“Tôi không về Việt Nam nữa đâu!”

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” [Không Quảng Cáo] – b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)

Bài thứ 3

“Tôi không về Việt Nam nữa đâu!”

Từ nhỏ, tôi từng nghe mẹ tôi nói câu ca dao của người Huế:

Vắng mợ chợ cũng đông,

            Mợ đi trong Quảng ai trông mợ về.

Người ta thường nghĩ rằng mình là một “nhân vật quan trọng”, thường đem cái tôi ra để nói với thiên hạ. Thật đấy, cứ xem trên TV, trong một cuộc phỏng vấn chẳng hạn, người được phỏng vấn thường mở đầu: “Tôi thì…”, “Theo tôi thì…” Người ta có thể mở đầu câu trả lời không bằng chữ “Tôi” có được không?

Không bằng chữ “Tôi”. Điều nầy, chúng ta nghe – có khi thầy hay cha mẹ dạy – khi mình còn nhỏ mà, sao không nhớ. Năm tôi vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), ông thầy dạy Pháp văn đã giảng câu “Le moi est haissable” của Blaise Pascal. Cái lòng “tự ái” – mình tự yêu mình quá lớn hay chăng.

Vì vậy khi viết câu nói trên: “Tôi không về…” tôi nghĩ rằng có người sẽ cười: Ai cần, ai thèm, ai trông… Tôi có về, có đi thì cũng chẳng có ai thèm dòm, thèm để ý đâu…

Nhưng tôi phải viết chữ “Tôi” vì trước hết, đây là kinh nghiệm của tôi, nỗi đau khổ vui buồn của tôi, suy nghĩ của tôi, để người khác, trước hết là thông cảm tôi, thứ đến người ta sẽ suy nghĩ, giống tôi hay khác tôi về nước Việt Nam, về Dân Tộc Việt Nam đau khổ triền miên, từ khi chiến tranh bắt đầu, kéo dài 30 năm, kết thúc đã 45 năm, mà những nỗi đau khổ ấy vẫn còn dai dẳng, triền miên, bao giờ mới chấm dứt?

Người Việt Nam có câu “Nghĩa tử nghĩa tận”. Nôm na gọi là “Chết là hết”. Hết! Không chỉ là chấm dứt một đời người, hết yêu, hết thương hết nhớ, quan trọng nhất là hết ghét, hết thù. Oán thù đều chôn theo người chết. Hôm về Việt Nam, đi ngang qua “Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp”, nơi tôi thường đến hồi mới nhập ngũ – 1968/69 – bây giờ trở thành sân golf, – không cần sân golf có đẹp hay không, tôi vẫn thấy đau lòng. Bao nhiêu hài cốt được dời đi, bao nhiêu ngôi mộ bị san bằng. Trên mặt là lớp cỏ xanh tươi, bên dưới là những bộ xương người, còn nguyên vẹn được bao nhiêu, tiêu tán bao nhiêu phần.

Mấy ngày sau, khi đi Hố Nai thăm một người quen cũ, lại đi qua “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa”, lòng tôi lại xao xuyến như mấy ngày hôm trước khi đi qua “Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp”. Ở đây, dù xe chạy ở xa, chú ý, người ta cũng có thể thấy vẻ âm u của một nghĩa trang cũ. Dĩ nhiên, bức tượng đồng “Thương tiếc” không còn.

Tôi nhớ tới những nghĩa trang nhỏ hơn của Quân Đội VNCH, cấp Quân Đoàn như ở Cần Thơ, Đà Nẵng; cấp tiểu khu ở các tỉnh lỵ, như Gò Công, Rach Giá, Long Xuyên… mà tôi đã đi qua thời còn chinh chiến. Hồi ấy, tôi đã thấy buồn cho những “nghĩa trang tiêu điều” ở một nơi vắng vẻ nào đó.

Nơi đó không phải là chiến trường – cái di tích của chiến trường làm buồn lòng cho khách qua đường nhiều hơn đấy chứ: “Dấu binh lửa nước non như cũ, Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương, Phận trai già ruồi chiến trường, chàng Siêu mái tóc điểm sương (không) mới về.

Có người về “bại tướng cụt chân”. Cũng lắm “Người đi không về…”

Dù bên nầy hay bên kia chiến tuyến, chết rồi thì ai cũng như ai, cũng cha, cũng mẹ, cũng vợ hiền con thơ chờ đợi, nhớ thương, than khóc. Bao nhiêu “Xương Trắng Trường Sơn” thì có bấy nhiêu giọt lệ đổ xuống sông Hồng, sông Lam…?

Hôm nhà tôi qua đời, hòa thượng Thích Nguyên Đạt nói với các con của tôi: “Người chết thì đã chết rồi, coi như hết một đời thì được yên thân. Còn người sống thì sao đây…?”

“Giương cao ngọn cờ chiến thắng”, “Giương cao ngọn cờ vinh quang”, hay “Tưởng niệm một ngày mất nước”, “một cuộc chiến bại đau thương”, “Một ngày Quốc  hận”,… Đó là những cái dành cho người sống. Còn người dưới mộ thì sao? Người chết không mồ mả gì cả thì sao, người xác thân tan rã trong rừng già, trong khe suối thâm sơn cùng cốc, ngoài biển khơi thì sao?” Làm lễ tưởng niệm, nghe một bài chiêu hồn, đọc một lời cầu nguyện, một bài diễn văn hùng hồn, cương quyết, hô thật to mấy khẩu hiệu, giương cánh tay thật cao, mạnh mẽ, trong lòng có chất chứa nhiều niềm thương cảm,… Xong rồi, về tới nhà là hết hay sao?

Ngay cả những nghệ sĩ: Trong nước thì hát bài gì để chào mừng cách mạng thành công. Hải ngoại thì hát bài gì để thương tiếc ngày mất nước. “Thương nữ bất tri vong quốc hận” là thế hay sao???!!! Người nghệ sĩ còn chưa đến được với nhau, nói chi người dân thường!

Tôi sống ở thành phố Worcester, miền trung tiểu bang Massachusetts. Thành phố nằm trên “Route Nine” – đường số 9 -con đường đầu tiên của những “người Mỹ tổ tiên” đi về miền Viễn

Tây tìm đất sống. Dấu tích của họ là những nghĩa trang cũ, của vài trăm năm trước, nay vẫn còn nguyên, dù cho “bia đá thì mòn”, cũ, vẫn còn được người hậu thế gìn giữ, tưởng niệm cha ông. Còn người Việt Nam chúng ta thì sao? Bao nhiêu nghĩa trang đã bị tàn phá, san bằng, vì hận thù hay để kinh doanh? Người Việt Nam không làm việc phá bỏ nghĩa trang bởi người Việt Nam có văn hóa, biết tôn kính, biết nhớ ơn ông bà tổ tiên. Vậy thì ai làm cái việc san bằng mồ mả ấy?

Về Việt Nam, chúng ta thấy có vạn người sung sướng, hưởng thụ trong sự giàu sang vô tâm. Cũng có vạn vạn người đói khổ, than thở trong đau đớn. Biết bao giờ người ta mới biết dẹp hết cái vinh quang của kẻ chiến thắng, biết gói kín nỗi đau của người chiến bại, lúc đó mới nói “hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Có ai biết rằng “Khoe khoang sự giàu có sang trọng của mình trước những người nghèo đó là bất nhân hay không?” Cảnh nầy, ở Việt Nam bây giờ thi nhan nhản.

Hòa giải là hòa giải dân tộc, giữa những người dân, chứ không phải hòa giải trong giới cầm quyền, của giai cấp thống trị.

Bọn thống trị ở trong nước, kêu gọi bọn thuộc giai cấp thống trị cũ ở hải ngoại về, chia nhau những cái ghế ngồi, – tức là chia nhau quyền lực, quyền lợi – nghĩa là giữa những kẻ cầm quyền cai trị, trị dân thì đó là “hòa hợp hòa giải dân tộc” hay sao?

Nguyễn Phú Trọng, Nguyên Xuân Phúc, Nguyễn thị Kim Ngân… nghĩa là “bộ chính trị” đảng Cộng Sản Việt Nam, gọi/ mời (Việt Cộng thì gọi là gọi, mấy tay “chạy cờ” ở hải ngoại nầy thì gọi là “mời”) anh Nguyễn Văn A…, chị Trần thị B… nào đó, được coi là “có uy tín” trong những người ở hải ngoại – được “người Mỹ gật đầu OK, dĩ nhiên” – nhường cho một cái ghế, một chỗ ngồi chiếu dưới, chiếu trên nào đó. Vậy là “hòa hợp hòa giải” hay sao???!!!

Quý bạn có thể nâng ly chúc mừng họ được không?

“Áo xiêm buộc trói lấy nhau,

            Vào luồn ra cúi công hầu mà chi!”                   

Đọc Truyện Kiều bao giờ cũng thấy hay!

Ông ngoại của các con tôi là một người sinh vào những năm đầu của Thế kỷ 20, thuộc thế hệ của những hình ảnh “đeo thẻ bài ngà”, mặc áo thụng xanh; nhưng có những hành động “kỳ lạ”, chỉ còn rơi rớt lại trong đời sống dân tộc. Cộng Sản phê phán họ là “Phong kiến phản động”. Những năm tôi mới cưới vợ, nghỉ hè, tôi cùng vợ về sống ở nhà vợ, một làng quê cách thành phố chưa tới nửa cây số, đi phố cũng không xa, nhưng buổi chiều có thể nhìn những ngọn tre làng phất phơ chỉ chỏ những cánh chim chiều lượn lờ trên bầu trời xanh ngăn ngắt, làm dịu lòng người một cách êm ả, dịu dàng.

Trong những buổi chiều mùa hạ như thế, gia đình vợ tôi thường ăn cơm dưới cái nhà “vỏ cua” ở sân trước.

Khi đang ăn, nếu bỗng nhiên có một người ăn mày xuất hiện ở cổng trước, ông ngoại các con tôi bỏ chén cơm xuống. Các chị của vợ tôi, – biết ý ông ngoại – , vội vàng vào nhà lấy một cái gì đó, một chén cơm, một dĩa xôi, mấy trái chuốn, mấy củ khoai lang… đem cho người ăn mày. Khi người ăn mày đi rồi, ông ngoại các con tôi mới cầm chén chơm lên, tiếp tục ăn.

Biết thế, mỗi lần “ông ngoại” ngừng ăn, tôi cũng ngừng ăn theo, để “ông ngoại” khỏi phiền lòng.

Đó là văn hóa của “người xưa”. Tôi vẫn thường gọi ông ngoại các con tôi thuộc “thế hệ người xưa”, như hình ảnh “Ông Đồ” trong bài thơ của Vũ Đình Liên, những người thuộc về “muôn năm cũ”…

Sau khi đọc “Chủ Nghĩa Mác”, đôi khi tôi tranh luận với các sinh viên “đồng song”. Cũng đôi khi họ gọi tôi là người “thiên Cộng”. Chủ nghĩa Cọng Sản hay ho hơn điều ông ngoại các con tôi làm đấy chứ?! Không thể phủ nhận lòng thương người nghèo khổ của ông ngoại. Nhưng hành động của ông chỉ là cứu giúp một người, một cách vô tư, cho một bữa ăn mà không có một “ý đồ” gì cả, chẳng hạn như buộc/ yêu cầu phải cầu kinh, qui y, rửa tội, hay chọn một lá phiếu… Ông không thể nuốt cơm khi thấy người ăn mày. Chỉ thế thôi, chỉ là văn hóa dân tộc. Nhưng “Chủ nghĩa Mác” thì hay hơn. Mác muốn xây dựng một xã hội bình đẳng, công bằng, “không có người bóc lột người” tức là một xã hội không có ăn mày. Một xã hội không có ăn mày chứ không phải một xã hội người ăn mày được giúp đ. Thế nhưng, cuối cùng, Mác lại tạo ra những xã hội Cộng Sản bất công và bất bình đẳng, một xã hội không những không có ăn mày mà quá nhiều ăn mày như xã hội Việt Nam ngày nay; một xã hội bất bình đẳng đến tuyệt đối chớ không phải có bình đẳng, một xã hội không công bằng (bất công) đến tuyệt đối chứ không phải một xã hội công bằng.

Tại sao?

Tại vì Mác không thể tiên đoán được một điều căn bản: tính cực đoan của “Cách mạng vô sản” được gọi bằng mỹ từ là “Cách mạng triệt để”.

Hôm về Việt Nam, tôi đi Gò Công. Xe vừa qua khỏi cầu Ông Thìn thì bị hỏng máy, phải dừng lại bên đường chờ đổi xe khác. Trong khi chờ xe tới, tôi ngồi lại bên đường, trên cái ghế của một quán “càphê cóc”. Ngồi ở đây chưa được nửa giờ đồng hồ mà thiếu đường “kinh hoàng” về tình trạng về người bán vé số và người ăn mày xuất hiện trên con đường nầy. Thật ra, người bán vé số với người ăn mày khác xa nhau đâu bao nhiêu. Vì lý do nào đó, không đi ăn mày thì di bán vé số, hoặc không bán vé số thì đi ăn mày. Nếu phân loại xã hội như kiểu Cộng Sản, thì người ăn mày và người bán vé số cũng chỉ là “một giai tầng xã hội mà thôi.”

Nói cho cùng, xã hội nào chẳng có ăn mày. Cách đây gần ba mươi năm, khi tôi đến định cư ở thành phố nầy, tôi không thấy ăn mày. Thế rồi mười năm sau, tôi bắt đầu thấy ăn mày xuất hiện, càng ngày càng đông ở các ngã tư. Họ mang trước ngực hay cầm ở tay một tấm carton viết mấy chữ: “Homeless Needs help” hoặc “Jobless Needs Food”, đại khái là như vậy. Nhìn sắc diện, tôi đoán họ không phải là người Mỹ. Có lẽ người “Xì” (Spanish) – Ở Cali người Việt gọi là là “Mễ” (Mễ Tây Cơ). Gốc gác của họ là từ Puerto Rico sang – một lãnh địa Mỹ – “US Territory”. Họ không có “quốc tịch Mỹ” nhưng đến Mỹ tự do, không cần visa, hy sinh không ít trong “Vietnam War”.

Có một lần, chúng tôi thấy bên đường một anh “lính Mỹ” trẻ, hơi nhỏ con, như người Xì, tay cầm tấm hình anh ta mặc quân phục Mỹ. Ngồi bên tôi, vợ tôi ngạc nhiên, nói: “Tội chưa tề!” – Tiếng miền Trung – rồi vội vàng mở ví rút tờ 10 đô cho anh ta. Những ngày sau, đi lại con đường ấy. Chúng tôi không còn thấy anh ta nữa. Cũng một lần, chúng tôi lại gặp một cô gái trẻ, da trắng, trông như sinh viên. Khi nhà tôi cho tiền, cô ta “lết” tới vì một chân bị bó bột. Chúng tôi không rõ hoàn cảnh cô ta như thế nào, chỉ thấy “tội nghiệp”.

Bây giờ thành phố tôi ở có rất nhiều người ăn mày. Ngã tư nào cũng có người cầm tấm bảng như nói ở trên, xin tiền người dừng xe chờ đèn xanh. Hầu hết là người Xì, gốc từ Puert-Rico sang, nhất là sau trận bão tàn phá dữ dội hòn đảo nầy xảy ra vào năm 2017, đến nay, tình hình bên đảo ấy vẫn chưa phục hồi được.

Một hôm, trong bữa ăn chiều, con tôi nói: “Thằng Casey, bạn con, nó nói: “Từ nay nó nhất định không cho gì người xin tiền nữa”. Con hỏi nó: “Tại sao?” Nó nói: “Tao thấy một thằng xin tiền, tới chiều, nó ghé vào một cái McDonald’s gần chỗ nó xin tiền, vào toilet, thay áo quần sạch sẽ, ra quầy mua một cái Hamburger, một ly cafê, rồi ra sân leo lên cái xe Lexus, ra về. Nó giàu hơn tao!”

Thằng Casey là sinh viên, thường quá giang xe bạn nó. Nó không có xe! Tôi tin nó nói thật.

Dù vậy, ở Mỹ người ta ít thấy sự cách biệt giữa “đại gia” với người nghèo như ở bên ta, nhất là ở “phía ngoài kia”, nơi mà người miền Nam thường hát đùa: “Quê hương tôi, cái mùng mà kêu cái màn.”

Ở Việt Nam, đi đâu cũng thấy khoe khoang sự giàu có, sang trọng bên cạnh sự nghèo nàn, đói rách. Sự cách biệt quá xa khiến người ta đau lòng.

Tôi là người đi tìm “sự hàn gắn vết thương chiến tranh” trong lòng tôi, nên tôi không muốn về Việt Nam để phải đau lòng trước những hậu quả do chiến tranh để lại, dù chiến tranh chấm dứt gần nửa thế kỷ. Không lý người ta không muốn xóa bỏ dấu vết chiến tranh mà còn giương cao những “ngọn cờ”, “biểu ngữ” hay “lễ mừng chiến thắng”, hay sự giàu có sang trọng của “quân viễn chinh”… bên cạnh sự nghèo nàn đói khổ mà không một chút động tâm.

Đau lòng tôi cũng như đau lòng nhiều người.

Đơn giản chỉ vậy thôi!

Bao giờ tôi cũng không đồng ý cách nói đùa của vua Lê Thánh Tông: “Chẳng phải ăn đong, chẳng phải vay, Ơn trời dày lại được ăn mày.”

Đi ăn mày chỉ là việc chẳng đặng đừng!

Không mấy ai muốn làm công việc không mấy “vinh quang” như thế, nhứt là trong một xã hội không bao giờ ngưng khoe khoang về sự vinh quang của giai cấp thống trị. Tuy vậy, ăn mày và ăn cướp không bao giờ giống nhau./

hoàng longhải./

(Kỳ tới):

Bài bốn:

Phong thủy Nam Bộ:

“Một con rồng bị mất đầu”

  • CHÔN MỘT CHẾ ĐỘ

    Bài thứ nhất: “Chú ấy đem chôn lấp, Xác buớm với cành lan…” CHÔN MỘT CHẾ ĐỘ “Tôi vào lính năm 18 tuổi. 12 năm 4 tháng làm lính. Chuyện…

  • Chữ Đại trong thời đại chúng ta

    Bài thứ hai: Chữ Đại trong thời đại chúng ta. Theo Việt Nam Từ Điển của hội Khai Trí Tiến Đức, chữ Đại có nhiều nghĩa. Trước hết là tên…

  • “Tôi không về Việt Nam nữa đâu!”

    Bài thứ 3 “Tôi không về Việt Nam nữa đâu!” Từ nhỏ, tôi từng nghe mẹ tôi nói câu ca dao của người Huế: Vắng mợ chợ cũng đông,            …

  • Phong thủy Nam Bộ: Một con rồng bị mất đầu!

    Bài bốn: Phong thủy Nam Bộ: Một con rồng bị mất đầu!  Sông kia rày đã nên đồng, Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngôi khoai. Đêm nghe tiếng ếch…

Đã xem 1151 lần

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.