Tay chơi xứ Huế

Thông thường những nơi đô hội, nơi nào chẳng có “tay chơi”, những tay quậy phá, chọc trời khuấy nước, chẳng chịu thua “Ông Tề”. Không những thế, ngay cả những vùng ruộng rẫy, cũng không thiếu tay chơi.

Hồi thập niên 1950, sau khi Pháp tái chiếm Việt Nam ta, đánh nhau với Việt Minh. Việt Minh thì ở thôn quê, trong mật khu, rừng rú. Pháp chiếm giữ các thành phố. Các rạp ciné đua nhau chiếu phim “Cao Bồi” để kiếm bạc. Người Việt Nam, có phải tổ tiên là khỉ hay chăng, mà cũng “bắt chước như khỉ” làm “cao bồi”, mặc áo “chim cò”. Mấy tay ham chơi ở nơi ruộng rẫy, vườn tược, cũng mặc áo chim cò, chạy xe mobylette, dân chúng thường gọi họ là “Cao bồi vườn”. Ở vườn cũng có tay chơi, huống chi Hà Nội, Huế, Saigon là những nơi từng là thủ đô của nước Việt Nam.

Không phải tới khi người ta xem phim Cao Bồi, bắt chước John Wayne, xứ ta mới có tay chơi. Đọc “Bà Chúa Chè”, “Ba Giai Tú Xuất”, hay mấy cuốn sách nói về lịch sử Huế, Saigon, người ta biết rằng, từ xưa lắm, rõ nhất là đời “Vua Lê Chúa Trịnh”, thời Tây mới chiếm Nam Bộ, dân Việt Nam ta đã có nhiều tay chơi rồi.

Nhìn chung, nói theo “Mác”, thì tay chơi là “sản phẩm” của xã hội vào thời kỳ đó, nên người ta thấy, cũng gọi là tay chơi, như “tay chơi Hà Thành” Ba Giai Tú Xuất, “tay chơi xứ Huế” như vua Thành Thái, hay xứ Nam Bộ như Hắc Công Tử, Bạch Công Tử, rõ ràng mỗi nơi, các tay chơi có nhiều nét khác nhau.

Ơ Hà Thành, đất ngàn năm văn vật, Ba Giai Tú Xuất, dù có nghịch phá như thế nào, cũng có cái nét văn hóa cao, vui chơi thì vui chơi thật đấy, những tay chơi như Ba Giai Tú Xuất, như Trần Tế Xương, dù “Cao lâu thường ăn quịt, Thổ đĩ lại chơi lường”, cũng có một nét luân lý, đạo đức như thế nào đấy, của những con người có văn hóa, có lương tâm. Hồi học lớp Đệ Lục, lớp 7 bây giờ, đọc hết hai tập “Ba Giai Tú Xuất”, tôi khoái cái lối chơi nghịch của hai ông nầy, nhưng những câu chuyện nghịch của họ, bao giờ cũng thấy họ ghét cái xấu, xiển dương cái tốt, “văn dĩ tải đạo”, chớ không bừa bãi tốt xấu lẫn lộn, không phân biêt đúng sai như kiểu “Bonjour Tristesse” tiểu thuyết của Francoise Sagan, đến nỗi người ta gọi là “vô luân”. Nguyễn Văn Giai (Ba Giai) còn là tác giả “Hà Thành chánh khí ca”, qua đó tác giả ca ngợi cái chết của tổng đốc Hoàng Diệu, và phê phán những người hèn nhát, chạy trốn hay theo Tây như Lê Trinh, Hoàng Hữu Xứng, Tôn Thất Bá. Tác phẩm nầy làm cho người đọc ca ngợi tinh thần cao cả của Nguyễn Văn Giai.

“Tay chơi xứ Huế” không ai khác hơn là vua Thành Thái. Những câu chuyện “nghịch ngợm” của nhà vua, bao giờ cũng phảng phất một cái gì vui, nhưng không thiếu nét vương giả, cao thượng của một ông vua, ấy là chưa nói tới trong cái “vui chơi”, cái “mê gái” của ông, còn tiềm ẩn tấm lòng yêu nước của một người đứng đầu đất nước, của một thời kỳ Quốc phá gia vong, mất nước về tay của bọn Pháp cai trị dân ta, cọng với sự “hiệp thông” của những tên “thực dân mặc áo chùng đen”.

Còn như tay chơi Nam bộ thì tệ lắm, cỡ như “Cậu Ba Tường” (Tôn Thọ Tường) đã tệ, mang tội phản vua, hại nước, mà kiểu đốt tiền mà chơi như Hắc Công Tử, Bạch Công Tử trong khi “bóc lột tá điền” cũng khá “tận tình” thì không muốn chê, cũng phải chê. Địa chủ ngoài Bắc ác như thế nào, tôi chỉ Cộng Sản “tố khổ”, còn như trong Nam, chỉ đọc một cuốn “Ngọn cỏ gió đùa” của Hồ Biểu Chánh thôi, cũng đã thấy “chủ điền” ác như thế nào. Đọc thêm vài cuốn nữa, cũng của Hồ Biểu Chánh hay “Đồng Quê” của Phi Vân, người đọc sẽ thấy họ ác dữ lắm! Bóc lột tàn tệ tá điền, rồi đốt tiền mà chơi, có ai “chịu” được không? Vậy mà nay con cái các “Đại gia Việt Cộng”, con cái cán bộ, đảng viên, tưởng là hay mà làm theo đấy! “Giải phóng miền Nam”, ca ngợi “Mùa xuân đầu tiên”, “Thống nhứt đất nước” như Văn Cao, để từ đó bóc lột, cướp đoạt tài sản của người miền Nam, sẵn tiền “vung qua cửa sổ”… Buồn hay vui cho đất nước nầy???!!!

Thật là đáng xấu hổ!

Về vua Thành Thái, tôi gọi ông là “Tay chơi” mà không gọi là “dân chơi” bởi ông là vua, không phải là dân. Nói đến ông, người ta biết nhiều điều vui, nhưng không phải không có nhiều bi thảm.

Vua Thành Thái, tên thật là Bửu Lân, con vua Dục Đức, tên thật là Ưng Chân.

Vua Tự Đức có khoảng một trăm bà vợ, ba trăm cung phi mà người nào cũng “tịt ngòi”. Không phải tại họ mà tại nhà vua đấy. Nghe nói hồi nhỏ nhà vua bị bệnh đậu mùa – Mặt vua Tự Đức rỗ hoa” – Vì bịnh “đậu mùa” mà vua không thể có con, như bị bịnh “quai bị” vậy. Tôi là bạn của hai vợ chồng, từ thời thơ ấu, giải thích với tôi tinh dịch của ông chồng, giống như nước mà không có cá vậy.

Để có người nối ngôi, vua Tự Đức nhận ba anh em cùng là hoàng tộc làm con nuôi. Đó là các ông: Dục Đức, tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Ái, sau đổi là Ưng Chân, là con của Nguyễn Phúc Hồng Y, tức Thoại Thái Vương, anh vua Tự Đức. Hai người kia là Ưng Đường (vua Đồng Khánh, con của Kiến Thái Vương Hồng Cai), Ưng Đăng (vua Kiến Phúc, con của Kiến Thái Vương Hồng Cai)).

Vua Dục Đức làm vua chỉ có 3 ngày. Vua Đồng Khánh làm vua gần 3 năm (1886-1888).

Sau khi lên ngôi vua, chưa kịp có niên hiệu thì hai ông Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phế vua, bắt đem giam ở Dục Đức Đường, bỏ đói cho đến chết. Xong, hai ông nầy tôn ông Hồng Dật, con trai thứ 29 của vua Thiệu Trị lên ngôi, niên hiệu là Hiệp Hòa. Vua Hiệp Hòa sợ thế lực hai ông Tường và Thuyết, muốn dựa vào thế lực của Tây để giữ ngai vàng. Biết ý của nhà vua, hai ông Tường và Thuyết lại phế vua, sau khi vua Hiệp Hòa ngồi trên ngai vàng mới có bốn tháng, đưa ông Ưng Đăng, 15 tuổi lên ngôi, tức vua Kiến Phúc. Vua Kiến Phúc ở ngôi được 8 tháng thì băng. Bấy giờ hai ông Tường và Thuyết cho rước Ưng Lịch lên ngai vàng.

Ưng Lịch, tức vua Hàm Nghi, cũng là con của Hồng Cai, lên ngôi lúc 14 tuổi. Vì biến cố “Thất thủ kinh đô”, năm 1884, vua chạy trốn ra Quảng Bình, xuống chiếu “Cần Vương”. Năm sau, 1885, vua bị bắt ở Quảng Bình, rồi bị đày sang Algerie bên châu Phi.

Về biến cố hai ông Tường và Thuyết giết vua rồi lại dựng vua, xứ Huế có câu:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân THUYẾT,

Tứ nguyệt tam vương triệu bất TƯỜNG.

Tôi viết lớn hai chữ THUYẾT và TƯỜNG là để nhấn mạnh tên hai ông quan đại thần nầy.

Ở Huế cũng lại có câu:

Một nhà sinh đặng ba vua,

Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài!

Vua còn là vua Đồng Khánh, vua mất (chết là Kiến Phúc), vua chạy dài là Hàm Nghi. Cả ba ông nầy đều là con của Kiến Thái Vương Hồng Cai.

Câu thứ ba:

Ngẫm xem thế sự thêm rầu,

Ở giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi!

Ở giữa là kinh đô, Đồng Khánh đang làm vua. Hai đầu: Quảng Nam, Quảng Ngãi (phía Nam) và Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh (phía Bắc) dân chúng nổi lên theo vua Hàm Nghi chống Tây.

Tôi cũng thường nghe hai câu nầy, của Thượng Tân Thị, hay không kém, không chỉ nói lên tâm tình của hoàng tộc mà cả người dân Huế có lòng yêu vua, yêu nước nữa:

Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự,

Buồn vui giọt lệ nước sông Hương!

Sau khi vua Dục Đức bị giết, mẹ con Bửu Lân dọn về quê (huyện Phú Vang hay Quảng Điền ?), quê mẹ. Bà tên là Phan Thị Điều, con của Phan Đình Bình, Phụ Chính Đại Thần, cũng bị giam đói cho đến chết đời vua Đồng Khánh, (giả nói là tự vẫn). Thành ra Bửu Lân có cha và ông ngoại đều giết vì việc tranh giành ngôi báu. Sau mẹ con Bửu Lân dọn nhà về ở phía ngoài cửa Đông Ba. Từ nhỏ, bà mẹ Bửu Lân đã dạy cho con cách đề phòng bị giết bất thần. Khi ông Bửu Lân mới được rước vô Đại Nội để làm vua, thị vệ rót nước mời ông, ông chỉ nhìn tách trà mà không uống. Quan thị vệ biết ý, cầm chén trà hớp một hớp, để tách trà xuống. Bấy giở Bửu Lân mới cầm tách trà lên uống. Bấy giờ Bửu Lân mới 10 tuổi mà đã khôn vậy rồi. Té ra, làm vua cũng khổ, ăn uống toàn “bơ thừa sữa cặn” của người ta, – người ta ăn uống trước rồi vua mới ăn tiếp, uống tiếp, như Việt Cộng mô tả người miền Nam trước 1975, dùng toàn “bơ thừa sữa cặn” của Đế Quốc Mỹ vậy.

Cũng may hồi ấy người ta chưa tìm ra “nguyên tử” nên muốn đầu độc người khác không dễ dàng như bây giờ “người ta” đầu độc Nguyễn Bá Thanh hay Trần Đại Quang. Còn như Nguyễn Phú Trọng thì người Bắc bảo rằng “Chễ dzồi bác Chọng ơi!”

Trở lại câu chuyện “cậu” Bửu Lân lên làm vua.

Vua Đồng Khánh băng hà! Triều đình Huế và các bà thái hậu, thái hoàng thái hậu chưa biết chọn ai làm vua, và cũng không thể tự chọn người làm vua nếu chưa “hỏi” Khâm Sứ Tây.

Bấy giờ ông Diệp Văn Cương ra Huế làm thông ngôn cho tòa Khâm Sứ Huế, thay ông Trương Vĩnh Ký, xin về Nam. Ông Diệp Văn Cương quê ở Sadec, nhà nghèo, mồ côi cha sớm, học sinh giỏi trường Chasseloup Laubat Saigon, được học bỗng của Tây cho du học, đậu bằng tú tài Tây ở Algerie. Khi làm việc ở Huế, ông cưới bà Công Nữ Thiện Niệm, là em gái vua Dục Đức. – (Ông Diệp Văn Kỳ, con ông Diệp Văn Cương, học sinh Saigon thường gọi ông là Papa Kỳ, là một nhà báo, nhà giáo nổi tiếng ở Saigon trước 1945 – ông thầy giáo Việt Văn của giáo sư Lý Chánh Trung, và cũng là ông ngoại nhà báo Hoàng Dược Thảo) –

Ông Diệp Văn Cương muốn cho cháu vợ mình được làm vua, nên khi Khâm Sứ Huế vào Đại Nội để chọn người làm vua, ông Cương dùng “phù phép” như sau:

Sách Nguyễn Phước Tộc Thế Phả (trang 39) chép:

Cơ mật viện hỏi: “Hiện nay vua Ðồng Khánh đã thăng hà, theo ý của quý Khâm sứ thì nên chọn ai kế vị?”

Diệp Văn Cương dịch câu trên thành: “Nay vua Đồng Khánh đã thăng hà, lưỡng tôn cung và Cơ mật viện đồng ý chọn hoàng tử Bửu Lân lên nối ngôi, không biết ý kiến của quý Khâm sứ như thế nào?”

Nghe vậy quan Khâm sứ đáp: “Nếu lưỡng cung và Cơ mật viện đã đồng ý chọn hoàng tử Bửu Lân thì tôi xin tán thành”. Câu này Diệp Văn Cương lại dịch là: “Theo ý tôi thì các quan Cơ mật nên chọn hoàng tử Bửu Lân là hơn cả”.

Ai mở trường Quốc Học?

Có phải vì câu chuyện “dịch bậy” nói trên mà Trường Quốc Học Huế được thành lập?!

Năm 1956, lần đầu tiên trường Quốc Học tổ chức “Lễ Kỷ Niệm 60 năm Trường Quốc Học”.

Bấy giờ thì báo chí và các cơ quan truyền thông Quốc Gia đều ca ngợi cậu chuyện “Ông Ngô Đình Khả là người có công mở trường Quốc Học”. Khi đó tôi là học sinh trường nầy. Tổng thống Ngô Đình Diệm về dự lễ. Trong “diễn văn chào mừng” có cả cụ Ưng Trình – cháu nội Tùng Thiện Vương. Cụ Ưng Trình tự là Kính Đình, tác giả “Luận ngữ tinh hoa”, thân phụ linh mục Bửu Dưỡng, sinh viên y khoa Bửu Tôn, lãnh tụ tranh đấu chống Ngô triều. Trong diễn văn, ý cụ Ưng Trình nói: “Có một người ngày ngày đi làm việc ngang qua nơi nầy, thấy trại lính thủy Nam triều bỏ vắng mà đau lòng vì vận nước, nên nảy sinh ra ý nghĩ dùng nơi nầy làm nơi đào tạo nhân tài cho đất nước, v.v… v.v… cũng không thiếu giọng lưỡi “phù thịnh” ca ngợi nhà Ngô…

Thật ra, việc dùng trại lính thủy mở “Pháp Tự Học Đường”, không phải là từ ông Ngô Đình Khả, mà chính là từ vua Thành Thái, người từng có tư tưởng Duy Tân theo gương Minh Trị Thiên Hoàng, sau chiến tranh Trung Nhật, Nhật đánh bại tàu chiến của Tàu (1895). Thái tử Vĩnh San lên ngôi thế vua cha (Thành Thái) bị phế, cũng đặt niên hiệu là Duy Tân (vua Duy Tân), là một ví dụ minh chứng cho ý tưởng canh tân của vua (Thành Thái).

Ông Trần Đình Mai là người hàng xóm của tôi ở thành phố Quảng Trị trước 1972. Ông là cháu ông Trần Đình Túc, quan đại thần đồng liêu với ông Nguyễn Văn Tường. Thân phụ ông Mai làm thông ngôn cho công sứ Quảng Trị. Ông Mai có lần khoe với anh em chúng tôi: “Ba tôi ngày trước khi làm thông ngôn cho Tây quyền lớn lắm. “Trên là quan công sứ, dưới là ba tôi. Mấy ông quan Nam Triều không biết tiếng Tây, sợ ba tôi một phép”.

Tình trạng như thế, vua Thành Thái muốn mở “Pháp tự học đường” để cho các quan “hậu bổ” phải học tiếng Tây trước khi được bổ ra làm quan là điều không có gì lạ.

Vua Thành Thái “không ưa” Tây, cũng có khi “chơi gác” Tây: Năm 1897, Tây cho dựng cầu Trường Tiền, khâm sứ Tây ở Huế là Levecque nói phách với nhà vua: “Khi nào cây cầu nầy sụp thì nước Pháp trả nước An Nam lại cho nhà vua”. Năm 1904, trận bão năm Thìn “thổi bay” cây cầu (bằng gỗ). Nhân dịp nầy, vua Thành Thái hỏi “kháy” tên khâm sứ Tây: “Cầu đã sập rồi đó! Quan khâm sứ!”

Do sự kiện cầu sập, Huế có câu ca dao:

Chợ Đông Ba đem ra ngoài dại,

Cầu Trường Tiền đúc lại “xi-moong”!

Hồi thế kỷ 19, chợ Đông Ba ở tại “vườn hoa Đông Ba” sau nầy. Dại là chỗ trại lính của triều đình Huế ngay ngã ba sông Hương với sông đào Hàng Bè, địa điểm chợ Đông Ba bây giờ. “Xi-moong” là tiếng cổ, bây giờ gọi là “xi-măng”. Sau trận bão (1904), cầu Trường Tiền được hãng Eiffel xây lại, đúc bằng xi-măng.

Giới bình dân Huế cho rằng vua Thành Thái là ông vua “mê gái”. Người ta nghĩ cũng không sai vì mấy lần vua Thành Thái tỏ ra là người “mê gái” thật. Chuyện cũ kể rằng một hôm vua giả dạng thường dân “vi thiềng” Kim Long. Vì “kỵ húy”, nhiều khi người ta gọi là Kim (Luông). Trên đường về kinh, vua gọi một chiếc thuyền, chèo đò là một cô gái. Nếu không đẹp, cô nầy cũng là người “duyên dáng”.

Vua hỏi cô gái:

– “O tê!” Có “dôông” chưa? (Cô kia! Có chồng chưa?)

Cô gái trả lời ngỏn ngoẻn, có lẽ thấy người hỏi mình có vẻ vui tính. Cô ta không biết đó là vua: “Chưa!”

– “Có ưng lấy vua làm dôông khôông?” Vua hỏi thiệt hay đùa ai biết, nhưng cô gái không trả lời. Vì mắc cở?

Nhà vua hỏi thêm một lần như thế! Cô gái tưởng anh ta nói đùa, bèn đùa lại: “Ưng!”

Rồi nhà vua giành lấy tay chèo, biểu cô gái ngồi nghỉ.

Về tới bến Thương Bạc, phía ngoài cửa Thượng Tứ, triều thần ra đón.Vua phán: “Tiến cung!”

Triều thần đón cô gái vô đại nội. Cô ta đâu có biết “Đưa con vô nội” là không có ngày về, một phút đời lên hương hay chưa được bao lâu sau thì đời cô trôi nổi theo số phận của một ông vua bị lưu đày???!!!

Có phải vì câu chuyện nầy mà về sau, thi sĩ Nam Trân, dân “trong Quảng ra thi” viết mấy câu thơ:

Thuyền nan đủng dỉnh sau hàng phượng,

Cô gái Kim Long yểu điệu chèo.

Tôi xuống thuyền cô, cô chẳng biết

Rằng hoa thấy đẹp, phải tìm theo…”

Về tính lãng mạn của vua Thành Thái, tính tinh nghich, dâm dục của nhà vua, ở Huế, tôi có nghe vài chuyện:

Ở núi Non Nước ở Đà Nẵng, tại cái hang lớn nhứt, có hai cái “thạch nhũ” khá lớn. Một cái nước còn nhỏ xuống, suốt ngày đêm, một cái bị tắt, nước không còn theo “đầu vú” rơi xuống nữa. Tương truyền trước khi vua Thành Thái đến thăm hang nầy, hai thạch nhũ nước chảy đều. Nhà vua tinh nghịch đưa tay sờ vào một cái. Sau đó, cái thạch nhũ bị vua “sờ” không còn nước chảy nữa.

Ai sờ thạch nhũ thì nước vẫn chảy. Vua sờ thì nước hết chảy, có phải vì “chân mạng đế vương”? Bây giờ hiện tượng nầy không biết còn không?

Một hôm, trong bữa cơm chiều gia đình, có ông chú tôi, một người Huế cố cựu biết rất nhiều chuyện về Huế, của giới quan quyền hay “thâm cung bí sử”. Bữa ăn thường có ông chú, tôi và Tuệ (Huỳnh Hữu Tuệ) và Ủy. Tôi hỏi ông về chuyện ở cửa Ngăn – cửa phía đông cột cờ, tại sao chỉ có 9 cây súng thần công, trong khi hai gian nhà ngói hai bên cửa nầy, mỗi gian có 5 căn, mỗi căn chứa một cây súng, một gian bỏ trống. Sở sĩ tôi hỏi câu chuyện nầy vì mấy năm trước, thằng bạn thời học tiểu học của tôi kể rằng cây súng thứ 10 đã chở về Tây. Một thằng Tây lai nghịch ngợm, coi thường các “ông thần súng” thọc tay vô nòng súng chơi, bị ông thần súng phạt, bắt cánh tay nó kẹt luôn trong lòng súng, không kéo ra được. Tây phải chở cây súng về Tây, cưa lòng súng ra, để cứu thằng Tây lai.

Ông chú tôi cười, trả lời, nhà vua cho đúc 9 cây súng thần công để mỗi cây giữ một cửa thành. Thành Huế có 9 cửa lớn.

Ông hỏi lại chúng tôi có để ý thấy dưới các cánh cổng cửa thành có một khoảng cách rất lớn, một người chui lọt là lý do tại sao biết không. Anh em chúng tôi không trả lời được. Ông chú giải thích:

Trước đời Thành Thái, mỗi cửa thành, ngay dưới các cánh cổng có một cái đà ngang, bằng gỗ. Khi hai cánh cổng đóng lại. Hai cánh cửa nằm ngay trên cái đà ngang, cửa thành kín khít rịt, không ai có thể chui ra chui vào được. Khi đang làm ở ngôi, vua Thành Thái sắm một chiếc xe hơi. Xe không qua cửa thành được vì cái đà ngang. Ông ra lệnh phá hết những cái đà đó, để xe ông chạy qua khỏi trở ngại. Đôi khi dạo chơi bằng xe hơi, ông đặt một “bà phi” lên ngồi bên cạnh. Ông chở vợ đi chơi. Ông cũng có một chiếc “canô”, thỉnh thoảng cũng đặt một “bà phi” cạnh tay lái, để ông chở bà dạo mát.

Ôtô xe hơi là thú chơi của giới trưởng giả thời đầu thế kỷ 20. Trần Văn Trạch từng hát: “Trên thì ôtô dưới thì canô” là diễn tả cái mốt của tay chơi Việt Nam hồi ấy.

Với ý tưởng “duy tân” vua Thành Thái là người “ăn mặc theo Tây” đầu tiên hồi ấy. Ông cắt tóc ngắn, không chừa búi tó như người xưa. Ban AVT hát: “Búi tó củ hành là anh thiên hạ”. Cái “anh thiên hạ” ấy lùi vào dĩ vãng khi nước ta có “Phong trào Duy Tân”. Để khuyến khích phong trào nầy, cụ Phan (Phan Bội Châu) viết:

Phen nầy cắt tóc đi tu,

Tụng kinh Độc Lập ở chùa Duy Tân.

Hồi nhỏ, khi chưa tới tuổi đi học, nghe ba tôi đọc những câu thơ trên, tôi từng thắc mắc “Chùa Duy Tân ở mô?” Tôi ngu thiệt!

Có khi vua mặc áo dài đen, có khi mặc áo chemise, quần Tây, mang giày “dzôn”, như Trần Tế Xương mô tả vậy:

Hôm qua anh đến chơi đây,

Giày “dzôn” anh diện, ô Tây anh cầm.

Giày “dzôn” là giày da màu vàng.

Người ta còn kể một hôm ông biểu 23 “bà phi” trần truồng nằm dài trên bộ ván ngựa lớn. Ông vua cũng trần truồng, nằm lăn trên mấy bà, lăn tới lăn lui. Tới nơi nào ông dừng lại hẵn thì ông “ban ơn” cho bà ấy.

Tôi không nhớ ông có mấy hoàng tử, ngoài ông Vĩnh San sau nầy là vua Duy Tân. Ông có 23 bà công chúa, bà nào cũng có tên bắt đầu bằng chữ “Lương”. Bà Lương Nhân – công chúa thứ 16 – là vợ luật sư Vương Quang Nhường, từng làm bộ trưởng Bộ Giáo Dục thời chính phủ Trần Văn Hữu. Ông Nhường đã can thiệp với Tây để Tây tha khỏi phải bị đày, cho vua Thành Thai về lại Việt Nam, sống tại Vũng Tàu. Sau khi băng hà, vua được đem về an táng tại An Lăng/ Huế. Công chúa thứ 18 – tôi không biết tên là vợ Bác Sĩ Phan Văn Hy, quê ở Quảng Trị. Bà công chúa nầy là mẹ của bà Phan Thị Hảo, hiện sống ở Nam Cali và cựu trung tá Biêt Động Quân Phan Văn Cẩm, cũng định cư ở Nam Cali, qua đời cách đây mấy năm.

“Mệ Sen” – tên thật là Lương Linh, là người nổi tiếng nhứt trong 23 bà công chúa con vua Thành Thái. “Mệ Sen” đẹp, dĩ nhiên, nói tiếng Tây “như đầm” – vua bắt tất cả các con phải học tiếng Tây và văn hóa Pháp – Mệ từng làm thông ngôn cho khâm sứ Huế. Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, “Mệ” làm Trưởng Phòng Du Lịch Huế, hướng dẫn các phái đoàn ngoại quốc và du khách thăm thú Đại Nội, lăng tẩm và chùa chiền ở Huế.

    “Đằng sau” việc mê gái, tay “chơi” của vua Thành Thái là cái gì? Nhà vua chỉ biết hưởng thụ mà thôi sao?

Khi gặp thủ tướng Nhựt là Khuyển Dưỡng Nghị, ông nầy khuyên cụ Phan nên tìm cách đem vua ra hải ngoại để vua lên tiếng kêu gọi dân chúng, phong trào sẽ được hưởng ứng mạnh mẽ thêm. Cụ Phan lén về VN để đem vua Thành Thái đi. Vừa ra tới Thanh Hóa thì Tây phát hiện vua vắng mặt tại kinh đô, bèn tìm bắt đem vua trở về. Vua chỉ nói với Tây là vua đi “vi thiềng” mà thôi.

Vì vua Thành Thái không đi được nên mới có việc hoàng thân Cường Để đi Nhựt thay cho vua. Do đó, có khi người ta kể nhà Nguyễn có 13 vua, kể từ Gia Long đến Bảo Đại mà quên mất “ông vua không ngai” Cường Để lưu lạc mấy chục năm bên Nhựt. Khi Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ra đi, vua Thành Thái lén đưa cho ông ấn vàng của vua để Nhựt và dân chúng làm tin. Ấn nầy là ấn mới. Ấn truyền đời từ Gia Long để lại đã bị vua Hàm Nghi đánh mất khi vua chạy ra Quảng Bình để chống Tây.

Hành động yêu nước mạnh mẽ nhứt của vua Thành Thái là ông lâp “Đội Nữ Binh” để làm lực lượng khởi nghĩa. Vua tập hợp một số bà phi, cung nữ, tỳ nữ để tập múa võ, đánh kiếm, bắn cung chuẩn bị cho công việc nầy. Nhiều lần nhà vua giả bộ “vi thiềng” để tuyển chọn người cho đội nữ binh. Câu ca dao:

Kim luông có gái mỹ miều,

Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi

Chỉ là câu ca dao để đánh lừa Tây để Tây khỏi nghi ngờ về việc “tuyển quân” của nhà vua.

Nhưng rồi Tây cũng biết.

Tây dựa vào những hành động “điên rồ” của nhà vua để buộc triều đình Huế truất ngôi vua.

Theo dư luận Huế, có hai người báo cho Tây biết âm mưu khởi nghĩa bằng cách lập đội nữ binh của nhà vua.

– Một là ông Trương Như Cương, quan đại thần, người làng tôi – là thợ rèn, Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Theo dư luận thì vì ông Cương là nhạc phụ ông Bửu Đáo, vua Khải Định sau nầy. Ông Cương ám hại vua Thành Thái với hy vọng Bửu Đáo lên làm vua, ông sẽ là “quốc trượng”.

-Hai là ông Nguyễn Thân, quan nhà Nguyễn bỏ theo Tây để bảo vệ quyền lợi của mình. Nguyễn Thân là người đem quân đánh ông Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, đào xác ông Phan Đình Phùng mới chết 12 ngày lên, đốt thành tro, trộn với thuốc súng bắn xống sông La. Khi nghe tin con gái mình là “Đệ Nhứt Giai Phi” của vua Thành Thái bị thương khi tập đánh kiếm. Nguyễn Thân vào thăm con gái, biết âm mưu của nhà vua, bèn đi báo cáo với Tây.

Đời không thiếu… Việt gian./

hoànglonghải

 

(đầu mùa lạnh 2020)

Mấy độ tang thương khiến hãi kinh

Lắm phen ngoảnh lại xót xa tình

Hổ ngưu đã đổi ba triều đại

Động hổ còn trơ vạn trận thành

Núi Nùng mây phủ nhìn kim cổ

Sông Nhị dòng trôi vẳng khốc thanh

Cầm Hồ đoạt sáo còn đâu nữa

Ai giúp giang sơn gỡ bất bình

Đã xem 227 lần

Tin tức, thời sự chọn lọc bởi Nguyễn Tuấn.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.