Liêm sĩ

1- Một chút… dài dòng…

Sau khi Tây đô hộ nước ta, triều đại “quân chủ chuyên chế” (1) nhà Nguyễn sụp đổ, kéo theo một giai tầng thống trị xã hội thời kỳ ấy. Một số đông “gượng” được, theo Tây, theo mới, phục vụ cho chế độ mới, giữ được quyền lợi địa vị của mình. Số đó, Trần Tế Xương gọi mỉa là: “Biết vầy thuở trước đi làm quách, chẳng “ký”, không “thông” cũng cậu “bồi”. Ký, hiểu chung là thư ký, ký lục; thông là thông ngôn, thông phán, như “phán Diệu” (thi sĩ Xuân Diệu), “phán Hoan” (Phan Ngọc Hoan/ tức Chế Lan Viên). Trong Nam có câu ca dao so sánh: “Thông ngôn, ký lục không màng, Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay!”

Người đàn bà trong Nam “thực tế” hơn người đàn bà Trung Bắc hay sao?

Còn những người không “gượng”?

Đó là tầng lớp “Nho hoc”, “sĩ phu”, phần đông ở thôn quê. Bản thân ho, gia đình họ “tàn lụi” theo trièu đại, theo thời gian, theo “thời thế”. Họ không thể “Gặp thời thế, thế thời phải thế” như câu đối của Ngô Thời Nhiệm.

Cựu thiếu tá truyền tin L.V.T. phục vụ ở Đà Nẵng trước ngày “sập tiệm”, gọi tôi bằng cậu, mặc dù thua tôi có hai tuổi, là người có gia đình nội ngoại có hoàn cảnh như thế.

Ông nội của anh, một người theo học “chi hồ giả dã”. Ông là một “nhà nho” thi cử lỡ làng như Trần Tế Xương vậy. Bỏ đường công danh, không “duy tân” được, ông về quê làm ruộng. Không “tiến vi quan” thì ông “thối vi nông”. Quan điểm công danh của người xưa thật… nhẹ nhàng.

Nhưng thân phụ anh thì không theo con đường của cha được. Học được một ít chữ Nho thì ông bỏ, “Quẳng bút lông đi, nắm bút chì”, ông học chữ Quốc Ngữ, chữ Tây, đậu bằng “ri-me” (Certificat d’ Études Primaires) rồi đi “lính Tây” – lính Khố Đỏ, được Tây chọn cho đi học Vô Tuyến Điện. Trước 1945, bố của anh trông coi một cái đài Vô Tuyến Điện ở Hòn Mê ngoài khơi tỉnh Thanh Hóa. Cũng giống như nhiều người Việt Nam, năm 1945 là năm có nhiều biến động trong đời ông: Nhật đảo chánh Pháp, ông đem vợ con về quê sinh sống. “Cách Mạng Tháng Tám”, ông gia nhập Vệ Quốc Đoàn. Ban đầu, chưa có người chuyên môn, Việt Minh cho ông làm chỉ huy hay trưởng một đài truyền tin của Trung Đoàn 95, đóng ở “Bơơng” thuộc chiến khu Ba Lòng. Năm 1954, ông “tập kết” ra Bắc, bỏ vợ con lại ở Miền Nam.

Ông ngoại của T. là ông dượng tôi. Ông là chồng bà chị cả của mẹ tôi. Ông là người khá đặc biệt.

Có một lần, năm tôi mới vô trường Khải Định, sau nầy là Quốc Học, tới nhà ông, tôi hỏi: “Ở mỗi đầu cửa vào lầu trường, người ta “xây” vào tường một cái hình thuẫn (oval) thật to, từ dưới nền lên tới đỉnh. Cháu không biết sao nguời thợ hồ làm được như vậy, đều đặn, tròn trịa, cân xứng.

Ông dượng tôi cười, biểu tôi tìm 4 cái cọc nhỏ bằng ngón tay, cắm xuống sân, cách đều nhau – lúc ấy dượng tôi đang ngồi hóng mát ở sân trước – một sợi giây vòng, vòng quanh 4 cái cọc nhỏ, quây một vòng, thành ra một cái hình thuẫn rất đều. Ông nói: “Họ làm như rứa đó, cũng không khó gì! Muốn đầu cái hình thuẫn nhọn hay mập ra một chút, người ta di chuyển mấy cái cọc ni”. Tôi học cách vẽ đó, sau nầy “truyền nghề” cho học trò, trong khi mấy ông bạn tôi, dạy môn toán, thường vẽ hình thuẫn không được đẹp, đều như cách của tôi.

Cách vẽ nầy không phải của người Việt ta mà của Tây. Ông dượng tôi học nghề thợ nề (thợ hồ) với Tây khi ông xin vô làm Sở Lục Lộ. Lục Lộ là tên hồi Tây cai trị, sau nầy gọi là Công Chánh. Ông ta nói tiếng Tây được, có lẽ không giỏi, tôi đoán thế, vì thời đại của ông là “thời đại Trần Tế Xương”: Bỏ chữ Nho thì còn ngại ngùng, việc học chữ Tây thì hồi đó cũng chưa phát triển. Đó là thời “anh học trò Nguyễn Sinh Cuông” xin vô học Lớp Ba ở trường Pháp Nam phía ngoài cửa Đông Ba, trước khi anh ta lưu lạc vô Nam rồi xin làm bồi trên chiếc tàu La Touche Tréville để sang Tây.

Trong hoàn cảnh đó, ông dượng tôi cũng biết chữ Nho. Năm vô Đệ Thất, (lớp 6 bây giờ), Cụ Đệ dạy Hán Tự cho chúng tôi. Tò mò, tôi vô “thư viện thành phố” mượn cuốn “Minh Tâm Bửu Giám” về đọc cho “biết”. Không hiểu được những câu trong sách, mẹ tôi biểu “Hỏi dượng nậy” – nậy không phải là tên mà là người lớn nhứt – Tôi ngạc nhiên về trình đọ chữ Nho của ông: “Sao dượng giỏi quá!”. Ông dượng tôi là người nổi tiếng dạy con nghiêm khắc – như người xưa? – Trên mái nhà, ông có sẵn một cây roi mậy để “dạy vợ dạy con.”

Ông không bao giờ nói về “gia thế” của ông cho ai nghe, dù với T., cháu ngoại lớn tuổi nhứt của ông, nhưng qua những sự việc như thế, tôi đoán chừng gia thế ông bà cũng thuộc hàng “suy tàn theo sự suy tàn của Nguyễn triều”.

Những gia đình – gia tộc – nói cho đúng hơn là gia tộc – còn giữ được cái gì? Có nhiều chữ để người ta nói tới cái còn giữ được đó: Gia phong, nếp nhà, lề thói (Giấy rách phải giữ lấy “lề”?! – hay nói chung, một cách văn hoa là “văn hóa dân tộc” hay “hồn nước”? Ngày xưa, gia đình còn giữ được một ít điều đó nên dân tộc nầy không bị “Hán hóa” như các thời kỳ Bắc thuộc, “Tây hóa” như thào kỳ Tây đô hộ. Còn như bây giờ thì “Mỹ hóa” cộng thêm với “Văn hóa vô sản” của thời kỳ Cộng Sản cai trị.

2- Thế hệ sau

Thế rồi miền Nam sụp đổ, cựu thiếu tá L.V.T tù cải tạo gần 10 năm, phần lớn thời gian là ở các trại ngoài Bắc: Hoàng Liên Sơn, Nam Hà… Được tha, trên đường về Nam, anh ta ghé Hà Nội “thăm ba”:

Tôi hỏi: “Ông” cũng còn thăm ba được hả?”

T. nói: “Dù sao cũng là cha mình cậu à! Không có công dưỡng cũng có công sanh.”

– “Ông ta làm chức chi mà không bảo lãnh để “ông” về trễ vậy.

Tôi hỏi.

– “Cựu trung úy. Tập kết ra Bắc, họ móc cho ông cái loon trung úy, rồi cho giải ngũ. Ông về làm “chủ nhiệm hợp tác xã”. T. trả lời.

– “Hợp tác xã sửa radio?” Tôi hỏi.

– “Cậu mà cũng còn ngây thơ!” T. cười, nói tiếp: “Một người gốc là con ông “đồ Nho, phong kiến phản động”, đóng “loon” đội Tây, lính Khố Đỏ, vô tuyến điện… Họ móc cho ba cháu cái “loon” trung úy là may lắm, chủ nhiệm “hợp tác xã cơ giới, thực ra là thợ rèn” cũng là may, còn như dính vô radio thì họ không sợ ba cháu liên lạc với “xịa”, hay liên lạc với miền Nam hay sao?! Họ biết tỏng trong Nam có nhiều ông tướng tá ngày trước cũng là đồng liêu với ba cháu vậy, cũng đội Khố Xanh, Khố Đỏ” T. giải thích.

Mộ lúc, như để “củng cố” ý tưởng của mình, T. nói: “Cậu biết ông Phan Tử Lăng không?”

– “Biết sơ sơ. Ông là rể Thái Lợi trên đường Trần Hưng Đạo. Ông ta có một cô em vợ tên là Trang, học trò cũ của tui.”

– “Phan Tử Lăng nổi tiếng giỏi, có lòng yêu nước: Người đầu tiên xuất thân sĩ quan của Tây, đậu thủ khoa, thời Trần Trọng Kim làm chỉ huy và huấn luyện viên “trường Thanh Niên Tiền Tuyến” ở Văn Thánh/ Huế cùng với Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, theo Việt Minh từ trước tháng 8/ 1945. Ở ngoài ấy, ông ta chỉ mang tới “loon” đại tá là to nhứt, trong khi Cao Văn Khánh, học trò ông Lăng lên tới trung tướng. Dòng dõi như thế, quá trình “theo Tây” như thế, ông ta với ba cháu ngồi chung một bè, chưa cho mò tôm là may lắm rồi.”

– “Ông” ở lại với ba ông bao lâu?” Tò mò, tôi hỏi.

– “Cháu tránh, không ở lâu, chỉ một đêm thôi. Hôm sau, cháu đi “Tàu Thống nhứt” về Nam.

– “Ông” nói thệt tôi nghe! “Ông” thấy, ông nghĩ như thế nào về những người theo Cộng Sản như ba “ông” với những đứa em khác mẹ của “ông” sinh ra, lớn lên trong cái chế độ đó.”

– “Tối hôm đó, cháu ngồi nói chuyện với mấy đứa em nhiều hơn với ba cháu. Ổng kêu mệt, đi nghỉ sớm. Có mấy câu chuyện, cháu kể cậu nghe. Nói thực tế, vui hơn. Chẳng hạn như chuyện “Cộng Sản ta” đánh nhau với “Cộng Sản Tàu”.

“Đầu năm 1979, “ta” với Tàu rục rịch đánh nhau. Ba cháu thường uống trà, nhà có cái phích nước nóng để ông pha trà. Phích nước làm bên Tàu, loại vỏ đan bàng mây tre. Đang ngồi uống trà, nghe tin “Trung quốc tấn công”, ông cầm cái phích nước quẳng ra sân, bể toang. Ông nói: “Đồ Tàu, tau không thèm dùng!”

– “Ổng gọi bằng Tàu?” Tôi hỏi.

– “Đang tức mà. Gọi là Tàu cho hã tức. Ngoài đó chẳng ai dám gọi Trung Quốc là Tàu đâu! Có khi còn gọi “Ông Trung Quốc” nữa. Cậu nhớ thử coi. Một chú Ba ở Chợ Lớn, quần xà lỏn dưới rốn, che không hết cái bụng phệ, ở trần, cái khăn vắt ngang vai. Thường người ta gọi là “thằng Tàu”, mình gọi “chú Ba” là lịch sự lắm rồi. Ngoài Bắc, “Đảng và Nhà Nước” kính cẩn gọi là “Ông Trung Quốc”. Cháu không có cái tính hài hước như cậu, nghĩ tới chuyện ấy, cháu đã thấy phì cười!”

– “Còn mấy đứa em?” Tôi hỏi tiếp.

– “Thằng lớn nhất hỏi cháu! “Anh T. có thấy mặt em thay đổi không? Mỗi khi nói cái gì “thật” với anh, mặt em bình thường. Khi nói “những điều không thật”, như nói những câu ca ngợi chế độ Cộng Sản chẳng hạn, “đảng vinh quang” hay “đảng lo cho dân từng hạt gạo, hạt muối”, mặt em khác đi. Em thấy khó chịu, thấy thẹn. Ba dạy đấy. Ba vẫn thường lén – lén thôi nhé – dạy bọn em mấy câu “Tôi muốn làm nhà văn chân thật! Chân thật trọn đời!” Ba nói Phùng Quán sai rồi. Không phải chỉ nhà văn mới chân thật. Làm người là phải chân thật. Đó là “tiêu chuẩn” của người Việt Nam, là điều cha ông dạy từ ngàn xưa. Anh có thấy có khi nào cha ông mình dạy mình dối trá mà không dạy mình chân thật không?! Vì vậy mà em mấy lần xin khỏi học “trường Đảng”.

– “Em nói sao? Anh không hiểu!”

– “Đậu bác sĩ, kỹ sư… học Liên Xô, Tiệp Khắc… về đều vô ích, nếu không có “trường Đảng.” Không có “trường Đảng”, đời không thăng tiến được, không đạt danh vọng được. “Trường Đảng” là trên hết, cao nhứt. Anh xem mấy ông làm to, có ông nào không học “trường Đảng” không?

– “Học “trường Đảng” thì đã sao?! Cháu hỏi đứa em.”

– “Đã sao? Anh nói vậy sao? Khi anh sống trong trại cải tạo, cán bộ nói cái gì, anh nhớ không? Họ nói thật hay nói dối? Họ nói thật hay tuyên truyền? Anh nhớ cả chứ! Họ xuất thân “trường Đảng” cả đấy. Em cho anh thấy một ví dụ thôi, rõ ràng nhất. Lênin nói: “Đi với kẻ cướp mà có lợi thì ta vẫn đi!” Nói như thế thì chính nghĩa gì nữa. Nói như thế thì mình là người Việt Nam hay người Cộng Sản? Anh thấy ba không. Một người có lòng yêu nước như thế, đang cần cái phích nước để uống nước trà mà quẳng ra sân khi nghe tin Trung Quốc đánh ta thì ông là người Việt Nam mà không phải là người Cộng Sản. Cho nên, theo “cách mạng”, ông chỉ có thể làm thợ rèn mà thôi mà không làm gì cao hơn, bởi vì ông là người Việt Nam. Nếu em muốn làm ngươi Việt Nam, em theo gương ba; nếu em muốn có địa vị, em phải vô “trường Đảng”, thành người “Vô Sản”.

3- Xứ người…

Câu chuyện của T. theo cậu cháu tôi mà đi xa. T. đem nó qua Úc. Tôi đem câu chuyện đó qua Mỹ, nay kể lại cho quí vị nghe.

Tôi lại là người, không phải thầy bói mà ưa xem tướng. Người em của T. nói rằng khi anh ta nói dối thì mặt anh ta khác đi, thấy xấu hổ. Ấy là người, dù sinh ra trong chế độ Cộng Sản nhưng nhờ cha mà còn giữ được văn hóa của cha ông nên thấy “mắc cở” mỗi khi nói dối. Người Việt Nam, nay lưu lạc xứ người, cũng còn giữa được cái nết của cha ông truyền lại. Những ai “Nói rồi rồi lại ăn lời được ngay” thì bị người đời chê là Sở Khanh:

Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh

Bạc tình nổi tiếng lầu xanh

Một tay chôn biết bao cành phù dung

Đã đào lập sẵn chước dùng

Lạ gì một cốt một đồng xưa nay

Có ba mươi lạng trao tay

Không dưng chỉ có chuyện nầy, trò kia

Rồi ra trở mặt tức thì

Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời

Nàng rằng thề thốt nặng lời

Có đâu mà lại ra người hiểm sâu

Còn đâu suy trước, nghĩ sau

Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào

Sở Khanh lên tiếng rêu rao

Rằng nghe mới có con nào ở đây

Phao cho quyến gió rủ mây

Hãy xem cho biết mặt nầy là ai

Nàng rằng thôi thế thì thôi

Rằng không thì cũng vâng lời là không!

Sở Khanh quát mắng đùng đùng

Sấn vào vừa sắp thị hùng ra tay

Nàng rằng trời nhé có hay

Quyến oanh, rủ yến sự nầy tại ai?

Đem người thẩy xuống giếng khơi

Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay

Còn tờ tích việt ở tay

Rõ ràng mặt ấy, mặt nầy chớ ai

Lời ngay đông mặt trông ngoài

Kẻ chê bất nghĩa người cười vô lương

Người Việt Nam rất ngưỡng mộ truyện Kiều. Không ít người dùng truyện Kiều để làm cái “tiêu chuẩn” để sống hay dạy con cháu. Truyện Kiều còn là một tác phẩm “chuẩn” trong chương trình giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa.

Sống ở Mỹ, nhiều khi tôi nhớ lại truyện Kiều, đọc truyện Kiều, không phải để “Mua vui cũng được một vài trống canh” mà để nhớ rằng, dù mang quốc tịch nào: Hoa Kỳ, Úc hay Pháp… mình cũng còn là người Việt Nam, mà không phải là người Mỹ… như ông Trump.

hoànglonghải

Tháng 9/ 2020 

Đã xem 213 lần

Tin tức, thời sự chọn lọc bởi Nguyễn Tuấn.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.