Quảng Trị và Cộng Sản

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” [Không Quảng Cáo] – b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)

Thân gởi anh Hà Văn Tải,

để xin lỗi một lời hứa bất thành.

Một hôm, một số ít “đồng hương Quảng Trị” họp nhau, chờ ngày họp mặt chung, đông hơn. Một anh trẻ hơn tôi, nói:

-“Anh Hải nầy. Người ta nói dân Quảng Trị mình nghèo nên theo Việt Cộng nhiều.”

Tôi cười to, trả lời:

-“Người ta nào! Đó là ý kiến mấy ông chính trị gia, xã hội học đó. Mấy ông nầy như con mọt sách, thấy người ta nói thế nào, nhai lại y vậy. Anh không thấy gì trong “Đại Lộ Kinh Hoàng” sao?”

-“Thấy gì?” Anh ta hỏi.

-“Này nhé, tôi từng xem phim ảnh về cảnh tượng kinh hoàng nầy. Tôi từng nghe bác sĩ Lê Trọng Lộc (hiện ở Maryland) kể chuyện ông “đi” trong “Đại Lộ Kinh Hoàng” năm ông mười tuổi. (Ông sinh năm 1962. “Đại Lộ Kinh Hoàng” xảy ra năm 1972). Người ta thấy gì về những người chết, bị thương, vượt thoát trong cơn binh lửa đó. Phần đông là người nghèo, không phải người giàu.”

-“Điều nầy tôi thật vô ý, không chú ý như anh. Anh kể cho nghe đi!” Người bạn giục tôi.

-“Ngày 1 tháng 5 /72, tôi từ miền Tây, về phép thăm quê. Ra tới Đà Nẵng hôm đó thì nghe tin Quảng Trị mất. Thật ra, hôm đó thị xã Quảng Trị chưa mất. Hôm sau mới mất hẳn. Việt Cộng, nói rõ ra là quân “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược” cho xe tăng vượt qua Bến Tắt, thượng nguồn sông Bến Hải từ 1 tháng Ba. Chuyện nầy là tôi nghe ông anh vợ tôi mới kể lại hồi năm kia mà thôi. Hồi ấy ông làm Truởng phòng 2/ Sư Đoàn 3. Ông trình tin nầy lên tướng Giai, nhưng tướng Giai gạt đi, cho là “tin tức tầm bậy”. Anh biết tại sao không?

-“Chống nhau?” Anh bạn hỏi.

-“Chống mẹ gì? Nghi ngờ thì đúng hơn. Ông Giai người Bắc, ông bà Lãm người Quảng Trị, anh vợ tui cũng dân Quảng Trị. Ông Giai ngờ hai vợ chồng tướng Lãm đặt ông anh vợ tôi làm trưởng phòng 2 để “theo dõi” ông Giai, nên ông Giai không ưa ông anh vợ tui.”

-“Rắc rối hỉ?” Anh bạn góp ý.

-“Rắc rối mẹ gì! Quyền lợi cả!” Tôi nói, không vui. “Thôi bỏ chuyện đó đi. Nói chuyện đánh nhau hay hơn.”

-“Mục tiêu của Cộng Sản là “Trị Thiên”. Tụi nó gọi là “Chiến dịch Trị Thiên”, nhưng tới sông Mỹ Chánh thì hết hơi, không tiến lên được nữa. Biết tại sao không?”

-“Hỏi nữa. Anh cứ kể đi. Nghe anh hồi họp thấy mẹ.” Một người trong số anh em ngồi chung ở đó góp ý.

-“Để tôi kể một mạch luôn nghe!” Tôi nói. “Chỗ nào cần hỏi lại thì hỏi, không thì thôi.”

-“Tối ngày 2 tháng 5, tôi tới thăm một người cháu gọi tôi bằng cậu, là sĩ quan Tiểu Đoàn 610 Truyền Tin – đóng ở Đà Nẵng. Người cháu nói:

-“Cháu cho cậu biết tin nầy, chưa phổ biến, cậu nhớ hạn chế. Tướng Trưởng ra thay tướng Lãm đấy. Tin mới nhận trưa nay. Tối nay hay ngày mai là tướng Trưởng ra tới thôi. Tình hình khẩn cấp lắm.”

Tôi hỏi đùa:

-“Ông” là em rể tướng Lãm, bộ “ông” khoái chuyện thay đổi nầy à?”

-“Chuyện nhà, chuyện nước khác nhau mà cậu! Tướng Trưởng nổi tiếng đánh giặc giỏi. Trong trại, ai nghe cũng mừng. Giữ được phòng tuyến mình ở mới yên chớ!”

Tôi đùa:

-“Ông” với ông già ông có mở máy truyền tin “hê-lô” nhau đến không?”

Người cháu tôi trả lời, nghiêm nghị:

-“Cậu giởn nhiều cái chết người như không! Tui mà nói chuyện với ông già tui, nếu không “muôn năm “ủ tờ” thì cũng ra bộ binh ngay.”

-“Nói chơi mà thiệt đấy. Không chừng tụi ngoài Hà Nội sai ông già “ông” “móc nối” với “ông” chớ chẳng không!”

-“Cháu thì dứt khoát, “Đường ai nấy đi! Không liên hệ gì hết. Trong hồ sơ, cháu khai “Cha thất tích”, tức là không có tin tức gì cả. Cháu biết ông còn sống, cháu không oán hận gì ông, mặc dù khi chạy tản cư năm 46, 47, ông bỏ mặc mạ cháu với ba đứa con dại không nhà không cửa, không một chút tài sản, mạ cháu buôn gánh bán bưng mà nuôi anh em cháu khôn lớn. Không oán hận nhưng cháu coi ông như người đã khuất, nói ra “tội với trời” nhưng cái bản năng sinh tồn, cậu biết không?”

-“Bà Nhạn sao? Nghe nói mới “vượt tuyến” về Nam” Chắc là công cốc thôi.”

-“Cậu nói tụi ngoài Bắc công cốc là đúng đó! Tướng Lãm đâu có ngây thơ. An Ninh Quân Đội đâu có ngây thơ!”

-“Không móc nối được chi?” Tôi hỏi.

-“An Ninh Quân Đội” theo dõi chặt chẽ như thế thì bà ấy ngo ngoe gì được! (1)

&

Thấy câu chuyện có vẻ căng thẳng, tôi hỏi sang chuyên khác:

-“Nghe nói tụi Cộng Sản bị chặn lại rồi phải không?”

-“Vâng! Ngay ngày 1 tháng 5, đã có lệnh phe ta không được lùi nữa. Phải lập tuyến phòng ngự ở sông Mỹ Chánh.”

-“Tụi nó bắt đầu tấn công lai rai từ đầu tháng Tư. Từ 27 với mấy ngày sau tấn công áp sát Quảng Trị. Trước là dân Đông Hà, sau đó là dân thị xã Quảng Trị bỏ chạy cả.

&

Tôi trở lại câu chuyện với mấy người bạn đồng hương:

-“Cuối tháng Tư, những ai có xe cộ, có phương tiện, đều dọt trước. Từ ngày 25 cho tới khi mất thị xã Quảng Trị, những người chậm chân ở các thị trấn nhỏ các xã, dân Chợ Sãi, dân Diên Sanh, ở các làng quê, gia đình binh sĩ, người nghèo, buôn gánh bán bưng, không sẳn phương tiện tới phút chót mới bỏ chạy. Chạy chậm mới dính vô “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Xem hình mấy anh có thấy cái gì đặc biệt không?

-“Cái gì?” có người hỏi.

-“Nón lá! Người ta che đứa con bồng trên tay bằng nón lá. Có cái đã rách vành. Giàu thì người ta che dù, đâu có che nón lá.”

Một lúc, tôi lại hỏi:

-“Tại sao người ta chạy các “ông” có biết không?”

-“Sợ Việt Cộng?” Có người trả lời.

-“Không hẳn sợ Việt Cộng! Người ta sợ cái ÁC. Ai cũng sợ cái ÁC, cứ chi phải giàu hay nghèo. Cộng Sản là TÀN ÁC. Hai cái nầy là một.”

-“Tại sao họ pháo vào dân. Thực tôi không hiểu.” Có anh bạn hỏi.

-“Năm đó Cộng Sản mở ba mặt trân.” Tôi nói: “Ba mặt trận nầy, Cộng Sản đều bị thất bại. Phe ta phòng thủ vững lắm, Cộng Sản không đạt được mục tiêu là “có đất” để “ra mắt chính phủ Cách Mạng”; một là ở Bình Long, mà “Bình Long anh dũng”, hai là Kontum nhưng “Kontum kiêu hùng”; ba là Trị Thiên, “Trị Thiên vùng dậy”, nên Cộng Sản không thực hiện được ý đồ. Trên cả ba mặt trận nầy, bất cứ con đường nào dân chúng chạy loạn, cũng bị chúng nó pháo bừa vào đấy, không cho dân chạy. Dân chúng bỏ chạy thì khi “ra mắt chính phủ”, không có dân, coi sao được. Giết dân là có mục đích cả. Ai nói “súng đạn vô tình?!”

-“Tôi không rõ các đơn vị pháo Việt Cộng pháo vào dân chúng ở Kontum, ở Bình Long là ai, nhưng đọc tài liệu Cộng Sản, tôi biết đơn vị pháo ở Cầu Dài là sư đoàn 324 Cộng Sản Bắc Việt. Đem pháo của một sư đoàn mà pháo vào dân, dân Quảng Trị thoát chết làm sao nỗi!”

&

Có người hỏi:

-“Nhưng Quảng Trị là nơi chiến trường ác liệt nhứt ở miền Nam mà anh!”

-“Địa đầu giới tuyến là vậy thôi.” Tôi nói tiếp: “Năm 1955, ông Thông Bỉnh, cha của bác sĩ Nguyễn Thị Thanh dọn nhà khỏi thị xã Quảng Trị, người ta bảo rằng ông nầy khôn. Ở đây gần giới tuyến, Việt Cộng tràn qua chạy không kịp. Đúng vậy, năm 1972, nhiều người chạy không kịp. Không biết ông Thông Bỉnh có phải vì sợ chạy không kịp mà dọn lên Ban Mê Thuột. Lên đó, ông mở đồn điền trồng càphê, trúng cử Dân Biểu Quốc Hội thời cụ Diệm, sau nầy tui nghe tin nói ông ta bị Quốc Gia bỏ tù vì tội “tiếp tế cho Việt Cộng”. Ông nào “làm ăn vô tới rừng sâu” mà không tiếp tế cho Việt Cộng. Người của Bà Nhu, của Đức Cha vô rừng làm gỗ đều phải tiếp tế cho Việt Cộng hết! Mậu Thân, ông Thông nầy dọn nhà về Saigon, tới 30 tháng Tư thì ổng “hết đường chạy”. Ai bảo dân Quảng Trị mình không khôn?!

-Anh đã nói chi về chuyện đánh nhau đâu!” Người bạn nhắc chừng.

-“Từ từ” Tôi nói: “Chuyện dài Nhân Dân Tự Vệ” mà. Tui thấy Bernard Fall viết về kết quả trận Camarge chỉ đúng có một nửa!”

-“Trận Camarge là “trận Thanh Hương?” Anh bạn hỏi.

-“Thanh Hương” là tên dân chúng thường gọi vì trận nầy xảy ra ở (làng) Thanh Hương. Camarge là tên do Tây đặt ra. Tây đem mấy tiểu đoàn, xe tăng, thiết giáp vây đánh trung đoàn 101 Việt Minh ở đây: Phía Diên Sanh – Mỹ Thủy, phía Quốc Lộ 1 ngang cầu Mỹ Chánh, cầu Bến Đá; phía Vân Trình, Phước Tích trên sông Ô-Lâu. Cuối cùng Việt Minh rút về phía phá Tam Giang, len lỏi theo các con lạch nhỏ ở cửa sông Bồ, đi ngược sông nầy,  rút lên chiến khu, chẳng bị sứt mẻ gì cả.

“Đêm đêm Quân Đội Quốc Gia lại vô giữ đồn, bỏ mặc dân cho Việt Minh. Cán Bộ Việt Minh lại từ hầm bí mật chui lên, trên rừng mò về hoạt động. Công cốc! Bernard Fall kết luận: “Phe ta” rút vô đồn, bỏ mặc dân cho Việt Minh là thua Việt Minh. Kết luận thứ hai của ông ta là tới năm 1954, trung đoàn 101 Việt Minh rút ra Bắc; sau năm 1960, trung đoàn Việt Minh nầy từ ngoài Bắc “hồi kết” về hoạt động lại ở vùng phá Tam Giang.”

-“Điều nầy không đúng. Khi bọn nó rút ra Bắc, lính Việt Minh trên dưới hai mươi tuổi. Mười năm sau mới trở lại thì bọn họ đã già, đánh chác gì nữa.” Người bạn góp ý.

-“Chính điều nầy tôi mới nói Bernard Fall sai. Khi ra Bắc, bộ đội tập kết giải ngũ hết. Ông con rể bà dì tôi, làm trưởng đài truyền tin trung đoàn 95 Việt Minh. – Trung Đoàn nầy là của Quảng Trị; trung đoàn 101 là của Thừa Thiên – giải ngũ ra làm chủ nhiệm hợp tác xã. Nhiều người đi học lại, chuyển ngành.

Sau năm 1960, tức là sau “Đồng Khởi” của Việt Cộng ở trong Nam, lực lượng từ phía Bắc vượt vĩ tuyến hoạt động ở Quảng Trị là các sư đoàn chính qui Bắc Việt như sư đoàn 304, 308, 320B, 324, và các trung đoàn độc lập, núp dưới danh nghĩa “Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam”, nhưng “nón cối, dép râu” Bắc Kỳ; không tìm đâu ra trung đoàn 101, trung đoàn 95 trước 1954. Dân Quảng Trị có theo Việt Cộng sau 1954 chỉ là du kích, hoặc du kích Quảng Trị đưa ra bắc, sát nhập với quân chính qui Cộng Sản Bắc Việt.

-“Anh nói bọn lính đánh nhau với Mỹ  và  VNCH ở  Quảng Trị là “lực lượng chính qui” Cộng Sản Bắc Việt từ ngoài Bắc vô, còn ngay Quảng Trị không có người theo Việt Cộng sao?” Anh bạn hỏi.

-“Có chứ! Nhưng tình hình dân chúng ở Quảng Trị khá phức tạp. Đi tù về, tôi gặp nhiều đồng hương Quảng Trị ở Saigon, trong đó có một cán bộ theo Việt Minh hồi năm 1946, khi mới 17 tuổi, làm giao liên, sau vô bộ đội. Gốc nông dân, anh ta vô đảng 1948, tập kết năm 1954, ra Bắc học kỹ sư. Mẹ và các em anh ở lại quê, làng Gia Độ, ngay trên ngã ba sông Thạch Hãn và sông Hiếu gặp nhau. Khi tình hình an ninh còn khá, em trai anh ta tình nguyện nhập ngũ, đi lính Biệt Động Quân, sau là thương binh VNCH. Đứa em út lớn lên, không theo VNCH. Hồi đó, các làng quê xa xôi hoặc là xôi đậu, hoặc hoàn toàn mất an ninh, nên “vô rừng”. Ở những làng tình hình như thế nầy, phần đông thanh niên đều như thế cả. Sau chiến tranh, mười người “vô rừng”, chỉ còn một người sống sót. Chiến trường Quảng Trị kinh khiếp hơn đâu cả.”

Có anh bạn hỏi:

-“Trong chiến tranh, anh đi nhiều, Gò Công, Long An, Kiên Giang, Hà Tiên… anh so sánh như thế nào với Quảng Trị mình.”

-“Nói chung, người dân không ưa Việt Cộng, chỉ sợ đi lính, dù đi lính Cọng Hòa hay vô bưng theo Việt Cộng. Nhưng họ đi lính Quốc Gia hay theo du kích là do tình hình địa phương. Tôi giải thích từng nơi một: Dân Gò Công chẳng hạn. Thời Việt Minh theo Nam Bộ kháng Chiến. Năm 1954, không tập kết, ở lại với Quốc Gia. Những năm tình hình an ninh tốt, theo Quốc Gia. Mấy năm sau khi cụ Diệm bị giết, tình hình an ninh bết bát, Việt Cộng mạnh lên thì một số đông dân chúng theo Việt Cộng. Ở những vùng mất an ninh, không theo cũng không được. Những năm các ông Nguyễn Viết Thanh, Lê Văn Tư làm tỉnh trưởng, rất tích cực, rất giỏi, đuổi Việt Cộng chạy tuốt qua Thừa Đức bên Kiến Hòa, dân chúng rất vui mừng, theo Quốc Gia, nhưng cũng ngán đi lính Cộng Hòa. Đi lính Cộng Hòa là bị đưa ra tuốt vùng 1 vùng 2, chết chôn ở “ngoải”, không đưa xác về. Coi như đi là mất.”

Tôi nói tiếp:

-“Dân Cái Sắn chẳng hạn. Bắc di cư nhưng trốn quân dịch không ít. Sợ đi lính, trốn trong kinh, có mấy ông cha che chở cho. Hành quân vô kinh bắt lính, “đụng chạm tôn giáo” không ít nên chính quyền cũng ngán, lơ được thì lơ luôn. Nói cho ngay, cũng có người tích cực gia nhập Quân Đội Cộng Hòa, phần nhiều là sĩ quan các quân chủng.

-“Như tôi kể trong cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng), dân vùng Hà Tiên/ Rạch Giá, phần đông đi lính Cộng Hòa thì chỉ làm lính. Ít người học hành khá, đi sĩ quan làm sao được. Trốn quân dịch rất đông, nhưng không theo Việt Cộng, tới tuổi bị gọi đi lính, bọn thanh niên dựng chòi sống với nhau trong ruộng, khu vực nằm giữa vùng Quốc Gia với mật khu VC. Quốc Gia hành quân vô thì bọn chúng chạy vô bưng. Khi quân đội rút lui, thì bọn trốn quân dịch lại trở về những cái chòi cũ của chúng. Thế rồi lâu dần, bị VC tuyên truyền, thúc ép, cưỡng bức, hăm dọa, cũng phải vô mật khu làm du kích.

“Ở Quảng Trị khác đi. Ở những vùng tương đối an ninh, thanh niên lớn lên vô nghĩa quân, đi lính Cộng Hòa… Tuy nhiên, ở vùng biển, mất an ninh, thanh niên có muốn đi lính Cộng Hòa cũng không được. Gia đình ở vùng Việt Cộng sẽ bị o ép, đe dọa. Chợ Cạn và các làng dọc theo biển như Gia Đẳng, Hà Lợi, Hà Trung, Tường Vân vô tới Liên Chiểu, Đồng Bào, Mỹ Thủy có khi mất an ninh hoàn toàn, Việt Cộng hoạt động mạnh, ở đó dân chúng không theo Việt Cộng sao được. Tuy nhiên, có nhiều gia đình nhất quyết không ở lại làng quê, tìm tới vùng an ninh sinh sống. Vùng cận sơn cũng vậy, mất an ninh, Việt Cộng hoạt động mạnh, người dân không có con đường nào khác. Quận Cam Lộ, quận Gio Linh, Trung Lương chi nắm được tình hình ban ngày mà thôi. Phía Quốc Gia phải bỏ quận Ba Lòng khi chiến tranh mới xảy ra. Không chiếm Ba Lòng, làm sao quân Cộng Sản Bắc Việt có thể xâm nhập vào miền Nam.

“Là vùng giới tuyến, quân đội VNCH, quân Mỹ và quân Cộng Sản Băc Việt đều tập trung về đây, “đánh nhau chết bỏ”. Trên Trường Sơn nhiều địa danh là vùng đánh nhau lớn. Đó là “động” Ông Đô, Khe Sanh, Làng Vây,  A-Shao, A-Lưới, Ba Lòng, Ca-Lu… Cam Lộ, Giới Tuyến, Cửa Việt, Chợ Cạn, Đồng Bào, Liên Chiểu, Mỹ Thủy, Cu Hoan, Cổ Lũy (quê ngoại của mẹ tôi), Trùng Đơn, Đơn Quế, Vân Trình, Mỹ Chánh, Trường Sanh, (Đại lộ kinh hoàng), Diên Trường, Cầu Nhùng…

Trong bài thơ gởi cho con (đi B), Lưu Trọng Lư viết:

“Đất nước thì bao la mà chỗ nào cũng bom đạn”

Đúng là “chỗ nào cũng bom đạn”, nhưng Quảng Trị thì coi như nơi “cô đọng” của chiến tranh xâm lược miền Nam VN của Cộng Sản Bắc Việt. Bom đạn gom về đây hết cỡ, trên mảnh đất coi như nhỏ nhất nước Việt Nam khốn khổ nầy; nên, nếu như nói bom đạn thì Quảng Trị bom đạn dày đặc nhứt, không nơi nào có thể sánh được, trong rừng sâu hay những dãy làng quê nghèo xơ xác nằm dọc theo biển đông. Chính vì lý do đó, lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, sau 1975, ra lệnh tất cả các tỉnh phải thu gom sắt thép phế thải chiến tranh thì Quảng Trị được giao “chỉ tiêu” cao hơn hết.

Lại có anh bạn hỏi:

-“Chuyện anh nói, từ sau năm 1945, cũng có nhiều người biết, nhiều người nhớ. Anh có biết gì về Cộng Sản ở Quảng Trị trước năm đó?”

-“Cũng như các nơi khác, Quảng Trị có nhiều “đảng phái cách mạng” – nói theo cách của người dân Quảng Trị thời kỳ ấy. Quảng Trị có nhiều đảng phái cách mạng, với ba đảng chính là “Việt Nam Quốc Dân Đảng”, “Đại Việt Cách Mạng Đảng” và “đảng Cộng Sản”. Nói theo cách thông tường là Việt Quốc, Đại Việt và Cộng Sản.

Quảng Trị có hai làng nổi tiếng, người dân thời trước 1945 gọi là “làng Cộng Sản”. Đó là làng An Tiêm, nằm bên bờ sông Vĩnh Định. Từ thị xã về phủ Triệu Phong, qua khỏi cầu Sãi, quẹo tay phải, đi vài trăm thước là tới địa phận làng nầy. Hết làng An Tiêm là tới bến đò Ba Bến, kế làng An Tiêm là làng Thâm Triều.

Thật ra, làng nầy chỉ có vài người thuộc họ Đặng là theo Cọng Sản, chẳng hạn như anh em ông Đặng Thí, Đặng Lang. “Làng Cộng Sản” thứ hai là làng Huỳnh Công, thuộc phủ Vĩnh Linh, nổi tiếng với ông Trần Công Khanh. Những người nầy không thuộc bần nông, cố nông đâu. Dân tiểu tư sản, trung nông, phú nông cả đấy. Anh em nhà Đặng Lang, Đặng Thí, cũng như Trần Bá Khuê, tức Đoàn Khuê, người làng Gia Đẳng, Huỳnh Công Khanh đều là “học sinh Huế” cả đấy. Thời Pháp thuộc mà được cha mẹ cho đi học trung học ở Huế là con nhà giàu. Con nhà nghèo làm sao đi học xa. Huỳnh Công Khanh mỗi khi ra đường thì không bao giờ đi bộ. Ông ta cưởi ngựa, mang ghệt, giày soulier kiểu như Trần Tế Xương nói: “Giày “Dzôn” (2) anh diện, ô Tây anh cầm”. Còn Lê Duẫn thì đi xe môtô, giày “dzôn”, mang ghệt, mũ flêchêt (flechet) đúng hiệu Paris.

-“Nhà Lê Duẫn cũng giàu?” Có anh bạn hỏi.

-“Cha làm thợ mộc mà giàu sao được. Nhưng ông ta cũng thuộc nhà quan đấy. Chỉ là quan nhỏ, đâu đời ông nội.”

-“Anh biết gì về ông Lê Duẫn không?” Một người trong nhóm ngồi nghe hỏi tôi.

-“Bây giờ tài liệu viết về Lê Duẫn thiếu gì, nhưng không có tài liệu nào nói về thời còn trẻ của ông ta. Để tôi kể cho nghe”:

“Gốc Lê Duẫn người làng Bích La đông, phủ Triệu Phong. “Bích La đau bụng bích la la”. Đấy là câu chọc quê của bọn học trò ngày trước. Gọi là “bọn” nhưng cỡ tuổi ông anh cả tôi. (3) Họ Lê làng Bích La đông nầy là họ lớn, có nhiều nhánh. Nhánh lớn nhất, – tôi đoán chừng vây – là Lê Văn. Tên cúng cơm của Lê Duẫn trong “bộ làng” là Lê Văn Nhuận. Tiếng Quảng Trị phát âm “nh” thành “d” – như người Quảng Trị hát “Cá dà (nhà) là dà (nhà) Việt Nam”, nên Lê Văn Duẫn được gọi là Lê Văn Duận. Vì nghèo nên trong quá trình lớn lên, rớt mất chữ “Văn” nên Lê Văn Duận chỉ còn Lê Duận. Tên Duận khó nghe nên lại “biến thiên” thanh Lê Duẫn. Năm ông Bảo Đại thiếu tiền đánh bài nên bán phẩm trật cho dân. Ai ít tiền thì mua “cửu”, khá hơn thì mua “bát” – “Cửu phẩm văn giai”, “bát phẩm văn giai” chẳng hạn. Giàu thì mua tham, mua thị, mua thông, mua phán… Lê Duẫn đang làm sở xe lửa, mua chức phán, nên người ta gọi là “Phán Duận”. Cũng có người nói ông ta nổ bậy cho le lói với đời chớ có phán phiếc gì đâu.

“Thân phụ ông Lê Duẫn làm nghề thợ mộc, sống trong làng không nỗi. Khách thì ít mà thợ thì nhiều, không lý ông thợ nầy đóng đồ cho ông thợ kia; ông thợ kia đóng lại cho ông thợ nầy. Vì vậy nên ông “thợ Hiệp” là cha Lê Duẫn xách hòm đục qua hành nghề ở làng Hậu Kiên, bên kia sông Thạch Hãn, ngang chợ Sãi.

Lê Duẫn sinh ra ở làng nầy. Để “các đồng chí” của ông không moi móc về dòng dõi có làm quan của ông cha, dù là quan nhỏ, hay dòng họ Lê đông đúc của ông ở Bích La đông, ông khai rằng ông quê ở làng Hậu Kiên, là một làng nhỏ, không tiếng tăm gì, có người gốc là “thầy cúng”, sau vào chùa tu, “thành chánh quả”, như ông Đôn Hậu chẳng hạn.

-“Họ Lê Bích La đông là họ “văn học” mà anh!” Có người góp ý.

-“Họ Lê Bích La đông là họ lớn, có nhiều “nhánh” như Lê Văn, Lê Cảnh, Lê Trọng, Lê Mậu, Lê Bá. Tôi không rõ nhánh nào lớn, nhánh nào nhỏ. Cụ Lê Trọng Tô, thường gọi là “cụ Nghè Đàn”. Năm “Xô Viết Nghệ-Tĩnh”, ông đang làm “thừa phái” ở Nghệ An. Ông kể cho tôi với Ấn (Lê Trọng Ấn, giáo sư trường Nguyễn Hoàng, hiệu trưởng trường Trung Học Tây Lộc, đã qua đời ở Texas, em giáo sư Lê Trọng Vinh, thứ trưởng bộ Giáo Dục thời chính phủ Nguyễn Văn Lộc) nghe: “Sợ muốn chết. Họ đi biểu tình đông như kiến. Các ông tri huyện người bị giết, người bỏ trốn. Trong thời gian nầy, ông lấy bà vợ thứ hai, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, làng Cụ Nguyễn Du, tác giả “Truyện Kiều”. Quê ngoại của Lê Trọng Ấn đấy.

Ngoài Lê Trọng, có Lê Cảnh. Đại tá Lê Cảnh Vệ là “sư phụ” của tôi trong ngành Cảnh Sát VNCH. Lê Mậu thì có “độc nhãn long” Lê Mậu Thống bạn học của tôi từ khi “Nguyễn Hoàng chưa sinh” (4). Anh nầy tốt nghiệp đại học sư phạm toán, Lê Mậu Tâm là chánh sở giáo dục Quảng Trị, “tù cải tạo”, chết trong tù. Đại tá Lê Mậu Hoạt ở Úc là bố vợ ông Lê Văn Hiếu, “Governor of South Australia”. Lê Bá như Lê Bá Đảng, họa sĩ nổi tiếng ở Pháp. Sau 1975, ông về thăm làng, cho mua một số đá để ở đầu làng để xây cổng làng nhưng lại không xây. Ai hỏi đá của ai, ông bảo người làng trả lời là “Đá Đảng”.

Anh học trò đậu bằng “sơ học yếu lược” từ chối, không nhận có “bà con” với tất cả những người nầy.

-“Anh nói Lê Duẫn có đi học?”

-“Thời Pháp thuộc, sau khi bỏ chữ Nho, ở mỗi tỉnh, việc học chỉ “mở mang” tới cấp tiểu học. Các phủ huyện chỉ có trường “sơ cấp”, tức chỉ có ba lớp: Lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba; tức là lớp Đông ấu, Tây gọi là Cours Enfantin, lớp Tư hay Dự Bị, Tây gọi là Cours Preparatoire, lớp Ba, Tây gọi là Cours Elementaire. Hết lớp Ba thì thi bằng “Sơ học yếu lược”. Lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba hay gọi như bây giờ, lớp Một, lớp Hai, lớp Ba. Kể xuôi, kể ngược như thế nào, học lực Lê Duẫn cũng chỉ tới lớp Ba; còn như có đậu bằng “sơ học” hay không thì tui không biết!” OK?

Ai nấy đều cười câu nói đùa của tôi.

-“Hồi xưa, muốn vô lớp Năm, học trò – hồi xưa người ta hay gọi học trò hơn là học sinh – phải biết chữ Nho. Thành ra Lê Duẫn có học chữ Nho, nhiều ít không biết, nhưng không đến nỗi như Trần Tế Xương nói: “Sờ bụng thầy không một chữ gì!” Có lẽ bố ông Lê Duẫn cũng biết “theo thời”, “thời” bấy giờ là “phong trào Duy Tân” của vua Thành Thái, Duy Tân, cho con bỏ chữ Nho mà học chữ Quốc Ngữ.

-“Hồi đó ở chợ Sãi, chỗ đóng trụ sở của phủ Triệu Phong có mở trường sơ học. Lê Duẫn từ làng Hậu Kiên, bên kia sông Thạch Hãn đi đò ngang sang sông học ở trường Triệu Phong. Thầy giáo lớp Ba của ông là “Thầy Trợ Lẫn – Hồ Ứng Lẫn, quê ở làng Cổ Thành, thân phụ ông trung tá VNCH Hồ Ứng Phùng.

-“Quan hệ giữa hai thầy trò nầy là như thế nầy: Ông Hồ Ứng Phùng sinh khoảng 1925 hay sớm hơn, gì đó. Khi ông Phùng bốn năm tuổi, thì ông Duẫn, học trò Thầy Trợ Lẫn, ngày nghỉ học, thứ Năm, thứ Bảy, Chủ Nhật, đến nhà thầy “giữ em cho thầy cô”.

-“Như vậy thì đến khoảng 1930, ông Duẫn mới học lớp Ba?” Có người hỏi.

-“Có thể trước năm 1930, vì sau khi thôi học với thầy, ông Duẫn xin vô làm Sở Xe Lửa. Nên nhớ đến năm 1936, đường tàu Saigon – Hà Nội mới thông nhau. Làm xe lửa, không biết bao lâu, có lẽ vài năm, ông Duẫn vô “Tân Việt Cách Mạng đảng”, sau đó mới đổi thành Cộng Sản đảng. Cái nầy, tôi khỏi nói. Tài liệu Cộng Sản nói về “lịch sử đảng” thiếu gì.

-“Có một điều tôi muốn kể cho các ông nghe. Phần nhiều người Quảng Trị, khi vô Cộng Sản là vô ở Huế. Ví dụ như người đem Lê Duẫn vô Cộng Sản là Tôn Quang Phiệt. Ông Phiệt là dân Nghệ An (?), tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội, bị tù nhiều lần vì hoạt động chống Tây. Sau về dạy ở Khải Định (Huế), hiệu trưởng trường trung học tư thực Thuận Hóa (Huế), nổi tiếng ở Huế là “tay tổ Cộng Sản”, “sư phụ” của Tố Hữu. Đặng Thí, Đặng Lang, Trần Hữu Dực, Đoàn Khuê khi “vô học Huế”, trung học Đệ Nhứt Cấp mới “giác ngộ” mà theo Cộng Sản. Cộng Sản ở Quảng Trị không mạnh như ở Huế. Tôi không rõ trường hợp ông Trần Công Khanh.

-“Khi còn làm ở Sở Xe Lửa ở Huế, mỗi lần về Quảng Trị, ông ta “le lói” lắm, đi xe môtô, mang giày Dzôn” như tôi nói. Người ta gọi ông là “Phán Duận”. Ông “cua” “bà xã B.” Sau 1975, ông con trai bà nầy “tù cải tạo” về sớm, người ta nói cũng là nhờ “chỗ quen biết” nầy, khi ông Duẫn còn trẻ. Người ta đồn lung tung về việc ông quen cô nầy, “cua” cô kia, rất nổi tiếng.”

-“Nổi tiếng gì?” Có người hỏi.

-“Nổi tiếng “dê”. Tôi vừa cười, vừa nói. “Cũng có người nói ông ta “có tình” với người làng, với “đồng hương Quảng Trị”. Ví dụ như: “Khi ông thiếu tá Lê Cảnh B., “tù cải tạo” về, ghé Hà Nội thăm ông Lê Duẫn, ông ta hỏi:

-“Làng mình có ai cải tạo chưa về không?”

Không biết mô tê gì, ông B. trả lời ẩu: “Về hết rồi, tôi là người chót.”

“Thật ra, lúc đó, ông Đại Tá Không Quân Lê Mậu Hoạt chưa được tha nên ông Hoạt tiếp tục gở hơn mười cuốn lịch mới được về.”

Sau 1975, vô Saigon, ông Duẫn đến Xóm Chùa thăm ông Kiến Trúc Sư Ngô Khắc Tr., người làng An Đôn, phủ Triệu Phong, “bạn học cũ” của ông Duẫn. Theo tôi nghĩ, nếu là bạn học cũ, chắc là bạn hồi học lớp Tư hay lớp Ba gì đó. Bạn gì từ hồi còn trẻ nhỏ mà thăm nhau. Chắc ông Duẫn muốn khoe “đừng coi thường tôi, tôi đã lên “làm vua” rồi đây.” May ông Kiến Trúc Sư lúc đó đã “di tản chiến thuật” rồi. Vô Đà Nẵng, ông ghé thăm “Cô Trợ Lẫn, vợ của thầy học cũ”. Cô Trợ Lẫn xin cho con trai độc nhứt của cô là trung tá Hồ Ứng Phùng đang “học cải tạo” ngoài bắc được tha. Ông Lê Duẫn có hứa, nhưng “quên” luôn. Mãi hơn một năm sau, khi ông Phùng bệnh nặng lắm, cô Trợ Lẫn ra Hà Nội xin ông Duẫn một lần nữa, con của cô mới được tha. Về tới Saigon thì ông Phùng được đưa vô bệnh viện Bình Dân cũ. Mấy hôm sau, ông qua đời, cô Trợ Lẫn mưa hòm chôn con, chính phủ Cộng Sản đỡ tốn tiền mua hòm. “Tình nghĩa đồng hương” của ông Tổng Bí Thư đấy.”

-“Có câu chuyện nầy cũng đáng mai mỉa. Tôi kể tiếp cho mấy ông nghe: Cô Trợ Lẫn là em “chú ba” Diệp Khôn, tức Diệp Đức ký, buôn bán vật liệu xây dựng ở chợ Quảng Trị, rất giàu có. Cô Trợ Lẫn (em gái Diệp Đức Ký) có người cháu, trước 1975, tranh chức dân biểu với Trương Vị Trí ở Chợ Lớn nhưng không lại, sau đậu chức nghị viên “Hội Đồng Đô Thành”. Sau 1977, cả gia đình lên máy bay đi Mỹ, theo “diện” gì? Nên nhớ trước vụ “nạn kiều”, rời VN đâu có dễ. Cũng nên nhớ ông Lê Duẫn là người Quảng Trị, qua mối “quan hệ” như nói ở trên, có phải ông Duẫn cho gia đình ông “nghị viên” rời VN. Bây giờ, cháu nội ông nghị viên nầy là “một vị dân cử” ở Westminster! Các ông biết “hoạt đầu” là cái gì không? “Hoạt” là “dầu”. Cái đầu bôi dầu cho trơn nên chui vào chỗ nào cũng lọt được cả. Cộng Sản, Tư Bản, có “dầu” là xong ngay.

-“Ông Lê Duẫn là học trò của chồng cô Trợ Lẫn?” có người hỏi.

-“Còn một quan hệ “đặc biệt” nữa nhưng chỉ là lời đồn, không tiện nói ra.” Tôi trả lời. “Nhưng gia đình ông Diệp Khôn nầy “lộn xộn” lắm. Năm “Cụ Diệm” cấm người Tàu làm 11 nghề, buộc người Tầu phải nhập tịch VN, ai không vô dân Việt thì leo lên máy bay “Cụ Tưởng” mà về Đài Loan. Có sẵn máy bay đậu ở Tân Sơn Nhất, “Cụ Tưởng” bên Đài Loan đem qua. Diệp Hải Minh, con Diệp Khôn lên máy bay, “về Tầu”; sau đậu kỹ sư canh nông bên đó. Trước 1975, vô làm “sở Mỹ” ở Saigon. Ba mươi tháng Tư dọt qua Mỹ.”

-“Ông Duẫn là người làng Bích La hay Hậu Kiên? Có người nói là làn Trung Kiên?”

-“Gốc là Bích La đông, như tôi đã nói. Hậu Kiên là làng ngụ cư. Các bạn nhớ cho, chúa Nguyễn Hoàng đóng quân đầu tiên ở Ái Tử khi mới vào Nam. Khi đó làm gì có lương thực ai tiếp tế cho mà phải tự túc, nghĩa là “Tiến vi binh, thối vi nông”. Khi chống giặc, canh gác là binh; không có giặc giã thì về làm nông. Vì vậy, chúa đóng ở giữa là ngay Ái Tử. Binh lính đóng chung quanh vừa bảo vệ chúa vừa làm ruộng. Các làng chung quanh được đặt tên là Trung Kiên, Tả Kiên, Hữu Kiên, Hậu Kiên, Tiền Kiên… Sau khi dinh chúa dời vô làng Bác Vọng, Thừa Thiên, thì binh lính đi theo, thành ra có làng không còn dân, lâu ngày mất dấu. Những làng còn lại thì vẫn giữ tên cũ như Trung Kiên, Hậu Kiên.

-“Cám ơn anh kể chuyện quê hương, cho chúng tôi biết những điều chúng tôi chưa từng nghe nói. Muốn hỏi anh một điều, Lê Duẫn có công hay có tội?” Nhiều anh em nêu ý kiến.

-“Mính nói công trước đi, theo các anh nghĩ ông ta có công gì không?” Tôi nói.

-“Không phải vì mình là “nạn nhân Cọng Sản” mà cho là ông Duẫn không có công. Nhưng nhìn chung, ông ta có công gì? Công đánh Quốc Gia cho Cộng Sản. “Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc.” Vậy thì có công gì cho dân tộc Việt Nam?”

Tôi nói: “Theo tôi nghĩ, người chủ trương xâm lăng miền Nam, gây nên cuộc chiến tranh 1960-75 là Lê Duẫn. “Chính danh thủ phạm” là y. Y chịu trách nhiệm về hàng triệu binh lính cũng như dân sự, miền Bắc cũng như miền Nam bị thương vong, chưa kể binh lính ngoại nhập. Lịch sử không thể không nói tới tội ác của Lê Duẫn trong cuộc chiến tranh nầy. Y còn chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh xâm lăng Campuchia và Lào. Dân tình đói khát, khốn khổ trong suốt bao nhiêu năm ở miền Bắc, toàn thể đất nước trước với sau khi chiếm được miền Nam, cũng là lỗi tại y cả đấy. Bây giờ, theo chân Hồ Chí Minh, chỗ nầy xây lăng, chỗ kia xây lăng. Cuối cùng, không mau thì lâu, đều “lộng kiến” hết cả đấy.

“Đại thắng lợi, “bác Hồ” lộng kiếng!

Đợi Thắng lại, “bác Hồ” liệng cống!

Có phải không?

-“Chớ gì.” Nhiều người vừa nói vừa cười: “Lộng kiếng” đi! “Lộng kiến” đi mà chờ coi!”

hoànglonghải

(1)-Năm 1946, thân phụ tướng Lãm là “Cụ Thầy Thuần”, đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng, bị Cộng Sản bắt đưa ra giam tù ở Thanh Hóa. Người con gái lớn là cô Hoàng Thị Nhạn đi theo để thăm nuôi cha. Đầu thập niên 1950, “cụ Thầy Thuần” được tha, trở về Quảng Trị. Cô Nhạn ở lại Thanh Hóa. Năm 1972, cô Nhạn vượt tuyến về Nam. Chính quyền Miền Nam nghi rằng cô Nhạn được Cộng Sản đưa về Nam để “móc nối” tướng Lãm. Việc không thành!

(2)-Giày “Dzôn” (jaune: màu vàng).

(3)-Học trò các làng đến thị xã “học trường tỉnh” bị chọc quê:

“Vân Vận” sút quần vân vận vận,

“Bích La” đau bụng Bích la la la,

“Chấp Lễ” đau đầu Chấp lễ lễ lễ

“Vân Vận”, “Bích La”, “Chấp Lễ” tên các làng ở Quảng Trị.

(4)-Niên khóa 1951-52 là năm đầu tiên của trường Trung Học Tư Thục Quảng Trị. Năm sau thành trường Công Lập. Mãi tới niên khóa 1954/55 mới có tên là trường Trung Học Nguyễn Hoàng.

Đã xem 6248 lần

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.