ấy để dạy chữ Hán. Thấy ở lại Saigon cũng không làm được gì nên Nguyễn Tất Thành cũng tìm cách sang Pháp, theo chân Phan Chu Trinh, nhờ chính phủ Pháp để thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn của gia đình và bản thân. Còn như về phía Nam Triều thì “hết đường binh” rồi. Chuyện cậu ta xuốn tàu LaTouche Treville, ai cũng biết, nhưng có hai việc ít người biết, tôi nói cho mà nghe:

-“Một là gởi đơn lên bộ Thuộc địa xin giúp đỡ cho cha phục hồi chức vụ cũ.

-Thứ hai, làm đơn gởi cho tổng thống Pháp xin vô học Trường Thuộc Địa để “phục vụ cho nước Đại Pháp”! Còn như cán bộ giảng bài thì chỉ có Việt Cộng nói mà thôi. Ai muốn tin Việt Cộng thì tin./

hoànglonghải

Phụ lục

Quan hệ

Ngô gia – Hồ gia

Kỷ niệm một thời niên thiếu ở “Xóm Đông Ba”.

Gởi Hồ Phùng thân mến

Tác gi

1)- Trại bò

Khi trả lời ông Tường Thắng, trên VNExodus và SBTN, về Phạm Xuân Ẩn, ông Trần Đông Phong, tác giả “VNCH, mười ngày cuối cùng”, tiết lộ rằng, nội tổ ông Phạm Xuân Ẩn làm nghề thợ bạc, quê ở Hải Dương, được triều đình nhà Nguyễn gọi về Huế để phục vụ cho hoàng gia và vua quan.

Kinh đô là nơi sinh hoạt của vua, hoàng gia và quan lại, thường có những nhu cầu đặc biệt, do đó, thợ giỏi các nơi thường được triệu về kinh như trường hợp nội tổ ông Phạm Xuân Ẩn vậy.

Cụ Vũ Văn Giáp, quê làng Phong Lâm, Hải Dương, làm nghề đóng giày, cũng được gọi về kinh để đóng giày ống, giày hạ và hia…

Làng Phong Lâm có nghề thuộc da là nghề gia truyền của dân làng. Giày ống là loại giày như chúng ta thấy táo quân mang khi ông ta lên tấu trình trên thiên đình, còn giày hạ, thật ra chỉ là một loại giép da, mũi che kín nhưng gót thì bỏ trống.

Để có phương tiện làm giày, hia… cụ Vũ Văn Giáp được vua Tự Đức ban cho một khu đất rộng ở làng Vạn Xuân, để nuôi trâu, bò lấy da. Người Huế thường gọi nơi nầy là “Trại Bò”, – cũng có khi gọi là “Trại Trâu” vì trại nuôi cả trâu lẫn bò – Trên Quốc Lộ 1, từ Huế ra Quảng Trị, sau khi qua khỏi cống Thủy Quan – có con sông nhỏ đưa nước vào thành nội -, gần tới cầu An Hòa, rẽ qua trái là tới Trại Bò.

Cụ Vũ Văn Giáp là người quảng giao, trọng văn học, thường hay giúp đỡ các sĩ phu, sĩ tử gặp khó khăn khi đến Huế, nên Trại Bò của cụ, cũng là nơi cụ sinh sống hằng ngày, thường đón tiếp những người nói trên khi họ về kinh đô để triều yết hay thi Hương, thi Hội, thi Đình…

Do công việc của mình, cụ Vũ Văn Giáp quen biết hầu hết tầng lớp quan lại, từ Vua cho đến Hoàng Thân Quốc Thích, cũng như các quan lớn, nhỏ trong triều.

Tình hình hồi ấy, tới Huế, tìm được một nơi cư trú là không dễ dàng gì. Phần đông tầng lớp sĩ tử, nếu gia đình không giàu có, không có thân thuộc để nhờ cậy, thường tìm đến Trại Bò của cụ Vũ Văn Giáp để xin tạm trú, giúp đỡ.

Cụ Phan Bội Châu, sau khi đổ thủ khoa ở Trường Nghệ, vào Huế tìm đồng chí để hoạt động chống Pháp, từng ở lại nhà cụ Vũ Văn Giáp nhiều lần. Do đó, cụ Phan Bội Châu và cụ Võ Bá Hạp, con trai của cụ Vũ Văn Giáp, trở thành “đồng chí thân cận”.

Vậy mà có một điều, ít ai nói tới là khi cụ Nguyễn Sinh Sắc, từ Nghệ An, đậu cử nhân năm 1894 thi Hương trường Nghệ, sau vào kinh thi Hội thì cũng xin “tạm trú” (1) tại Trại Bò của cụ Vũ Văn Giáp.

Vậy rồi cụ Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng.

Với cụ Vũ Văn Giáp, việc thi hỏng nầy thật là đáng thương, và đáng tội nghiệp cho cụ Nguyễn Sinh Sắc lắm. Cụ Sắc nhà nghèo, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, rất chăm học.

Do lòng trắc ẩn, – lại có việc nhờ cậy của ông Hồ Sĩ Tạo nữa – nên cụ Vũ Văn Giáp xin với cụ Ngô Đình Khả, xét lại và giúp đỡ cho cụ Sắc.

Bấy giờ cụ Ngô Đình Khả, là thượng thư Bộ Lễ (bộ coi sóc việc thi cử), “Hiệp Tá Đại Học Sĩ”, coi như “quan đầu triều”, thế lực lớn lắm.

Cụ Ngô Đình Khả với cụ Cao Xuân Dục, Chánh Chủ Khảo, cho thí sinh Nguyễn Sinh Sắc đậu vớt. Tuy nhiên, có điều hơi rắc rối là có hai người cao điểm hơn cụ Sắc cũng rớt. Vậy nếu vớt cụ Sắc thì phải vớt thêm hai người cao điểm hơn, trước cụ Sắc. Một trong hai người đó là cụ Phan Chu Trinh. Thành ra, thay vì hỏng, nhờ vớt cụ Sắc nên cụ Trinh cũng được vớt luôn trong kỳ thi Hội nầy.

Để rõ hơn, xin độc giả xem đoạn trích dẫn sau đây:

“Quốc triều khoa bảng lục”.

Tác giả là Cao Xuân Dục, ghi lại tên họ, quê quán của tất cả những thí sinh thi đỗ các khoa thi Hội dưới thời nhà Nguyễn, từ khoa Nhâm Ngọ (Minh Mạng thứ ba – 1822) đến khoa sau cùng năm Kỷ Mùi (Khải Định thứ bốn – 1919).

Trích dẫn một số tân đăng khoa:

I – Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ cập đệ (thời nhà Nguyễn không lấy Trạng Nguyên, cao nhất là Bảng Nhãn, sau là Thám Hoa)

II – Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ xuất thân

III- Đệ Tam Giáp đồng Tiến Sĩ xuất thân

Đời Thành Thái:  khoa Tân Sửu 1901

Đệ Tam Giáp đồng Tiến Sĩ xuất thân:

1)- Nguyễn Đình Tuân

2)- Ngô Đức Kế

3)- Nguyễn Viết Thông

4)- Nguyễn Đình Điển

5)- Trần Văn Thống

6)- Lê Ngãi

7)- Nguyễn Duy Tích

8)- Nguyễn Văn Tính

9)- Nguyễn Văn Bân

Phó Bảng:

1)- Nghiêm Châu Tuệ

2)- Vũ Tuân

3)- Nguyễn Đình Hiến

4)- Lê Đình Xản

5)- Hoàng Đại Bỉnh

6)- Đỗ Dương Thanh

7)- Vũ Vĩ

8)- Nguyễn Mậu Hoán

9)- Phạm Ngọc Thụy

10)- Nguyễn Xuân Thưởng

11)- Nguyễn Sinh Sắc             

12)- Nguyễn Duy Thiện

13)- Phan Châu Trinh

(các ông số 11, 12, 13 là đậu vớt)

Đời Thành Thái, khoa Giáp Thìn 1904

II – Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ:

1)- Đặng Văn Thụy

III – Đệ Tam Giáp đồng Tiến Sĩ xuất thân:

2)- Trần Quí Cáp

3)- Hoàng Kiêm

4)- Huỳnh Thúc Kháng

5)- Hồ Sĩ Tạo (quê Bình Định –tg)

6)- Nguyễn Mai

Phó Bảng:

1)- Tạ Thúc Đĩnh

2)- Hoàng Văn Cư

3)- Nguyễn Đình Tiến

4)- Nguyễn Tư Tái

5)- Thân Trọng Ngật.

Ơn nghĩa thứ nhứt cụ Ngô Đình Khả ban cho cụ Nguyễn Sinh Sắc là vớt cho đậu phó bảng.

Sau đó, cụ Nguyễn Sinh Sắc, sau khi thi đậu thì về quê để “phụng dưỡng mẹ cho tròn chữ hiếu.” (Câu nầy là sử gia Việt Cộng viết).

Thật ra, Việt Cộng viết như vậy là viết ẩu vì khi bà Hà Thị Hy, tên tục là cô Đèn, lén lút ăn nằm với ông Hồ Sĩ Tạo có bầu, nhưng ông Tạo không cưới cô Đèn được, bèn đem gả cho ông già Nguyễn Sinh Nhậm, góa vợ, đã 70 tuổi, lớn hơn cô Đèn 40 tuổi. Ông Nguyễn Sinh Sắc được 3 tuổi thì ông Nhậm qua đời. Một năm sau, ông Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ.

Vậy mà, Việt Cộng nói rằng, sau khi thi đổ phó bảng năm 1901, cụ Sắc không chịu ra làm quan, “về quê để phụng dưỡng mẹ” là viết ẩu. Mẹ còn đâu nữa mà phụng dưỡng??!!

Không rõ vì sao, bốn năm sau, sau khi thi đỗ, cụ Nguyễn Sinh Sắc (bấy giờ đổi tên là Huy) mới xin bổ làm quan, được chức: “thừa biện Bộ Lễ”. Hai năm sau đi tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

Khổ nỗi, cụ Nguyễn Sinh Huy là một tay nát rượu, làm tri huyện chưa bao lâu thì chịu trách nhiệm về vụ đánh chết dân, trong khi cụ Sắc say rượu. Nội vụ lại được Bộ Lễ xét xử.

Ngày xưa tội đánh chết người là nặng lắm, theo luật thì “đánh người thành thương, thương nhân trí mạng” thì phải đền mạng. Cụ Nguyễn Sinh Huy bị Bộ Lễ điều tra, vua Thành Thái phê trãm giam hậu”. Lại nhờ cụ Ngô Đình Khả giúp đỡ lần nữa nên chỉ bị cách chức và phạt 100 trượng, thay vì 100 roi. Phạt đánh bằng trượng thay vì roi là có hậu ý. Trượng là đánh bằng gậy, bằng côn. Người thi hành án đã được dặn trước, đánh sao cho đầu cây côn gõ xuống ván đánh cộp một tiếng, tưởng như là mạnh lắm, nhưng cây côn chẳng đụng vào đít người bị phạt. Nếu không dùng cách ấy mà đánh thẳng tay thì cụ Nguyễn Sinh Sắc đã tan xương nát thịt ra rồi.

Sau khi bị cách chức, cụ Nguyễn Sinh Sắc lưu lạc vào nam, có người con gái là bà Nguyễn Thị Thanh (hiệu Bạch Liên) đi theo chăm sóc cho cha, một thời gian thì bà Thanh bỏ về quê.

Theo Giáo Sư Hoàng Văn Chì trong cuốn “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản”, cụ Nguyễn Sinh Sắc vào Nam làm nghề bốc thuốc và coi tử vi ở chợ Bến Thành.

Khi các cụ Luật Sư Phạm Văn Trường, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, – ba người từng giúp đỡ Nguyễn Tất Thành khi ông nầy mới qua Pháp – về Saigon, nói cho cụ Nguyễn Sinh Sắc biết rằng “anh” Nguyễn Tất Thành, nay đã gia nhập Đảng Cộng Sản chủ trương “tam vô”, quay lưng lại với Tổ Tiên và Tổ Quốc, còn chê các cụ nói trên, nhứt là cụ Phan Chu Trinh là “hủ Nho”, thì ông Nguyễn Sinh Sắc giận đứa con trai của ông lắm. Ít lâu sau, khi “anh” Nguyễn Tất Thành lén về Saigon, đến thăm cha đang ở chợ Bến Thành. Nghe con trai xác nhận đã theo Cộng Sản, cụ Nguyễn Sinh Sắc giận lắm, cầm cây chổi lông gà mà đánh con. Nguyễn Tất Thành tránh kịp, chạy xuống đường rồi đi luôn. Từ đó về sau, cha con không những không gặp nhau mà cũng chẳng thư từ thăm hỏi gì nữa cả.

Làm ăn không khá và do cuộc đời đưa đẩy, lại phải trốn tránh người Pháp, vì bấy giờ Nguyễn Tất Thành đã theo Cộng Sản Nga, Thành đang bị thực dân Pháp truy nã, nên cụ Nguyễn Sinh Sắc lưu lạc về Cao Lãnh, đổi sang họ Vương, lấy một người vợ rất trẻ, sinh một người con trai, đặt tên là Vương Chí Nghĩa.

Ông Vương Chí Nghĩa có 7 người con, một trong bảy người con đó là Vương Chí Việt, tu theo đạo Phật, pháp danh là Thích Chân Quang, trụ trì chùa Phật Quang ở núi Dinh, Bà Rịa, gần Vũng Tầu. Sau 1975, ông thầy tu nầy có về Nghệ An để xác nhận lại dòng dõi: ông Nguyễn Sinh Sắc, tức là Huy, là con trai ông Hồ Sĩ Tạo. (Họ Hồ, đổi qua họ Nguyễn, rồi họ Vương).

Khi tôi làm việc ở Kiên Giang, trước 1975, dư luận ở Rạch Giá và xã Mỹ Lâm, nơi lớn lên và học hành của Nguyễn Tấn Dũng, nói rằng Nguyễn Tấn Dũng là cháu ngoại cụ Nguyễn Sinh Huy, có nghĩa mẹ Nguyễn Tấn Dũng là chị hay em gì đó của Vương Chí Việt, tức Thích Chân Quang. Chồng của người đàn bà nầy là Mười Minh, bố ruột của “Ba Dũng”, tức Nguyễn Tấn Dũng. Mười Minh là “đồng chí thân cận” của Võ Văn Kiệt, bị Tây bắn trong một trận càn trước hiệp định Genève 1954. Khi hấp hối, Mười Minh có gởi gắm con trai mình, tức Nguyễn Tấn Dũng cho Võ Văn Kiệt.

Đó là hai lý do – lời hứa của Kiệt và là cháu ngoại ông Nguyễn Sinh Sắc (Huy) – nên đời Nguyễn Tấn Dũng lên rất nhanh. Độc giả muốn rõ hơn, xin đọc “Hương Tràm Trà Tiên – Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng” là hồi ký của tôi, Văn Mới xuất bản.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc qua đời ở Cao Lãnh năm 1929.

Sau nầy, quan hệ giữa Ông Hồ và ông Ngô xảy ra thêm một lần nữa. Tết năm Canh Tý, “năm tuổi” ông Diệm, ông Diệm có nhận một cành đào từ HồngKông gởi qua, đem chưng ở dinh Độc Lập. Nhiều người biết đó là cành đào “Chủ Tịch Hồ Chí Minh ở phía Bắc gởi biếu Tổng Thống Ngô Đình Diệm ở phía Nam”. 

Có phải đây là việc tiếp nối “ân tình” giữa ông Diệm và ông Hồ hay đây chỉ là một thủ đoạn chính trị của Hồ Chí Minh. Thủ đoạn đó nhằm mục đích gì? Gây mâu thuẫn giữa Tổng Thống Ngô Đình Diệm với Mỹ hay muốn lôi kéo Tổng Thống Ngô Đình Diệm trên một phương diện chính trị nào đó.

Ông Trần Quốc Vượng, “sử gia Việt Cộng” cũng nói rằng Nguyễn Sinh Sắc chính là con ông Hồ Sĩ Tạo. Ông Hồ sĩ Tạo đậu giải nguyên (đổ đầu thi Hương trường Nghệ) gian dâm với Cô Đèn, tức Hà Thị Hy, con ông Hà Văn Cẩn. Ông Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành, sau nầy lấy lại họ thực của mình là Hồ (Hồ Chí Minh), cũng do tuồng tích nầy mà ra, chứ ông Hồ Chí Minh không có máu mủ gì với ông Nguyễn Sinh Nhậm (quê làng Kim Liên, Nghệ An, tục gọi là làng Sen), là “ông nội nhận vơ” của ông ta cả. Do đó, những người có họ “Nguyễn Sinh”, nhưng không phải là con cháu ông Nguyễn Sinh Sắc thì trên huyết tộc, chẳng có liên hệ gì tới ông Hồ Chí Minh. Chuyện một đứa con hoang là ông Nguyễn Sinh Sắc, tạo ra nhiều rắc rối, lôi thôi.

Ông Hồ Sĩ Tạo (giải nguyên năm 1868, quê làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, Nghệ An) là người hay chữ, tài hoa, ưa vui chơi đàn hát, có tới 5 vợ. Khi ông mới quá 20, đã có vợ con mà gian dâm với cô Đèn, lúc ấy đã 30. Cô Đèn đã đẹp mà lại hát hay. Các con của ông Hồ Sĩ Tạo, chẳng ai học hành ra gì, chỉ lo vui chơi, rượu chè, cờ bạc. Thầy dạy học ông Nguyễn Sinh Sắc là cụ Hoàng Xuân Đường (quê làng Hoàng Trừu, tục gọi làng là làng Trừu, Nghệ An). Ông Đường gả con gái là Hoàng Thị Loan cho ông Sắc. Bà Loan là mẹ đẻ ông Hồ Chí Minh. Vì các con của ông Tạo học hành không ra gì nên ông Hồ Sĩ Tạo gởi gắm đứa con rơi của mình là Nguyễn Sinh Sắc (tức Huy) khi ông Sắc vào kinh thi Hội. Các quan trong triều nể tình ông Tạo, có giúp đỡ cho ông Nguyễn Sinh Sắc. Trước nhứt là phải nhờ đến cụ Vũ Văn Giáp mà tới ông Ngô Đình Khả.

Trại Bò nầy là nơi lui tới của những người “chống Tây”.

Tuy cụ Vũ Văn Giáp là người làm nghề đóng giày, chẳng đỗ đạt gì nhưng ông là người quảng giao, nghĩa hiệp và yêu nước. Nhiều người quen biết ông đều là người “chống Tây”. Ngay chính cụ Ngô Đình Khả, qua cụ Vũ Văn Giáp, từng giúp đỡ cụ Nguyễn Sinh Huy (Sắc) – cũng là người “chống Tây” trong việc Pháp truất ngôi và đày vua Thành Thái qua châu Phi, như tôi đã kể trong bài viết về ông Ngô Đình Khả.

Khi ông Ngô Đình Diệm bị Việt Minh bắt ở Quảng Ngãi, giam ở Hà Nội, theo ông Vũ Thư Hiên thì tại Bắc Bộ Phủ, ông Hồ Chí Minh giữ chìa khóa phòng giam vì ông Hồ sợ các đồng chí của ông manh động mà nguy hại tới tính mạng ông Diệm. Tới bữa, ông Vũ Đình Huỳnh lên phòng ông Hồ lấy chìa khóa đem cơm vô cho ông Diệm, sau đó chìa khóa phải trả lại chỗ cũ. Ít lâu sau, ông Hồ nói với ông Huỳnh và ông Lê Giản, Giám Đốc Sở Liêm Phóng, là phải thả ông Diệm ra vì uy tín nhà họ Ngô ở Huế lớn lắm, và ông chứng minh bằng câu “Đày vua không Khả”. Mặc dù ông Huỳnh và ông Giản không tán thành, nhưng ông Diệm vẫn được trả tự do.

Theo ông Hoa Nhật Khanh (Việt Cộng) thì câu chuyện ông

Ngô Đình Diệm bị bắt ở Hà Nội như sau:

“- Thưa anh, tôi được biết ông Ngô Đình Diệm đã bị cách mạng địa phương bắt, đưa ra Hà Nội và bị giam ở 44- Lê Thái Tổ, tức tòa soạn báo Hà Nội mới bây giờ. Thế rồi, như tôi nghe nói thì ông ta trốn thoát, khiến tôi nghi vấn. Làm sao có thể trốn thoát nổi, tôi ngờ rằng có thể ta ngầm thả?

“Nhật Hoa Khanh nói ngay:

“- Thả chính thức, cái này cụ Lê Giản – Giám đốc Sở Liêm phóng (đặt trong Bộ Nội vụ, chứ không tách riêng như về sau) hồi bấy giờ, đã có nói rõ. Theo Lê Giản, Bác hỏi: Bác có nghe ông Diệm đã bị bắt, cho Bác đến thăm. Ông ta dẫu gì cũng là người Việt Nam, thân phụ ông ấy là Ngô Đình Khả, làm đến thượng thư triều đình Huế nhưng đã từ quan vì thấy rõ nó nát rữa. Thân phụ Bác cũng từ quan, các cụ có biết nhau. Sau khi đưa Bác đến 44 Lê Thái Tổ, ông Giản ở ngoài. Chỉ nghe Bác dặn lúc chào tạm biệt: Ngô Đình Diệm làm đến quan đầu triều, chỉ vì đòi thống nhất Nam kỳ vào Bắc và Trung kỳ, nhằm thu hẹp quyền của 3 thống sứ Pháp vào 1 thống sứ tại Huế; đòi không được nên đã từ quan. Người như thế không thể đánh đồng với đám quan lại cũ thối nát. Vả lại, là quan lại cũ, nhưng đã từ quan, nên coi là dân thường. Mà dân thường thì mọi tầng lớp, mọi giới đều nằm trong Việt Minh, không phải là đối tượng của cách mạng nữa.”

Việt Cộng nói thì mười điều không thiệt cả mười, độc giả ai muốn tin thì tin nhưng theo tôi, tôi tin việc ông Hồ trả tự do cho ông Diệm là có thật.

Việc ơn nghĩa giữa hai dòng họ nầy, tôi đã có trình bày như trên. Ngoài ra, theo ông Huỳnh Hữu Hiến kể cho anh em chúng tôi nghe, thì sau khi bị phạt tội, ông Nguyễn Sinh Huy gởi lại các con cho cụ Vũ Văn Giáp chăm sóc giùm. Các người con nầy, “tạm trú” ở Trại Bò những mấy năm, đến khi không còn hy vọng ông Nguyễn Sinh Huy quay trở lại đón họ nữa, thì họ bèn xin phép cụ Vũ Văn Giáp rời Trại Bò để về quê, làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, ông Võ Như Nguyện, con cụ Võ Bá Hạp, bị Việt Minh bắt, ông cả Khiêm (Nguyễn Sinh Khiêm, nói trại là Khơm, còn có tên là Đạt) phải xin Trần Hữu Dực, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Trung Bộ can thiệp để ông Võ Như Nguyện được tha. Bị Việt Minh bắt lần thứ hai, cụ Võ Như Nguyện trốn được. Lúc nầy, cụ Võ Bá Hạp vẫn còn sống.

Những người lúc ấy còn trẻ, họp thành một nhóm yêu nước, hoạt động “chống Tây”, gồm có:

-Cụ Võ Bá Hạp, con cụ Vũ Văn Giáp, Cử Nhân khoa thi Hương 1901, trường Thừa Thiên, không làm quan, bị tù Lao Bão vì tham gia hoạt động cách mạng.

-Cụ Phan Bội Châu, lớn hơn cụ Võ Bá Hạp 10 tuổi nhưng là bạn bè “đồng chí thân cận”, năm đó đậu Giải Nguyên ở trường Nghệ, không làm quan, lãnh đạo Phong Trào Duy Tân, Phong Trào Đông Du, trốn sang Nhựt Bản.

-Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Giải Nguyên thi Hương năm Canh Tý (1901), cùng lãnh đạo Phong Trào Duy Tân, bị đày Côn Đảo 13 năm (1908-1821).

-Cụ Ngô Đức Kế, Á Khoa thi Đình, Tam Giáp đồng Tiến Sĩ năm 1901, không làm quan, lãnh đạo Phong Trào Đông Du, cũng bị đày Côn Đảo 13 năm (1908-1921).

Ngoài ra, tham gia hoạt động cách mạng của nhóm nầy còn có các cụ: Tiểu La Nguyễn Thành, Lý Tuệ, Đỗ Đăng Tuyển, Lê Ngọc Nghị, Lê Thị Đàn, Lê Oanh, Trần Trinh Linh (sui gia với cụ Võ Bá Hạp)… (2)

Điều đáng nói là trong thời gian nầy, cụ Nguyễn Sinh Sắc (tức Huy) là người mà Việt Cộng tán dương là nhà cách mạng, yêu nước, v,v… lại ra làm quan với triều đình năm 1905 là năm đã có Phong Trào Duy Tân, Phong Trào Đông Du là những phong trào yêu nước. Cụ Sắc (tức Huy) không tham gia các phong trào nầy!

Đã không tham gia phong trào, ra làm quan, rồi lại say rượu đánh chết dân thì không rõ “lòng yêu nước” của cụ Nguyễn Sinh Sắc (Huy) nằm ở đâu mà Việt Cộng tán tụng ghê thế!

Ở phần trên, tôi có nói cụ Hồ Sĩ Tạo là người tài hoa nhưng ăn chơi, gian dâm với Cô Đèn đến có bầu, không cưới làm vợ, đem gả cho ông già Nguyễn Sinh Nhậm góa vợ. Các con của cụ Hồ Sĩ Tạo thì hầu hết là ăn chơi, cờ bạc, rượu chè… học hành chẳng ra gì! Cụ Hồ Sĩ Tạo hy vọng nơi đứa con rơi Nguyễn Sinh Sắc (Huy) nên đã gởi gắm Nguyễn Sinh Sắc cho các quan trong triều, trong đó có cụ Vũ Văn Giáp, Cao Xuân Dục, Ngô Đình Khả…

Đáp lại cái tình của ông cha ruột, cụ Nguyễn Sinh Sắc không đi theo các phong trào yêu nước thời đó, ít ra, thi đậu nhưng không ra làm quan như cụ Võ Bá Hạp, Ngô Đức Kế, v.v…  lại nhận một chức của triều đình và “say rượu đánh chết dân”. Có phải ông Sắc làm như thế cho đúng với “máu mủ dòng dõi của họ Hồ”. Vậy thì ông Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh mang máu mủ dòng dõi nào, cái gène nào mà làm ra cái án mạng thê thảm Nông Thị Xuân. Độc giả so sánh sẽ thấy rõ.

“Trại Bò” của cụ Vũ Văn Giáp có thể coi như cái ổ của giới sĩ phu “chống Tây”. Về sau, cụ Vũ Văn Giáp qua đời, Trại Bò giải tán, cụ Võ Bá Hạp dọn nhà về Bao Vinh, chỗ cuối “sông đào An Hòa”, nối tiếp với sông Hương, để gia đình buôn bán làm ăn. Cụ Võ Bá Hạp vẫn không chịu ra làm quan với triều đình, làm tay sai cho Tây. Tinh thần đó vẫn được tiếp nối, nhất là sau khi cụ Phan Bội Châu bị giam lỏng ở Bến Ngự. Mối quan hệ bạn bè cũ, đồng chí cũ giữa cụ Phan Bội Châu, cụ Võ Bá Hạp, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế bí mật tiếp nối.

Sau biến cố chính phủ trẻ của ông Bảo Đại bị giải tán, ông Ngô Đình Diệm từ chức, với hai cái “hào quang”: Con trai cụ Ngô Đình Khả, “đày vua không Kh” và hành vi “từ quan”, ông Ngô Đình Diệm quan hệ với cụ Võ Bá Hạp, với con của cụ Võ Bá Hạp là cụ Võ Như Nguyện, và một số người có tinh thần “chống Tây”, các công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan Khố xanh, Khố đỏ, tạo cho ông Diệm một vây cánh ở Huế trước khi ông Diệm “chấp chánh”.

Cũng qua quan hệ nầy, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, linh hồn phong trào Đông Du ở Nhựt, chọn ông Ngô Đình Diệm làm đại diện cho Kỳ Ngoại Hầu ở Việt Nam. Vì vậy, khi Nhựt đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, người ta những tưởng ông Ngô Đình Diệm sẽ lên làm thủ tướng, nhưng cuối cùng Nhựt đã chọn ông Trần Trọng Kim. Đó là việc khác, xin khỏi bàn ở đây.

Sự việc thi đậu ra làm quan hay không làm quan, “theo Tây” hay “không theo Tây” là một vấn đề diễn tiến khá phức tạp, nhiều khi hai mặt, khó nhận rõ, cũng tùy hoàn cảnh và cách suy nghĩ của mỗi người. Tuy nhiên, việc ông Ngô Đình Diệm từ chức thượng thư, quan hệ với hai cha con cụ Võ Bá Hạp, và qua đó, quan hệ với cụ Phan đang bị giam lỏng ở Bến Ngự là điều khá rõ.

Thật ra, “đảng cụ Ngô” chỉ là một cách nói. Lúc đó ông Ngô Đình Diệm không có đảng phái gì cả, mà chỉ là một nhóm nhỏ người ủng hộ ông ta mà thôi, không như đảng Cần Lao sau nầy của ông Ngô Đình Nhu. Người ủng hộ ông Diệm chỉ là một số ít, có thể nói là rất ít. Khi ông Ngô Đình Diệm về Huế thì những người nầy đến “hầu cụ” – theo cách nói của người xưa. Khi ông Ngô Đình Diệm ở ngoại quốc thì họ lui tới nhà “cậu Cẩn” để liên kết “thân hữu” hơn là hoạt động đảng phái chính trị, và qua ông Ngô Đình Cẩn họ biết thêm về những hoạt động của ông Ngô Đình Diệm ở ngoại quốc.

Hoạt động tích cực nhứt của nhóm nầy là tổ chức những cuộc biểu tình “hoan hô Ngô Thủ Tướng”, “Hoan hô Ngô Chí Sĩ” khi ông Ngô Đình Diệm về nước “chấp chánh” ngày 7 tháng 7 năm 1954, thường gọi là “ngày song thất”.

Nhóm nầy gồm có: Cụ Võ Như Nguyện, coi như người đứng đầu, Nguyễn Đôn Duyến, Ngô Đình Thản (bố vợ luật sư Lê Trọng Quát), Ngô Ganh, Thái Quang Hoàng, Lê Khương, Phùng Ngọc Trưng, Kỳ Quang Liêm, Đỗ Mậu, Nguyễn Vinh, Trần Hữu Điểu (3), Huỳnh Hữu Hiến (anh em cậu cô với thân phụ tôi).

Các vị nầy là những người đứng ra xây lăng cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự. Mỗi năm, đến ngày giỗ cụ Phan, ít ai thiếu mặt. Cụ Phan là linh hồn của họ, về “học Nho” cũng như “chống Tây”.

Có lần tôi lên lăng cụ Phan cùng với ông Huỳnh Hữu Hiến. Ông lên lăng cụ Phan để coi sóc hương khói, mồ mả, vườn tược… Còn tôi thì đi theo vì tò mò: Lên lăng cụ Phan, thích nhứt là xem “bia chó”. Chó chết mà cũng được dựng bia (4).

So sánh lòng trung thành giữa chó và người, để phê phán những người phản bội tổ quốc, đó chính là văn hóa của tổ tiên vậy.

2)- Xóm Đông Ba,

và xóm…Chợ Xép

Chợ Đông Hoa đem ra ngoài dại,

Cầu Tràng Tiền đúc lại xi-moong”

(Ca dao)

Năm Thìn là năm con Rồng. Rồng hút nước, rồng bay lộn lung tung tạo thành gió, bão, lụt… Mặc dù “Trời làm cơn lụt mỗi năm” nhưng hễ tới năm Thìn thì có bão, lụt lớn.

Trận bão năm Thìn 1904 thổi bay mất cầu Tràng Tiền. Hồi ấy cầu làm bằng gỗ. Sau trận bão, cầu Tràng Tiền đúc lại bằng xi măng (xi-moong – tiếng địa phương). Cầu Tràng Tiền không còn bị bay nữa, nhưng lại bị sập: lần thứ nhất là vào năm 1946, sập hai vài giữa. Lần thứ hai, tết Mậu Thân, năm 1968, cũng hai vài giữa. Cả hai lần, Việt Cộng là… “chính danh thủ phạm”. Họ giật sập cầu để…chạy khỏi Huế cho lẹ.

“Dại”, tiếng Huế, là khu đất hơi cao ở bên bờ sông. Nghĩa trong câu ca dao nầy là chỗ đất ở ngã ba sông Hương và sông Đào (còn gọi là sông Hàng Bè). Trước khi Tây đô hộ, chỗ ấy là “dại” lính của triều đình.

Sau khi Tây đô hộ rồi, lính tráng của triều đình… không cần nữa, – đã có lính Tây bảo vệ vua ta – nên “dại” nầy bỏ hoang. Cũng sau trận bão năm Thìn đó, chợ Đông Hoa – gọi trại là Đông Ba vì “kỵ húy” tên mẹ vua Thiệu Trị –  ở phía ngoài cửa Đông Ba (Hoa) dời ra chỗ “dại” lính cũ.

Sau khi ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng – mới thủ tướng thôi, chưa lên “ngôi” tổng thống, thế chỗ Quốc Trưởng Bảo Đại – thì cầu Tràng Tiền không còn là tên là cầu Nguyễn Hoàng nữa – tên do ông Thủ Hiến Phan Văn Giáo đặt ra năm 1953 -, và phố Ngã Giữa, cũng không còn là tên Gia Long. Phố nầy được đặt tên mới là Phan Bội Châu, lãnh tụ tinh thần của “Nhóm Cụ Ngô”, và phố song song với nó, chạy dọc theo sông đào, tên cũ là Hàng Bè, đổi thành tên đường Huỳnh Thúc Kháng vì một thời tòa soạn báo “Tiếng Dân” của cụ Huỳnh ở trên đường nầy.

Trung tâm thị tứ Huế có 2 phố lớn. Một, phố lớn hơn hết, đặt tên là Trần Hưng Đạo; phố lớn thứ hai, đặt tên là Phan Bội Châu.

Tuy cụ Phan Bội Châu là “lãnh tụ tinh thần” của “nhóm cụ Ngô”, nhưng có lẽ nhóm nầy thuộc lịch sử, biết cụ Phan chưa thể bằng Đức Thánh Trần, nên nhường thánh Trần đứng tên ở phố lớn nhứt, không dám để cụ Phan trên đức Thánh Trần, không dám để ngang nhau, nói chi tới gọi Đức Thánh Trần bằng “bác, tôi” như “nhà thơ” Hồ Chí Minh:

Bác tôi, tôi bác vốn anh hùng,

               Tôi bác cùng theo nghiệp kiếm cung.

               Bác đuổi quân Nguyên thanh kiếm bạc,

               Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.

               Bác đưa một nước qua nô lệ,

               Tôi dẫn năm châu đến đại đồng

               Bác có khôn thiêng cười một tiếng,

               Mừng tôi cách mạng đã thành công.

Những người biết lịch sử nước ta, có lẽ không ai không bật ra một tiếng tức giận, bất mãn khi đọc bài thơ nầy!

Vua thì phong ông Trần Quốc Tuấn là Vương: Hưng Đạo Đại Vương. Dân thì gọi kính cẩn bằng “Đức”: “Đức Trần Hưng Đạo”.  Hồ Chí Minh thì gọi bằng “bác”, xưng “tôi”. Sao mà Hồ Chí Minh hỗn láo thế???!!!

Cụ Võ Như Nguyện, có nhà ở Bao Vinh, nhưng trong mấy năm chiến tranh, dọn về ở trụ sở cũ của báo Tiếng Dân. Có phải cụ Võ Như Nguyện sợ, sau hai lần bị Việt Minh bắt.

Việt Minh ở các làng Thế Lại, Bầu La… phía dưới Bao Vinh, thường hay lẻn về ám sát các phần tử đảng phái Quốc gia, hoặc theo Tây. Mãi đến khoảng các năm 1956, 1957, cụ Võ Như Nguyện lại dọn về Bao Vinh. Tòa soạn báo Tiếng Dân được trả lại cho “Học trò trong Quảng ra… học”, trở thành trụ sở “Hội Đồng Châu Quảng Nam.”

Cụ Võ Như Nguyện là “đầu tầu” của “nhóm cụ Ngô”. Việc ấy dễ hiểu. Nói như kiểu Việt Cộng thì có “sợi chỉ xuyên suốt” từ nội tổ là cụ Vũ Văn Giáp, tới thân phụ là cụ Võ Bá Hạp, đồng chí rất thân cận với cụ Phan Bội Châu, trước khi cụ Phan lưu vong, cũng như sau nầy, khi cụ Phan bị giam lỏng ở Bến Ngự, cùng với các sĩ phu thi đỗ mà không ra làm quan, chỉ ưa “chống Tây” như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Tiểu La… qua Phong Trào Duy Tân, Phong Trào Đông Du, ông Ngô Đình Diệm là “đại diện của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để”, v.v…. Trong bao nhiêu năm ấy, những năm cuối thế kỷ thứ 19 và tiền bán thế kỷ 20, gia đình họ Vũ (sau đổi thành Võ), có  liên hệ chặt chẽ đến tình hình cách mạng ở Huế.

Cũng vì những biến chuyển lịch sử nầy, sau đời cha (cụ Võ Bá Hạp), tới đời con (cụ Võ Như Nguyện) bị Tây bắt bỏ tù, bị đi đày, nhiều lần, nhiều nơi cũng không có gì lạ. Tôi có biết, nhưng không nhớ hết những lần, những nơi hai cha con cụ Võ Bá Hạp bị tù, bị đày. Nhà tù nổi tiếng Lao Bão thời Tây, cảnh ông Tố Hữu viết trong thơ:

“Đèo cao vút vươn mình trong lau xám,

                 Đá uy nghiêm trầm mặc dưới trời tro.

                 Gió nói gì với rừng sâu u ám.

                 Đường sao run tê tái cả hồn thơ.”

có lẽ không xa lạ gì với hai cụ Võ Bá Hạp, Võ Như Nguyện.

Uy tín cụ Ngô ở Huế hồi đó cũng khá lớn. Ngày 23 tháng 10 năm 1955, cái gọi là “Trưng cầu dân ý truất phế Quốc trưởng Bảo Đại”, rất nhiều người háo hức, muốn phế bỏ ông vua “ham chơi” đi cho rồi, cho nên người dân không quan tâm lắm đến câu thiệu khi đi bầu: Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì (Phiếu màu xanh lá cây là phiếu ông Bảo Đại, bỏ giỏ rác; màu đỏ là phiếu ông Ngô Đình Diệm, bỏ vào phong bì, để bỏ vào thùng phiếu).

Ông chú họ tôi, một người từng theo cụ từ đầu thập niên 1940, nhăn mặt lại, vẻ khó chịu khi nghe tôi đọc câu thiệu nầy.

Thực ra, ngôi nhà cụ Võ Như Nguyện ở, không thuộc xóm Đông Ba. Nhà nầy trở mặt ra đường Hàng Bè cũ, quay lưng ra chợ Đông Hoa (Ba) cũ. Nôm na, mặt ngó ra cụ Huỳnh, lưng quay ra cụ Phan. Sau nầy, trên đường Phan Bội Châu xuất hiện Nhà Xuất Bản Anh Minh, do ông Hoàng Văn Thành (?) trông coi, chuyên xuất bản những sách của cụ Phan như “Tự Phán” (hồi ký) “Khổng Học Đăng” (sách nghiên cứu đạo Nho).

Phía trong cửa Đông Ba, đường Mai Thúc Loan, từ cửa vào tới “Ngã Tư Anh Danh” nay là ngã tư Mai Thúc Loan – Đinh Bộ Lĩnh, ai gọi đó là “xóm quan trường” hoặc gọi là “xóm chống Tây” đều được cả.

Trên quãng đường nầy, đầu xóm, – dãy trại, dãy “nhà thừa phái”  hay còn gọi là “dãy nhà công chức”, kể từ cửa Đông Ba vào thì có nhà ông (Đại Úy) Đỗ Mậu, nhà cụ huyện Ngô Khắc Trâm (kiến trúc sư), nhà vợ thứ hai cụ Võ Như Nguyện, nhà ông thi sĩ Đỗ Tấn, nhà bà Lê Bá Chương (chồng bà tập kết ngoài Bắc), tức bà Cẩm Tâm, người cùng dịch cuốn “Truyện Ngắn Quốc Tế” với ông Bửu Kế, nhà thân phụ ông bác sĩ Bùi xuân Uyên, nhà ông chú họ tôi là ông Huỳnh Hữu Hiến, nhà cụ Thị Ngô (còn gọi là cụ Hường Ngô – Trần Văn Ngô), người học trò niên khóa đầu tiên 1996-97 của trường Quốc Học, bà con với ông tướng Việt Cộng Đoàn Khuê (thật ra là họ Trần, Trần Bá Khuê), nhà cô Hoắc Hương, đối diện là nhà ông bà nội bác sĩ Việt Cộng Đặng Thùy Trâm, và kế ngã tư nói trên là nhà “Mệ Sen”, nói cho đúng tên là Công chúa Lương Linh, con gái ông vua bị đày: Thành Thái.

Nhà ông Việt Cộng Lê Đức Anh ở trong xóm Chợ Xép.

Mấy ông tôi kể ở trên, ngoại trừ cụ Thị Ngô, lớn tuổi hơn, còn như các ông kia tuổi tác hơn nhau không bao nhiêu, kẻ theo Việt Cộng, người theo Quốc Gia, là do tình cờ lịch sử, đều làm lớn, và có liên hệ ít nhiều đến lịch sử Việt Nam hồi bấy giờ.

Gần cửa Đông Ba nhứt, tại dãy trại, bên tay trái, từ cửa đi vào là nhà ông đại úy Đỗ Mậu. Đại úy là kể theo loon lá trước khi cụ Ngô về “chấp chánh”. Trước 1945, ông đóng loon đội lính Khố xanh. Ông theo “phò” cụ Ngô hồi đầu thập niên 1940, ông từng bị mật thám Tây bắt bỏ tù, sau cho ra khỏi lính. Ông là “đồng chí” theo cụ Ngô với ông chú họ tôi là ông Huỳnh Hữu Hiến nên hai ông thường lui tới chuyện trò với nhau chơi. Hai ông cùng giỏi chữ Nho. Ông Đỗ Mậu giỏi tử vi, còn ông chú tôi thì “hay chữ”. Tôi biết như vậy là vì khi ông Phan Văn Dật, thi sĩ, về dạy ở viện Hán Học Huế cùng với cụ Võ Như Nguyện, thỉnh thoảng ông Phan Văn Dật biểu sinh viên ra gặp ông chú tôi để học hỏi thêm. Người ta gọi ông “hay chữ” bởi vì ông thuộc làu tất cả các nghĩa chữ Nho, giải thích cho sinh viên rất cặn kẽ. Có người cũng gọi ông bằng thầy, như “thầy đồ Nho” ngày xưa vậy.

Nhìn chung, hầu hết những người theo cụ Ngô khi cụ chưa chấp chánh, không mấy ai còn “dính dấp” tới gia đình họ Ngô, sau khi ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống được mấy năm.

Lý do: “Hết chim bẻ ná, hết cá quăng nơm” nên họ tự động thối lui. Có thể họ còn cảm tình với cụ Ngô đấy, cũng không ngán “cậu Cẩn” bao nhiêu, dù gì thì “cậu” cũng là người biết nghe, ít nhiều thủy chung, nhưng với ông Nhu, đức cha thì người ta ngán lắm. Người ta sợ ông Nhu thủ đoạn, ghét ông ta khinh người. Họ biết ông Nhu không ưa họ. Còn với “đức cha” thì không mấy ai trong nhóm họ lui tới cả.

Võ Nguyên Giáp tên thiệt là Võ Giáp, đậu cử nhân luật, dạy sử ở trường Thăng Long Hà Nội, nhưng gốc gác, cũng là anh nhà quê.

Ngay Võ Giáp là cái tên quê. Giáp là một trong thập thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh…  Đó là cách đặt tên quê, “xưa rích” như ta thường thấy trong “Quốc Văn Giáo Khoa Thư”. Sau nầy làm lớn, ông Giáp thêm vào chữ Nguyên nghe cho kêu. Nguyên Giáp là giáp còn nguyên, chưa bị đâm thủng!

Thứ hai, anh học trò Võ Giáp cũng chẳng “can trường” gì đâu. Ông thi đậu vô trường Khải Định, lớp “xít-dèm” (sixième), năm đầu cấp 2, được hai năm thì bị đuổi học, bị Mật Thám Tây bắt bỏ tù vì biểu tình “chống Tây”. Sau đ ó, ông trở thành “con Tây” như lời tố cáo của Lê Đức Thọ, khiến “giấc mộng lớn” – mộng làm Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam – của Võ Nguyên Giáp “tan thành mây khói”. (5)

Võ Nguyên Giáp (đồng chí Văn) cùng Phạm Văn Đồng (đồng chí Tô) sang Tầu năm 1941, được Hồ Chí Minh cho đi Thiểm Tây để học quân sự. Đi nửa đường thì Hồ Chí Minh nghe tin Pháp đầu hàng Đức. Tưởng lầm thời cơ đã tới nên Hồ Chí Minh gọi hai ông nầy trở lui, về nước để cướp chính quyền. Về tới Việt Bắc, té ra chưa có hy vọng gì, Hồ Chí Minh bèn làm việc cho OSS (tiền thân CIA bây giờ), giúp người Mỹ tìm các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi ở miền Bắc. Ngược lại, OSS giúp vũ khí cho đám Hồ Chí Minh. Qua sự việc nầy, Võ Nguyên Giáp theo học một “khóa” Du Kích Chiến do một thiếu tá Mỹ, tên Smith, một người trong nhóm OSS dạy cho.

Nếu nói về học quân sự, ông Đỗ Mậu “chính qui” hơn, căn bản hơn. Trường lớp ông Đỗ Mậu học hành đàng hoàng hơn, chớ có học giữa rừng xanh như “tặc-dzăng” (tarzan) Võ Nguyên Giáp đâu.

Với lại, trong hàng tướng lãnh của Việt Cộng, thiếu gì người xuất thân “tệ” hơn Đỗ Mậu nhiều. Xin đơn cử:

Đại tướng Chu Văn Tấn (cùng Võ Nguyên Giáp là hai đại tướng đầu tiên của Việt Cộng), xuất thân là “Lính Dỏng”. Lính Dỏng, cũng như “Lính Lệ” ở ngoài Bắc, “Lính Khố Vàng” ở miền Trung, là lính canh gác dinh thự các quan, hầu trà rượu, bưng điếu tráp (đựng thuốc lá, cau trầu; các quan xưa cũng thường ăn trầu…), cầm cờ cầm phướn hay dắt ngựa… ở miền cao Bắc Việt thì có vẻ vang gì đâu!

Còn như gốc gác mấy ông tướng Việt Cộng khác, phần đông, so với ông Mậu, họ cũng thua xa. Ví dụ:

Phùng Chí Kiên, Trung Tướng, gốc là người làm công cho một chú ba Tầu chủ tiệm chạp phô, rồi theo Cộng Sản, lên làm tướng!!!

– Một Phùng khác nữa, là Phùng Thế Tài, một tay tha phương cầu thực, tới tận Vân Nam bên Tầu, nổi tiếng trong giới giang hồ, Hồ Chí Minh cho đi theo, gọi là bảo vệ, để phòng hờ, lỡ có bị bọn du côn Tầu hiếp đáp thì Hồ Chí Minh cũng có tay đệ tử là du côn có hạng để “dĩ độc trị độc”. Vậy rồi cũng lên tướng.

Ông đại tướng Lê Đức Anh, xuất thân là “cai”. Người Pháp có nói: “Một ông cai giỏi sẽ là một ông tướng tài”. Khổ nỗi ông “cai Anh”, mà “dân cạo mủ” thường gọi là “cai chột”, không phải là cai, đội của lính, mà “cặp rằn”, – cũng biến dạng từ chữ Caporal, thường dùng để chỉ “cai lục lộ”, “cai phu”, “cai cạo mủ” -. Chữ cai nầy nghe dữ dằn lắm. Thế rồi cũng nhờ cảnh máu đổ xương rơi của dân Miên ông ta lên tới Đại Tướng Việt Cộng!

Bên Nga, như Jukov, bên Tầu như Bành Đức Hoài, cũng vậy thôi, cùng là tướng cả. Nhờ chiến tranh mà đời “đi lên”. Đời thiếu gì các ông “tướng Quảng Lạc”!

Nói cho cùng, cụ Ngô và “nhóm cụ Ngô” đều là những người ít nhiều yêu nước cả đấy. Theo hầu, theo phò ủng hộ một người “chống Tây”, “từ quan” thì đều là yêu nước cả, như đã nói, chỉ ít nhiều mà thôi.

Thế tại sao ông Nhu chê ông Đỗ Mậu, không cho ông Mậu lên tướng? Không hẳn chỉ vì ông Nhu cho rằng ông Mậu gốc là “Đội Khố Xanh”.

Giữa ông Nhu và “cậu” có hai nhóm “ủng hộ” khác nhau. Chung quanh ông Nhu là những “trí thức”, từng biên tập cho báo Xã Hội của ông Nhu. Đó là Luật Sư Trần Trung Dung, Luật Sư Nguyễn Hữu Châu, ông Đỗ La Lam, ông Huỳnh Văn Lang. Họ là những “trí thức Công giáo”. Nói theo chữ nghĩa thông thường, tức là đạo Thiên Chúa La Mã, theo cách nhìn chung, đào tạo nên một số trí thức, trí thức là tầng lớp trên của xã hội, thuộc giai cấp thống trị. Dù không có một ông Quốc Trưởng (vua hay tổng thống) là con chiên của Chúa, thì ít ra họ cũng đào tạo được một tầng lớp cầm quyền, chung quanh “Quốc Trưởng” hay thủ tướng là “người của họ,”  cũng có “lợi” cho đạo Thiên Chúa La Mã nhiều lắm. Tuy có bằng cấp, nhưng các ông nầy, mặc áo thụng, cũng “vạt trước ngắn, vạt sau dài”.

Những người chung quanh “cậu” không có được bằng cấp cao như thế, cao lắm là các ông “tham” (ngạch tham sự, có bằng Tú Tài Tây hoặc ta, như ông “Tham Duyến”, tức Nguyễn Đôn Duyến, “Tham Luyện”, tức Hà Thúc Luyện, công chức trung cấp, thầy thông, thầy phán, như “Phán Cẩn” tên đầy đủ là Nguyễn Đình Cẩn, quê ở Quảng Trị, “Ông Thị” (Thị Độc), hoặc “Hạ Sĩ Quan Khố Đỏ, Khố Xanh). Ông Nhu đã coi thường “cậu” nên chẳng “kính trọng” gì những người chung quanh cậu. Hoàn cảnh ông Đỗ Mậu là nằm chung trong cái “môi trường” đó.

Có một lần, trong bữa ăn, ông chú tôi nói:

– “Tao theo cụ Ngô là vì “chống Tây”. Bây giờ biểu tao thờ ông chúa Giê Su, mắt xanh mũi lõ như Tây, tao đâu có chịu.”

Có phải “người ta” đặt vần đề mấy chữ Đ (6) với ông chú tôi chăng? “Theo Đạo” hay “Theo Tây” với ông chú tôi, cũng “na ná như nhau”. Ổng “kỵ” lắm. Nghe nói ông từ chối một cái ghế “quận trưởng” nào đó.

Mặc dù hồi xưa ông có đi lính Khố Xanh, nhưng vì hai chữ “Trung-Hiếu” của Đạo Nho, ông đâu có “theo Tây” được. Cũng như một số binh lính hồi ấy (trước 1945), như ông “Quan Một” Khố Đỏ Phan Tử Lăng, “Quan Một” Thái Quang Hoàng, ông “Đội Khố Đỏ” Nguyễn Vinh, ông “Đội” Phùng Ngọc Trưng, ông “Đội” Đinh Sơn Thung, là những người theo cụ Ngô cả. Một lần, trong bữa cơm, ông nói với anh em chúng tôi, cụ Ngô, một trong những lần nói chuyện đầu tiên ở Quốc Hội, có tỏ lời khen ngợi những người “Lính Khố Xanh, Khố Đỏ” đã hết lòng với Đất Nước, với “cụ”, không sợ Mật Thám Tây bắt bỏ tù, như trường hợp ông Đỗ Mậu là một.

Sau khi ông Diệm làm tổng thống, ông chú họ tôi ít quan hệ với những người trong nhóm ông, những ai còn ở trong chính quyền như ông Đỗ Mậu, ông Phùng Ngọc Trưng. Chỉ còn hai người ông lui tới thăm viếng thường xuyên là cụ Võ Như Nguyện và ông nhạc sĩ Ngô Ganh. Cụ Võ Như Nguyện, như tôi nói là người đứng đầu nhóm, còn ông Ngô Ganh cũng là người trong nhóm như ông chú tôi vậy. Sau khi ông Ngô Ganh được bầu làm “Bí Thư Tỉnh Đảng bộ Cần Lao Thừa Thiên Huế”, dần dần ông chú tôi không còn đi họp đảng nữa. Tôi mất cơ hội đọc lén biên bản họp Cần Lao, ông thường để trên nóc tủ, như tôi đã từng đọc trước đó.

Ông quay trở về lo chuyện làng: Làng Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Đây là làng nội, cũng là làng ngoại của ông chú tôi. Làng nầy là làng nội tôi. Làng ngoại tôi là làng Nhan Biều, bên kia sông Thạch Hãn, ngang với thị xã Quảng Trị. Ông đứng ra quyên góp xây lại đình làng. Đình nầy lớn, chỉ sau đình làng La Chữ mà thôi, bị Việt Minh “tiêu thổ kháng chiến” năm 1946, phá hủy hoàn toàn.

Khi chuẩn bị đánh nhau với Pháp ở Huế, tất cả các văn khố, chiếu biểu của triều Nguyễn cất giữ ở “Tàng Thơ” trong thành nội Huế, được chuyển về để ở đình làng tôi. Thế rồi Việt Minh trong làng, cho rằng “sách Tàng Thơ” ấy là “tàn tích phong kiến”, cho dân làng tự do lấy về làm giấy vấn thuốc lá hút, hoặc nhóm lửa hết, không còn lại một “tờ giấy bổi” nào. Sự ngu đốt và cuồng tín của Cộng Sản làm hại cho văn học và lịch sử nước nhà biết bao nhiêu!

Ông chú tôi rất kính trọng những người lớn tuổi, chẳng hạn như với cụ Thị Ngô. Một năm, khi tôi còn là “học trò trường Khải Định”, sống tại nhà ông chú, thì cụ Thị Ngô đã 70 tuổi, cưới chị Bảy, mới 20 tuổi, làm vợ, khiến thiên hạ đồn đãi lung tung! Ai cũng cười, bàn tán, vậy mà ông chú tôi chẳng nói đến việc đó bao giờ. Câu chuyện nầy, tôi viết thành một truyện ngắn, nhan đề là “Cựu Học Sanh”, in trong cuốn Viết Về Huế, tập 1.

Cụ Thị Ngô tên thật là Trần Văn Ngô, quê ở Quảng Trị, hàng chú bác của Trần Bá Khuê. Trần Bá Khuê, tức Đoàn Khuê, Đại Tướng Việt Cộng, và ông em là Đoàn Mại, hoạt động nằm vùng ở miền Nam trước 1975. Hai anh em, hồi còn đi học, nhà ở gần nhà cụ Thị Ngô, tức là “Tiệm Cầm Đồ Mụ Thái”, đối diện Hiệu Tạp Hóa Nam An, mẹ cô giáo Võ Thị Trà Liên.

Bố Đoàn Khuê có hai vợ, vợ hai là mẹ Đoàn Khuê, Đoàn Mại. Bà vợ cả, sinh một con gái, tục gọi là bà Hường, chồng qua đời sau 1975. Bà Hường là chủ Tiệm Giặt Ủi ở đường Hùng Vương, đối diện chợ Thị Nghè, Saigon. Bà Hường có người con là Trung Úy Công Binh, chế dộ cũ. Anh nầy phục vụ ở Vùng 2 Chiến Thuật, trước 1975, đem một chiếc xe du lịch của một ông tướng nào ngoài đó về Saigon sửa. Năm 1975, sau 30 tháng Tư, tướng Đoàn Khuê, Sư Trưởng “Sư đoàn Sao Vàng”, đơn vị bắt ba ông tướng của VNCH (Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Ngọc Sang (không quân), và Trần văn Nhựt) ở Phan Rang. Ông Khuê về thăm bà chị ở Thị Nghè, đi bằng chiếc xe hơi, do ông “cháu” đã sửa, nay ông “cậu” dùng!

Tuy theo Cộng Sản, nhưng gia đình Đoàn Khuê không nghèo Chỉ dân làng Gia Đẳng của ông ta mới thật sự “nghèo rớt mồng tơi”. Quảng Trị là tỉnh nghèo nhứt miền Trung, làng Gia Đẳng của ông Đoàn Khuê là làng nghèo nhứt Quảng Trị. Cộng chung, làng Gia Đẳng có hai cái “nhứt”. Sau “Mùa Hè Đỏ Lửa”, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đóng từ Phá Tam Giang ra tới Gia Đẳng, lính tráng từng tới đây thì biết làng nầy nghèo như thế nào. Dân làng làm nghề đánh cá biển, không có ruộng vì đất làng toàn là cát trắng, trồng trọt gì được đâu! Đến mùa thu đông, biển động, không đi đánh cá được, dân đói lắm. Bố mẹ (mẹ lớn) của Đoàn Khuê làm nghề “đầu nậu”, cho vay khi dân đang đói vì mùa mưa bão. Đến khi “Gió mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải” qua rồi, “ra biển” được, đánh được cá tôm thì đem về giao cho “đầu nậu” mà trả nợ vay. “Đầu nậu” gom lại đem về tỉnh bán lấy lời. Thành ra dân làng Gia Đẳng bị bố mẹ Đoàn Khuê bóc lột tới hai lần: Một lần vay; vay thì lời cao. Một lần bán; bán thì bán rẻ. Do đó, anh em Đoàn Khuê mới có nhà ở Huế, học hành ở Huế.

Thời Ngô Đình Diệm, anh Nguyễn Văn Cương, (bạn tù cải tạo của tôi ở Trảng Lớn), Cán Sự Nông Lâm Súc, Trưởng Ty Ngư Nghiệp Quảng Trị nói với tôi rằng Ty của anh, nhờ có “Viện Trợ Mỹ” nên làm nhiệm vụ phát không lưới, lưỡi câu cho đồng bào, giúp dân chài đóng ghe nhỏ để đi biển đánh cá. Bố mẹ “ông cách mạng Đoàn Khuê” thì bóc lột dân chài. “Đế Quốc Mỹ” thì trợ giúp dân chài! Kể cũng “ngộ”!

Trước chiến tranh Pháp Việt (1946-54), mẹ đẻ (vợ hai của bố) Đoàn Khuê vô Huế sinh sống, lại tiếp tục bóc lột dân nghèo bằng một phương cách khác: Mở tiệm cầm đồ. Đó là tiệm cầm đồ “Mụ Thái” (nói theo cách Huế) dối diện với tiệm tạp hóa Nam An trên đường cửa Đông Ba (Mai Thúc Loan), như tôi vừa nói ở trên.

Có ai nói nghề cầm đồ là không bất nhân?

Lê Duẫn là người rất cục bộ. Khi có quyền, – ngoại trừ vài người coi thường ông ta như Trần Công Khanh, – Trần Công Khanh,quê ở làng Huỳnh Công, Vĩnh Linh, Quảng Trị, người đầu tiên giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Trung Bộ (lúc ấy chưa có danh  xưng “Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến”), đảng viên Cộng Sản, nhà giàu có, coi thường Lê Duẫn “i-tờ-rít” (ít học) – ngoài ra, những ai thuộc dân Quảng Trị, dân Huế – Thừa Thiên hay Quảng Nam,  đều được Lê Duẫn cất nhắc để làm vây cánh như Đặng Lang, Đặng Thí, quê làng An Tiêm, Triệu Phong, Quảng Trị; Lê Trọng Tấn, người làng Phước Tích, “làng đôộc độôc” – làm đồ gốm -, ở sông Ô Lâu, tỉnh Thừa Thiên, Trần Hữu Dực, người làng Nhan Biều, Quảng Trị, và Đoàn Khuê, nên Đoàn Khuê, người làng Gia Đẳng, mới lên loon mau vậy. Dân các tỉnh kế cận cũng đông, không ít người được Lê Duẫn cho làm vây cánh. (Xem “Phán Duận là ai?” cùng tác giả).

Cũng vì lý do đó mà Lê Đức Anh lên rất nhanh. Khi Saigon sụp đổ năm 1975, Lê Đức Anh mới mang lon đại tá, Tư Lệnh Quân Khu 9, Miền Tây, “lên nhanh như gió”, nhứt là sau 1979, năm Việt Cộng xâm lăng Kampuchia.

Lê Đức Anh, trước và sau 1945, có thân nhân cư ngụ ở phía trong chợ Xép một chút, trên đường Ngô Đức Kế, (xưa gọi là đường  Chợ Xép). Một người chú (hay bác) làm rể bên phía nhà ông thị Ngô, người tôi đã nói ở đoạn trước. Lê Đức Anh vốn dòng dõi Đoàn Trưng, Đoàn Trực.

Về Đoàn Trưng, Đoàn Trực là hai người đứng đầu trong vụ “Giặc Chày Vôi”, sử chép:

5.- Sự phản nghịch ở Kinh Thành

Việc ngoài bắc mới hơi nguôi nguôi, thì Kinh đô lại có việc làm cho náo động lòng người.

Nguyên vua Dực Tông là con thứ mà được nối ngôi, là vì người anh ngài là Hồng Bảo, phóng đãng, không chịu học hành cho nên không được lập. Ông ấy lấy điều đó làm tức giận, bèn mưu đ với một nước ngoại quốc để tranh ngôi vua. Chẳng may sự lộ ra, ông ấy phải bỏ ngục, rồi uống thuốc độc mà chết. Còn con ông ấy thì được tha mà phải đổi tên là Đinh Đạo.

Đến năm Bính Dần, là năm Tự Đức thứ 19, nhà vua đang xây Vạn Niên Cơ tức là Khiêm Lăng bây giờ, quân lính làm lụng khổ sở, có nhiều người oán giận. Bấy giờ ở kinh thành có Đoàn Trưng cùng với em là Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tư Trực và bọn Truơng Trọng Hòa, Phạm Lương, kết làm “Sơn Đông thi tửu hội”, để mưu việc lập Đinh Đạo lên làm vua. Bọn tên Trưng mới chiêu dụ những lính làm ở Vạn Niên Cơ và cùng với quan hữu quân Tôn Thất Cúc làm nội ứng định ngày khởi sự.

Đến hôm mồng 8 tháng 8, bọn tên Trưng đem quân vào cửa tả dịch, chực xông vào giết vua Dực Tông. May nhờ có quan chưởng vệ Hồ Oai, đóng cửa điện lại, hô quân bắt được tên Trưng, tên Trực và cả bọn đồng đảng.

Đinh Đạo phải tội giảo. Tôn Thất Cúc thì tự vẫn chết, còn các quan có trách nhiệm đều phải chiếu tội nặng nhẹ, hoặc phải cách.”

(Việt Nam Sử Lược – tập 2. trang 272)

Ở Huế, người ta biết, sau trận “giặc”, con cháu Đoàn Trung, Đoàn Trực sợ liên lụy, bèn bỏ Huế chạy trốn. Một số về Truồi, phía nam Huế; một số ra Hương Cần, phía bắc Huế, đổi thành họ Lê. Con cháu họ Lê ở Hương Cần, có ông Lê Văn Khương, Đại Tá Không Quân VNCH, ông Lê Văn Lâm, tác giả sách lý hóa đệ nhị, ông Lê Văn Bang, Thiếu Tá Không Quân VNCH…

Họ Lê ở Truồi, chính là ở làng Bàn Môn, huyện Phú Lộc (sau nầy đổi thành Vinh Lộc), tỉnh Thừa Thiên, là họ của Lê Đức Anh.

Anh em Lê Đức Anh học hành không tới nơi. Người anh, cũng học hành ít, mở tiệm đại bài gạo ở đường Hàng Bè, Huế. Chủ tiệm nầy là bố Hải Quân Trung Tá Lê Kim Lợi của VNCH. Có lẽ nhờ là cháu Lê Đức Anh, ông trung tá nầy đi “tù cải tạo” chỉ 4 năm rưỡi thì được tha ra, qua Mỹ theo “diện” HO.

Lê Đức Anh, mới đậu bằng “Sơ học yếu lược” (lớp ba), rời quê vào Nam tha hương cầu thực, làm “cặp rằn” ở đồn điền cao su Phú Riềng. Việc nầy nhiều người biết, xin khỏi bàn thêm. Một người cháu Lê Đức Anh là ông Lê Ngân, Sĩ Quan Cảnh Sát, thời Ngô Đình Diệm là nhà bỉnh bút báo Công Dân (ở Huế) của ông Lê Trọng Quát. Ông Ngân là đảng viên đảng Đại Việt, nên “tù cải tạo” cũng hơi lâu, trước ở Bắc Cali, mới qua đời.

Ngôi nhà ngay ngã tư đường Âm Hồn (Nguyễn Hiệu) và đường cửa Đông Ba (Mai Thúc Loan), bọn học trò chúng tôi thường gọi là “ngôi nhà ma”; không ma thì cũng bệnh hoạn, thỉnh thoảng có bán cơm chay.

Một thằng bé, tên Quỳnh, hơi “mát giây” – gọi là bé nhưng có lẽ cũng lớn tuổi, thường mặc bộ áo lá trắng rất sạch, miệng thường sùi bọt mép, nói ngọng, đi lang thang dọc bờ tường nhà nó – nhà nầy có xây tường gạch, cổng có cửa, ít khi đóng, phía trong là bình phong bằng gạch,  kiểu nhà quan ngày xưa, – Thằng bé rất hiền lành, đi lang thang một mình, chơi một mình, không ai chơi với nó vì nó bị bệnh điên. Nó không đi học được. Điên nhưng nó không phá ai, không nói lảm nhảm. Các nhà quan to ở Huế, thường có một đứa con bất thường như vậy. Người ta cho là “âm báo”, vì khi làm quan, có làm điều chi thất đức. Đó là cái quả của sự thất đức đó. Câu chuyện nầy cũng tương tự như chuyện “Ném Bút Chì” trong “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân vậy.

Tôi có cảm tình với thằng bé hiền lành “thui thủi một mình” đó. Bên cạnh nhà nầy có cô NTQH, du học ở Mỹ về, là người đàn bà thứ hai ở Huế, lái xe hơi đi làm, đi chơi, sau “Mệ Sen” là người thứ nhứt. Xe QH mới hơn, Renault 10. Gốc là cô giáo, du học Mỹ về làm sở Mỹ, em trai cô, NTC, chưa học hết cử nhân luật mà làm Giám Đốc ở Bộ Thông tin. Người ta cho rằng đám nầy có “dính dáng tới Xịa” hết.

Nhà của thằng bé nói trên chính là nhà cô Tịnh Nhơn. Khi còn trẻ, trước năm 1950, cô từng “làm Việt Minh”, rồi bỏ Việt Minh, không theo nữa. Một lần Việt Minh giao truyền đơn cho cô, cô không làm, quyết định từ bỏ và thả tài liệu ấy xuống cái giếng trong sân nhà cô, – nhà thằng bé Quỳnh – thay vì đem giao cho người khác. Kể chuyện bỏ tài liệu xuống giếng mà cô khóc, bỏ Việt Minh mà cô khóc, bởi vì thời gian ấy, các năm 1948, 49, bỏ Việt Minh có nghĩa là từ bỏ con đường kháng chiến, giành độc lập, và “theo Tây”.

Hai vợ chồng Văn Đình Hy và Tịnh Nhơn, vì không có chữ Đ (6), lại là “Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử” nên cái ghế “hiệu trưởng Đồng Khánh” của người vợ và “Hiệu Đoàn Trưởng Quốc Học” của người chồng ngồi không được lâu, nhất là sau khi cái “lưng dựa” của họ, ông Nguyễn Văn Hai, thôi chức Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục, du học bên Tây.

Tên đầy đủ của cô Tịnh Nhơn là Đặng Tống Tịnh Nhơn. Tống là họ mẹ, là hậu duệ bà “Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu” (bà Tống Thị Lan, con của Tống Phước Khuông).

Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu là mẹ ông Hoàng Tử Cảnh, người được ông cố đạo Bá-Đa-Lộc đưa qua Pháp để xin cầu viện. Hoàng-Tử Cảnh bị bệnh đậu mùa chết sớm. Bà mẹ ông cũng chết sớm. Tuy nhiên, sau khi lên ngôi, vua Gia Long phong bà làm Cao Hoàng Hậu, miếu hiệu Thừa Thiên. Ngôi mộ của bà nằm kế cạnh mộ vua Gia Long. Ai từng đi chơi “Thiên Thọ Lăng” (lăng Gia Long), sẽ thấy cảnh mộ ấy, khá đẹp và hùng vĩ.

Cô Đặng Tống Tịnh Nhơn, sinh năm 1931, mồ côi cha mẹ rất sớm. Thân phụ cô là ông Đặng Ngọc Chương, công chức thời Tây, chết vì bệnh lao. Ông Chương là anh em chú bác với ông Đặng Ngọc Thụ, là nội tổ bác sĩ Việt Cộng Đặng Thùy Trâm, chết ở Quảng Ngãi năm 1970. Bác sĩ Việt Cộng Đặng Thùy Trâm là tác giả “Hồi Ký Đặng Thùy Trâm.”

Ngôi nhà nầy “kinh” lắm. Kẻ bệnh điên, người chết vì bệnh lao, kẻ bỏ đi mất biệt. Bác sĩ Việt Cộng Đặng Thùy Trâm cũng sinh đẻ ở nhà nầy, năm 1942, sau cùng mẹ, bà Doãn Ngọc Trâm ra Thanh Hóa (1944), đi theo bố là Đặng Ngọc Khuê, làm nghề dạy học.

Không hiểu căn nhà ma nầy bây giờ như thế nào, có trả lại cho người họ Đặng, bố của Đặng Thùy Trâm từ ngoài Bắc trở về sau 1975, cho đúng với câu tục ngữ thời đại mới: “Người Nam nhận họ, người Bắc nhận hàng.”

Còn một nhân vật đặc biệt nữa, người cuối cùng xóm Đông Ba, một nhân vật “ủng hộ Ngô chí sĩ” nhưng “không theo Ngô Tổng thống”, ấy là cách nói của một số người ở xóm nầy.

Ông cụ nầy gốc là công chức, không “theo Tây”, cũng không theo Việt Minh. Năm 1948,  sau khi Việt Minh bỏ mặc dân, chạy trốn lên rừng, Tây chiếm lại Huế và các tỉnh Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình, không có chính quyền dân sự Việt Nam. Tây đi lùng, mặc sức đốt nhà, hiếp dâm, cướp của… Cụ Trần Văn Lý, quê ở làng Hưng Nhơn, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nguyên là tuần vũ, quan lại triều đình Huế, thấy tình hình như vậy, bèn quan hệ với quân đội Pháp, đứng ra thành lập “Hội Đồng Chấp Chánh Lâm Thời” tháng 4 năm 1947, để can thiệp, bảo vệ dân. Đó là Chính quyền Quốc gia “nguyên thủy”, trước khi “Quốc Trưởng Hồi Loan” năm 1949. Bây giờ các nhân sĩ, người yêu nước, không theo Việt Minh, cùng tham gia Hội Đồng với cụ Trần Văn Lý để giúp dân. Ông cụ nói trên ở xóm Đông Ba của tôi, cùng tham gia với cụ Trần Văn Lý. Đó là cụ Lê Khương, từng là “đồng chí” với cụ Võ Như Nguyện.

Ban đầu nhà cụ Lê Khương ở khu An Cựu, trong khuôn viên Chùa Bà Sư, đối diện bên kia sông An Cựu là “Cung An Định”. Cụ Khương tham gia Hội Đồng Chấp Chính Lâm Thời với cụ Trần Văn Lý. Được tin Việt Minh về tìm bắt, cụ Lê Khương bỏ nhà trốn đi một thời gian. Bọn Việt Minh bèn lén cho từng đứa con trai, lúc đó còn quá nhỏ, ăn kẹo có thuốc độc; để cụ Khương phải nóng lòng lộ diện. Ba người con trai của cụ, lần lượt bị Việt Minh giết cả.

Sau khi “Quốc Trưởng Hồi Loan”, Quân Đội Quốc Gia được thành lập, trước hết là lính Bảo Vệ, sau đổi tên là “Việt Binh Đoàn Trung Việt” cho miền Trung. Do nhu cầu quân sự hồi đó, cụ Lê Khương được đồng hóa cấp bậc đại úy, làm việc ở Bộ Chỉ Huy, cùng với Chỉ Huy Trưởng là Đại Úy Nguyễn Ngọc Lễ.

Năm 1954, “Chí Sĩ Ngô Đình Diệm” về chấp chánh. Năm sau, 1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bị phe thân Pháp trong Quân Đội và Chính Quyền miền Nam chống đối dữ dội. Bấy giờ Quân Đội Quốc Gia chia làm hai phe, một phe theo tướng Nguyễn Văn Hinh, thân Pháp, một phe theo Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, chống Pháp, chống phe tướng Hinh.

Trong phe chống tướng Hinh, nhiều người tỏ thái độ công khai, như Trung Tá (cấp bậc lúc đó) Thái Quang Hoàng kéo quân lên chiến khu Sầu Đâu ở Phan Rang. Phe theo tướng Hinh thì tìm cách bắt cóc và thủ tiêu những ai ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Công cuộc chống Pháp giành độc lập đã diễn ra hàng trăm năm nay. Bây giờ là cơ hội quí báu. Những người từng có ý thức về tinh thần độc lập đều biết như vậy, huống chi những ngươì từng ủng hộ “Chí Sĩ Ngô Đình Diệm” sau khi ông “treo ấn từ quan”.

Vì vậy, cụ Lê Khương bị phe tướng Hinh bắt đưa lên tầu lửa giải về Saigon, có thể bị thủ tiêu. Trung Tá Lê Khương biết số mạng mình đang nguy ngập – bấy giờ ông đeo loon trung tá – nhân khi bọn áp giải sơ hở, cụ Lê Khương nhảy tầu trốn thoát. Trong một lần ăn cơm, ông chú họ tôi kể lại chuyện cụ Lê Khương. Ông nói: “Ông ấy mà không trốn được, chắc bị tụi nó giết rồi.”

Mặc dù là người từng “ủng hộ chí sĩ” khi ông Diệm còn bôn ba hải ngoại, vì ủng hộ cụ mà gặp hoàn cảnh thập tử nhứt sinh, cụ Lê Khương vẫn không phải là người được ưu đãi dưới chế độ mới vì ông không biết… đi giựt lùi. Từ đó cho đến khi giải ngũ năm 1963 vì “tội phe Ngô Đình Diệm”, ông chỉ thăng có một cấp, lên đại tá.

Trong hàng con cháu vẫn thường kể câu chuyện khi ông cụ về Cần Thơ làm phó cho Tướng Huỳnh Văn Cao.

Tướng Cao “nổi tiếng” đánh giặc giỏi, không phải vì xuất thân từ một trường quân sự nổi tiếng nào, không phải vì tài ba mà vì một câu nói bất hủ khi ông “trình diện” với ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu: “Dạ thưa Ông Cố Vấn, con nằm mộng thấy Đức Mẹ hiện ra chỉ đường cho con đem quân đánh Việt Cộng.”

Xưng con!? “Dạ thưa Ông Cố Vấn, “Con”. Nghe có trái tai lắm không?

Ông Ngô Đình Nhu sinh năm 1911. Ông Huỳnh Văn Cao sinh năm 1927, kém 16 tuổi. Vậy thì chắc ông Nhu “chơi bời” sớm lắm, lúc 15 hay 16 tuổi mới có con bằng tuổi ông Cao.

Khi cụ Lê Khương đã mang loon đại úy rồi thì ông Cao đang học lính “ắc-ê” ở trường Đập Đá, sau nầy gọi một cách văn hoa là “Trường Võ Bị Địa Phương Trung Việt”. Vậy mà nhờ “nằm mộng thấy đức Mẹ…” nên ông Cao đã lên tướng rồi, mà ông cụ Lê Khương còn mang “lon” đại tá. Khi ông cụ đáo nhậm chức Tư Lệnh phó Quân khu IV, dưới quyền ông Cao, văn phòng ông Cao ở trên lầu, văn phòng ông phó ở dưới lầu, ngay dưới văn phòng ông tướng.

Cụ Lê Khương, sau nầy, kể với các con:

– “Thằng đó mà ngôi trên đầu tao à?”

Thế rồi ông biểu lính chuyển văn phòng của ông qua phía bên kia, cũng ở dưới lầu, nhưng phía trên là thư viện. Ông cụ chỉ chịu ngồi dưới sách vở.

Không ai chê hành động đó của cụ Lê Khương đâu!

Gia đình ông Cao ở Huế có tiếng tăm gì đâu để người ta nể nang. Anh ông Cao là một thầy “trợ giáo”. Trợ giáo là mới đậu tiểu học, xin đi dạy, cho học sinh các lớp 1, 2 và 3. Không nghe người ta nói ông Cao học cao, học giỏi, chỉ là “thời thế tạo anh hùng”. Anh hùng như ông Cao là chịu trách nhiệm về trận Ấp Bắc đấy.

Vậy mà ông Cao cũng thoát khỏi trách nhiệm, không bị mất chức như ông Đại Tá Bùi Đình Đạm, khi đó làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7, dưới quyền ông Cao.

Cùng là người ủng hộ “cụ” cả đấy. Nhưng khi “cụ Ngô” qua đời, cụ Lê Khương bị gán cho là “người của cụ Ngô” nên cái gọi là  “Hội Đồng Tướng Lãnh” buộc giải ngũ. Còn ông Cao, nhờ thế lực “nằm mộng thấy Đức Mẹ…” nên đã không bị buộc giải ngũ, lại còn lên một sao. Mãi ba năm sau, 1966, thoát chết vì mấy viên đạn súng Colt của Thiếu Úy Nguyễn Đại Thức, ông Cao hoảng hồn, thấy còn đường binh nghiệp của ông không khá được nữa, ông không còn “nằm mộng thấy” gì nữa, nên mới giải ngũ, qua làm thượng nghị sĩ cho đến ngày 30 tháng tư/ 1975.

“Mệ Sen” nhà ở ngay ngã tư Anh Danh, có lẽ là người không muốn dính dấp gì tới lịch sử. Điều đó dễ hiểu. Vì lịch sử mà thân phụ của “mệ”, tức là “vua cha” Thành Thái, và anh của “mệ”, gọi là “vua anh” Duy Tân, đều bị đi đày. “Mệ” là con vua Thành Thái, là em vua Duy Tân. Vua Duy Tân lên ngôi năm 8 tuổi, năm 1908, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vân năm 1916, năm ấy vua mới 16 tuổi. “Mệ Sen” trẻ hơn, năm tôi mới là sinh viênnăm thứ nhứt Đại Học Huế, 1958, mệ Sen khoảng 40 tuổi. Có thể “Mệ Sen” lớn hơn số tuổi đó, vì bao giờ trông “mệ” cũng trẻ cả.

“Mệ Sen” nổi tiếng ở Huế vì một vài điều. Nếu người ta có nhắc tới câu “Quốc sắc triêu hàm tửu, Thiên hương dạ nhiễm y,” gọi tắt là “Quốc Sắc Thiên Hương”, hay nôm na là “Sắc Nước Hương Trời”, hay “nghiêng nước nghiêng thành”, thì “Mệ Sen” chính là con người ấy. Người ta đồn “mệ” có mái tóc dài lắm, mỗi khi chải tóc, mệ phải đứng trên giường để tóc khỏi chấm đất. Tóc dài, móng tay dài là nét đài các, sang trọng, giàu có của người xưa, của các hoàng tử, công chúa, của giới vua quan. “Mệ Sen” nói tiếng Pháp như “đầm”, từng làm Thư Ký riêng cho Khâm Sứ Trung Kỳ. Thư ký riêng hay tên Khâm Sứ muốn “chiêm ngưỡng người đẹp”.

Tôi từng gặp “Mệ Sen” nhiều lần. Dễ thôi!

Sau khi cầm quyền ít lâu, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho sửa sang Đại Nội, chùa chiền, lăng tẩm. Ông cho mở “Phòng Du Lịch Huế” để hướng dẫn du khách thăm thú các nơi. “Mệ Sen” lúc ấy là Trưởng Phòng Du Lịch Huế. Bọn học trò chúng tôi, nếu muốn biết lịch sử các lăng tẩm, “tên chữ” các lăng tẩm hay đường lên lăng thì tới “Phòng Du Lịch Huế” xin các bản tóm tắt, bản đồ.

“Mệ Sen” ngồi ngay phòng trước, vui cười khi chúng tôi đến xin các tài liệu ấy. Chúng tôi chỉ biết chừng ấy, còn các phái đoàn xa đến, đi thăm Đại Nội hay thăm lăng, “Mệ Sen” làm hướng dẫn viên hay ai khác thì tôi không biết. Và… “hình như” Phòng Du Lịch Huế chỉ có một mình “Mệ Sen”, “Mệ” kiêm luôn tất cả các chức.

Thắng cảnh Huế, hồi đó là “cảnh du lịch”, không phải như bây giờ, trở thành mồi câu khách, buôn bán.

Việc làm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, như hồi ấy, chỉ là giới thiệu cho du khách, biết “Văn Hóa của người Việt Nam”, đúng với ý nghĩa đích thực của nó, chớ không đem ra buôn bán, vì nếu làm việc ấy với tính thương mại mà giao cho “Mệ Sen” làm trưởng phòng thì chỉ từ lỗ lã đến sạt nghiệp. Cái ngai vàng của vua Thành Thái, vua Duy Tân, “Mệ Sen” chẳng quan tâm, cái danh “công chúa” con vua Thành Thái, “Mệ Sen” cũng chẳng nghĩ tới thì “Phòng Du Lịch Huế”, chỉ là nơi để “Mệ” làm việc cho vui, hơn là tính toán lời lỗ.

Dĩ nhiên, chiến tranh lan tràn, mọi thứ dẹp bỏ. Những năm chiến tranh đó, tôi không còn thấy một người đàn bà lúc nào cũng trẻ đẹp, sang trọng, lái xe Simca chạy vòng quanh thành phố Huế. Súng đạn làm thay đổi mọi sự rồi chăng?

Có ông bác sĩ người Nam Bộ, đổi về Huế, mê mẩn vì các giai nhân đất thần kinh, được “Mệ Sen” gả cho ông bác sĩ một cô cháu gái, đẹp không kém gì “Mệ”, sang không kém gì “Mệ”, và cũng hay cười không khác gì “Mệ”. “Giai nhân” ấy là con vua Duy Tân, học sau tôi mấy lớp, ở cùng “xóm Đông Ba”. Nghe nói chuyện gia đình ông bác sĩ rồi cũng tan vỡ. Dĩ nhiên, với hai cô cháu như thế, lời đồn đãi không thể ít được, nhưng đó là đời riêng, nên tuy có nghe nói nhiều, rất nhiều là đằng khác, nhưng tôi chẳng chép vào đây!

Quá ngã tư Anh Danh, có một nhân vật, nói cho đúng là một ông nhạc sĩ đặc biệt, từng “theo cụ Ngô” khi cụ còn bôn ba hải ngoại. Ông nhạc sĩ thường đạp xe đạp từ trường (tiểu học) nầy qua trường (tiểu học) khác, với cây đàn ghi-ta vác trên vai, tập cho bọn trẻ hát bài “Cái nhà là nhà của ta, công khó ông cha lập ra…” hay “Chuột cắp trứng”, “Ba chú gà con đi chơi với nhau…” Đó là ông nhạc sĩ Ngô Ganh.

Một lần Tuệ được ông chú tôi sai lên nhà ông Ngô Ganh, Tuệ rủ tôi đi theo. Tuệ dặn: “Nhà ông có nuôi hai con chó. Một con ông đặt tên là “Phách Tấu”, một con tên là “Nói Trạng”.

“Phách tấu”, “nói trạng” cũng giống nhau. Đậu Trạng Nguyên rồi thì khoe khoang, nói dốc dữ lắm. Khi khách tới, hai con chó xông ra sủa. Ông chủ gọi: “Phách Tấu”, “Nói Trạng” vô nhà!” Thế là hai con chó ngoắt đuôi vô nhà, khách cũng “nghẹn họng”, chẳng dám “nói trạng”, “nói phách” với chủ nhà.

Khi “Vụ Đài Phát Thanh” xảy ra đêm 8 tháng 5 năm 1963, ông  là “Bí Thư Tỉnh Ủy Thừa Thiên/ Huế”, dĩ nhiên là đảng Cần Lao, Quản Đốc Đài Phát Thanh Huế. Theo chương trình của đài phát thanh thông báo cho thính giả, buổi chiều hôm ấy, đài sẽ phát lại chương trình buổi “Lễ Phật Đản” tại chùa Từ Đàm lúc sáng.

Vậy nhưng đến giờ, đài không phát chương trình lễ như đã thông báo, chỉ có ca nhạc. Thế là đồng bào Huế, phần đông là Phật Tử đến đài xem thử, “coi thử” tại sao không phát lại buổi lễ như đã thông báo. Người ta lại bảo nhau, hồi sáng, Thượng Tọa (lúc ấy ông còn là thượng tọa) Trí Quang có phát biểu “gay gắt” về việc “cấm treo cờ Phật Giáo.”

Quả tình tôi không biết việc cấm treo cờ nầy, và khi chở em gái đi xem cảnh chùa vào ngày lễ, – tôi nói là đi xem chùa cho biết vì ngày lễ chùa thường trang hoàng đẹp đẽ, chớ tôi không đi lễ chùa bao giờ. Tôi ngang qua đài phát thanh, trời còn sáng, thấy đồng bào tụ tập đông. Tôi về nhà cất xe gắn máy, rồi tôi dẫn vợ và em gái ra đài phát thanh coi chơi. Nhà tôi cách đài phát thanh chưa tới 200 thước.

Lúc đó, ông Quản Đốc cho đồng bào biết ông không giải quyết được, “lệnh cấm” phát lại chương trình là do ở trên. Ông Tỉnh Trưởng sẽ xuống tận nơi giải quyết cho đồng bào. Khi ông Tỉnh Trưởng xuống tới nơi, thì ba phát súng lệnh nổ ra, tiếp theo là lựu đạn nổ, giết chết 7 em bé, đồng bào chạy tán loạn. Tôi cũng dắt vợ và em gái chạy về nhà.

Thế rồi ông nhạc sĩ bay chức Quản Đốc Đài Phát Thanh.

Gặp ông chú, – như tôi có trình bày – ông chú tôi là bạn “đồng chí đảng cụ Ngô” với ông Quản Đốc Đài Phát Thanh. Ông chú tôi nói: “Tội nghiệp” ông Ngô Ganh.”

Ông nhạc sĩ, Quản Đốc Đài Phát Thanh, Bí Thư Tỉnh Ủy Thừa Thiên/ Huế nói trên là ông Ngô Ganh. Tại sao ông chú tôi nói “tội nghiệp” cho ông Ngô Ganh? Tội nghiệp vì ông không biết “qui khứ lai từ” cho sớm như ông chú tôi và cụ Võ, để mang tiếng với đồng bào Huế là đồng bào quê hương ông? Tội nghiệp vì ông kẹt giữa “cậu Cẩn” với “đức cha”, hay ông bị kẹt giữa “đồng bào Huế” phần đông theo đạo Phật và “chính sách tôn giáo của anh em nhà Ngô” mà đứng đầu là ông Thục? Tất cả những cái kẹt đó là đáng “tội nghiệp” cho một con người ngay thẳng, chính trực, một ông nhạc sĩ hết lòng với bọn học trò như bọn chúng tôi.

Sự nghiệp ông chấm dứt từ đó. Từ bỏ cái chức quản đốc ấy, ông ra về. Ông có chi tiếc hận không? Và ông chết già, chết đói, cô đơn, trong cảnh bần cùng, sau khi “Nước nhà thống nhứt”, Việt Cộng treo cờ đỏ trên cột cờ Ngọ Môn.

Trại Bò không còn nữa. Xóm Đông Ba còn đó nhưng người thì kể mất, người bỏ xứ mà đi, cũng chẳng còn gì. Từ cửa Đông Ba, đầu xóm, tới ngã tư Anh Danh, cuối xóm, bao nhiêu vật đổi sao dời.

Người “tiêu diêu” sớm nhứt là cụ Thị Ngô, tiếp chân có ông Đỗ Mậu (xin lỗi, tôi chỉ gọi tên thôi! Chức chưởng loon lá mà làm chi nữa!). Ông chú họ của tôi, qua đời, thọ 92 tuổi. “Mệ Sen”, nhạc sĩ Ngô Ganh, cũng ra người thiên cổ. Ông cụ Lê Khương qui tiên, còn lại cái danh là một người nói thẳng, đứng thẳng. Ông Lê Đức Anh cũng đã “quén đoàn trường” từ Hà Nội dọn về Huế, sống cho hết những ngày tàn của một người nguyên là “cặp rằn” đồn điền cao su Phú Giềng. Ông Đoàn Khuê cũng bỏ lại loon lá cho đảng, không biết ông có trở lại làng cũ của ông, để thấy dân làng Gia Đẳng ngày xưa thì đói khổ mà bây giờ cũng nghèo mạt rệp. Xưa thì cha mẹ ông bóc lột dân làng, nay thì đảng của ông tiếp nối sự nghiệp cha mẹ ông đã làm!!!

Bà Lê Bá Chương, tức là dịch giả Cẩm Tâm, dọn nhà khỏi nơi nầy, sau khi lên chức Trưởng Phòng Học Vụ Viện Đại Học Huế.

Và còn bao nhiêu vị khác nữa, thế sự để ngoài tai, một đời làm công chức, an nhàn vô sự, như cụ Tôn Thất Oanh, từng khoe với tôi “Hai bàn tay tôi lúc nào cũng sạch sẽ”. Ý nói là ông không nhận hối lộ của ai. Các cụ đó, ở Xóm Đông Ba của tôi cũng không thiếu đâu! Nào là cụ Huyện Trâm, – tên thật là Ngô Khắc Trâm kiến trúc sư, bỏ hết chức quyền làm thầy giáo cho nhẹ tấm thân. Cụ Nghè Văn, tên thật là Hoàng Như Văn, từng làm chánh án mà tâm hồn cụ bao giờ cũng nhẹ ký như tấm thân cụ vậy. Cụ Trần Đinh, có thể là Trần Tiễn Đinh, sau biến cố cụ Trần Tiễn Thành bị hại nên con cháu bỏ đi chữ lót cho được bình an. Cụ dạy học, viết sách giáo khoa lịch sử, nung nấu lòng yêu nước cho đám học trò. Rành rọt về sử lại lâm cảnh gia biến, nên cụ không dính líu tới bất cứ một biến chuyển lịch sử nào hồi ấy. Việt Minh cướp chính quyền, cụ đang dạy học. “Quốc Trưởng Hồi Loan”, cụ cũng dạy học, “Ngô tổng thống chấp chánh”, cụ lên chức Trưởng Phòng Học Vụ Viện Đại Học Huế vì Viện Đại Học cần cụ…

Quanh những nhân vật xóm nầy, còn biết bao nhiêu người khác, những người theo cụ Ngô chống Pháp như ông quan một lính Khố đỏ Phan Tử Lăng, ông đội Khố Đỏ Nguyễn Vinh, ông Đinh Sơn Thung, ông Phùng Ngọc Trưng, ông Đại biểu Chính phủ Nguyễn Đôn Duyến, ông bác sĩ Lê Khắc Quyến, tôi có biết nhưng không biết rõ, khi nào có dịp sẽ kể lại chuyện xưa, cũng không xưa lắm đâu, chỉ mới hơn nửa thế kỷ.

Viết tiếp:

Bài nầy viết rồi, gởi cho vài anh em đọc chơi, nên lại viết tiếp cho xong chuyện, cũng là ít thôi, để độc giả “mua vui”.

+ Về Trại Bò, như tôi nói, có khi gọi là Trại Trâu, có người nhắc tôi là “Xóm Trâu” bởi vì người nầy, nhà ở ngay xóm nầy. Gọi trâu hay bò cũng được vì trại có nuôi trâu và nuôi bò, để lấy da làm giày.

+ Về ngôi nhà ông Nguyễn Sinh Sắc (Huy) ở với các con.

Khu vực xóm Đông Ba, kể cho tới cửa Thượng Tứ, xưa thuộc công thổ, công ốc. Từ cửa Thượng Tứ vào ngã tư Anh Danh, hầu hết là “văn phòng” các bộ, như Bộ Học, Bộ Thị, Bộ Tham, v.v… Nhà cửa, một vài cái, khi tôi lớn lên, vẫn còn, như Tam Tòa, sau nầy là tòa Thượng Thẩm, và các khu nhà ở các đường kế đó, phần nhiều là các nhà kiểu xưa, xây dựng từ lâu, sau nầy là trụ sở Ty Thông Tin, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, và vài cái trở thành nhà các quan, hay dòng dõi nhà vua ở, như nhà hai chị em ông Viễn Bào và cô Diệu Trang, bạn cùng lớp. Những khu nầy, có khi bỏ trống, vì những cái nhà cũ đã hư sập vì lâu đời hay vì chiến tranh, nhưng đất ở đó là  “công thổ” phải có thế lực chính quyền, đảng phái, vua quan mới được xây nhà mới.

Hai dãy nhà hai bên đường phía trong cửa Đông Ba (Mai Thúc Loan) đầu tiên gọi là “nhà thừa phái”, sau nầy gọi là “dãy trại”, “nhà công chức”… là công ốc. Chữ “thừa phái” nầy là “ngạch trật” các vị làm việc ở các phủ, bộ, thấp nhất là các phủ huyện… Từ hai dãy nhà nầy, vô tới ngã tư Anh Danh xưa đều là công ốc, sau vài khu bị “tư hữu hóa” thành ra nhà của dân hay quan chức làm việc cho triều đình.

Ngay tại ngã tư Anh Danh, phía cửa Đông Ba, đối diện với nhà “Mệ Sen” (cũng là phòng mạch bác sĩ Giàu) là “Hạt Thủy Lâm”, sát bên là “nhà ông Nguyễn Sinh Sắc ở cùng với các con”, khi ông làm “Thừa Biện Bộ Lễ”. Khi ông được bổ làm Tri Huyện Bình Khê, nhà nầy giao lại cho người khác ở vì đây là công ốc. Khi ông bị cách chức, về triều chịu án, thì các con ông ra ở “Trại Bò”, lại nhờ cậy cụ Vũ Văn Giáp một lần nữa. Sau đó, ông Nguyễn Sinh Sắc lưu lạc vào Nam, cậu cả Khơm (Khiêm) về lại quê nhà ở huyện Nam Đàn.

Ở hạt Thủy Lâm, phía sát nhà cũ của ông Nguyễn Sinh Huy có một cây cổ thụ, không cao lắm, có lẽ vì bị bão đánh gãy ngọn, nhánh mọc ra như tàn lọng, tên thường gọi là cây “bao-báp”. Cây nầy do một ông cố đạo đem từ bên Tây qua tặng, trồng lên chỗ đất nầy, hồi cuối thế kỷ thứ 19. Cây đã trên trăm tuổi. Về ngôi nhà nầy, tin tức là do anh Tôn Thất Ch. cho biết. Hiện anh ấy còn ở tại “Xóm Đông Ba” nầy, từ hồi thơ ấu cho tới giờ./.

1.-Tôi nói xin là xin chủ nhà, chứ hồi đó, không cần xin tạm trú tạm vắng như dưới thời dân chủ của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam.

2.-Độc giả muốn biết rõ hơn xin đọc “Trung Kỳ Dân Biến”của Trần Gia Phụng và “Thuyền Ai Đậu bến Văn Lâu” của Nguyễn Lý Tưởng.

3.-Ông Trần Hữu Điểu, thường gọi là “Đội Điểu”. Ông là người chỉ huy đội “Lính Khố Vàng” của Đại Nội, Triều Đình Huế. Sau khi vua Bảo Đại thoái vị, rời Đại Nội dời về Cung An Định, ông Đội Điểu tập họp một toán lính của ông, bồng súng chào nhà vua lần cuối cùng, khi vua đi ra cửa Hiển Nhơn. Sau đó, ông tham gia Việt Minh, làm tiểu đoàn trưởng rồi bỏ Việt Minh về Huế. Ông làm giám thị ở Trường Trung Học Nguyễn Du. Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ông làm Đại Biểu Quốc Hội. Ông là thân phụ ông Trần Hữu Tường, Trần Hữu Minh, đại tá QLVNCH.

(4) Bia mộ chó của cụ Phan Bội Châu.

Hơn 80 năm trước, khi bị giam lỏng ở Bến Ngự, cụ Phan có nuôi hai con chó rất mực trung thành, đặt tên Vá và Ky. Khi chúng chết; tiếc thương hai con chó, cụ Phan có đề bia: Sáu tấm bia đá (gồm 2 bia mộ, 2 bia chữ Hán và 2 bia đề chữ Quốc ngữ) cho hai vật nuôi trung thành, được chính tay cụ đề bút dựng trong góc khuất của khu vườn:

Bia con Vá đề:

Nghĩa dũng cẩu – con Vá chi trủng.

Bên cạnh tấm bia chữ Hán là bia chữ Quốc ngữ:

Vì có dũng nên liều chết phấn đấu, vì có nghĩa nên trung thành với chủ. Nói thời dễ, làm thiệt khó; người còn vậy, huống gì chó! Ôi! Con Vá này đủ hai đức đó, há như ai kia, mặt người lòng thú; nghĩ thế mà đau, dựng bia mộ nó!

   Hai năm sau (năm 1936) con Ky chết, cụ Phan lại xuống bút:

Nhân trí cẩu – Ky chi chủng.

Cạnh lời minh bằng chữ Hán là bia chữ Quốc Ngữ.

Người hơi có đức nhân thường kém về phần trí, người hơi có đức trí thường kém về phần nhân. Vừa trí vừa nhân thật là hiếm thấy! Ai ngờ con Ky nầy lại đủ hai đức ấy:

Chung nhau thờ một chủ, thời xem là anh em. Chẳng bao giờ như mèo với chó, thiệt là nhân đó.

Thấy không phải chủ, thời xem bằng cừu thù. Chẳng bao giờ vì miếng ngon dẫn dụ, thiệt là trí đó.

Trí vừa nhân, nhân vừa trí, trong giống súc mà người, e đến mầy mới thấy!

Mầy sao vội chết!

Hỡi trời! Hỡi trời!
Lòng ta đau đớn, phải tạc mấy lời.
Đau đớn quá! Đau đớn quá!

Kìa những hạng muông người!

(5) Dư luận Huế về bằng cử nhân luật của ông Giáp là như thế nầy: Sinh viên thi tốt nghiệp phải có một “tiểu luận” trình cho giáo sư “hướng dẫn” của mình. Tiêu đề tiểu luận của ông Giáp là “Chủ nghĩa Marx và kinh tế Việt Nam”. Vì đề tài nầy có liên hệ đến tình hình chính trị thời bấy giờ, nên phía Toàn Quyền Đông Dương yêu cầu ngưng việc trình tiểu luận của ông Giáp. Giáo sư của ông Giáp không thuận, không muốn bị áp lực từ phía chính quyền, nên gởi tiểu luận của ông Giáp về Pháp để các giáo sư bên đó chấm cho tốt nghiệp. Thông thường quan hệ giữa giáo sư hướng dẫn và sinh viên làm tiểu luận tốt nghiệp khá gần gũi, vì chính giáo sư là người hướng dẫn cho sinh viên làm luận án. Giáo sư là “patron”, nhiều khi sinh viên còn gọi giáo sư hướng dẫn là “papa”. Có thể ông Giáp cũng không ngoại lệ. Vì vậy, khi ông Giáp muốn ngo ngoe lên làm tổng bí thư, Lê Đức Thọ phổ biến một lá thư “chơi” ông Giáp một phát, thư vận động, tố cáo ông Giáp đã từng làm con nuôi cho mộtthằng Tây Thực Dân. Thế là giấc mơ của ông Giáp đành “bốc khói” vậy!

(6)

Một Đ mới đứng ngoài sân

Hai Đ mới được bước chân vô nhà

Ba Đ con cháu ruột rà

Bốn Đ là chú, là cha trên đời.

Sư Thích Chân Quang, tên thật là Vương Chí Việt, con ông Vương Chí Nghĩa, (ông Nghĩa là em khác mẹ với Hồ Chí Minh; mẹ ông Nghĩa nhỏ tuổi hơn ông Hồ). Tất cả đều thuộc máu mủ Hồ Sĩ Tạo. Khi về Nghệ An nhận họ, ông sư Thích Chân Quang về ngay làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, làng ông Hồ Sĩ Tạo, mà không về làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, là làng ông Nguyện Sinh Nhậm.

Đã xem 3682 lần

Tin tức, thời sự chọn lọc bởi Nguyễn Tuấn.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.