Về với mẹ

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” [Không Quảng Cáo] – b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)

“Thiếp như hoa đã lìa cành,

Chàng như con bướm lượn vành mà chơi”

(Kiều)

Trường Thiết Giáp của Quân Đội VNCH ở Thủ Đức có lối phạt dã chiến khá hấp dẫn và lạ, người đứng xem không ai là không thích thú, thấy vui, còn những người chịu phạt thì mệt le lưỡi, thọ phạt xong, không mấy ai không chưởi thề một tiếng “đ.m” cho hả cơn mệt.

Ngay sân trước của trường, trên một cái bệ xi-măng cao quá ngực là một chiếc xe tăng Mỹ M-24, thời Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai. Loại xe tăng nầy tuy nhỏ, nhưng cũng “đủ chỗ” cho 5 người: Tài xế, hiệu thính viên (truyền tin), xạ thủ, tức là người bắn cây súng đại bác Bofors 40 ly và trợ thủ, – người nạp đạn – và trưởng xa: người chỉ huy xe tang. Người nầy cũng là người xử dụng cây súng đại liên 30 hay đại liên 50 gắn trên pháo tháp.

Các khóa sinh thọ phạt thường là một toán 5 người, đủ cho 5 vị trí trên. Họ là thành phần tân khóa sinh – mới nhập ngũ hay còn được gọi đùa là “lính mới tò te” -, hạ sĩ quan tốt nghiệp trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế/ Nha Trang, và sĩ quan, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức hay Võ Bị Quốc Gia. Họ phải trang bị đầy đủ: súng cá nhân với đủ cấp số đạn, ba-lô phải căng đầy quần áo bên trong, bình nước, giàu “xô” đánh bóng, không một hạt bụi hay “ruồi đậu cũng té”. Năm người sắp hàng một, bên hông bệ xi-măng.

Khi sĩ quan trực, người chỉ huy thi hành lệnh phạt hô to “Lên xe” thì tất cả 5 người leo lên xe cho thật mau: “Ba mươi giây”. Sau ba mươi giây, ai vào vị trí người đó. Sau dó, sĩ quan trực hô to: “Xuống xe” thì cũng chỉ “Ba mươi giây”, năm người thọ phạt lại sắp hàng một bên hông xe như cũ. Quá “Ba mươi giây”: coi như xù. Mỗi lần phạt gồm có hai chục lần “Lên xe, Xuống xe”. Anh nào mà còn ngồi mà thở được là người… tài.

Trong khi vài chục người đang thọ phạt thì khoảng vài ba chục khóa sinh khác ngòi coi, toét miệng ra mà cười khi thấy “chúng nó” thở giốc.

Hôm đó, chủ nhựt, Hãn thọ phạt. Tối thứ Bảy tuần rồi, Hãn cùng mấy anh bạn, cả chục khóa sinh, chui hàng rào phía Trại Gia Binh ra Chợ Nhỏ nhậu chơi. – chúng tôi thường gọi đùa “giấy phép xuất trại của Thiếu Tá Rào”. Quá giờ giới nghiêm rồi, mấy “cu cậu” chưa muốn, tiếp tục cuộc vui, nên bị “Quân Cảnh của Trường” bắt đem về. Trung Tá Nguyên, Chỉ Huy Trưởng ra lệnh “phạt dã chiến”.

Trong khi Hãn đang thọ phạt thì Ngân lên thăm. Ngân là “bồ” của Hãn. Cô ta đi thẳng vào Câu Lạc Bộ, và như thường lệ, cô ta nhờ người gọi Hãn. Hôm đó, cô ta không biết Hãn đang “lên xe xuống ngựa” (sắt) như bọn tôi thường đùa.

Thấy Ngân ngồi chờ, tình cờ Thiếu Tá Trần Lý Hưng Liên Đoàn Trưởng Lên Đoàn Khóa Sinh đi vào, hỏi: “Cô thăm ai?” Thấy cô ta trả lời xong, Trần Huế, bạn thân với Hãn, nói nhỏ với ông Hưng: “Nó đang “lên xe xuống xe” ngoài kia. Ông ta bảo: “Ra nói với sĩ quan trực, cho nó vào thăm thân nhân. Nói là lệnh của tôi.” Huế mừng rỡ đi ra sân trước.

Thấy Ngân ngồi một mình, chuẩn úy Đinh, cũng khóa sinh, nói đùa: “Cô Ngân! Thằng Hãn hôm nay cưởi ngựa rồi.”

Ngân không hiểu, hỏi: “Ngựa gì anh?”

Một anh chàng nào đó, ngòi phía trong, nói vừa đủ nghe: “Thằng ấy cưởi ngựa truy phong chớ ngựa gì!”

Ngân cũng không hiểu, chỉ cười.

Được tha, Hãn về phòng, tắm rửa xong, thay quần áo mới, đeo lon chuẩn úy vào, lấy giấy phép, xuống Câu Lạc Bộ gặp Ngân rồi “hai đứa” lên xe Honda chở nhau về Saigon.

Bấy giờ là lúc gần mãn khóa học, tôi cứ tưởng, ra đơn vị rồi, chúng nó sẽ làm đám cưới. Hai anh chị yêu nhau lắm mà. Thế mà lại không!

&

Tùy theo thứ tự đậu cao thấp chúng tôi được gọi lên “sân khấu” – lễ mãn khóa tổ chức ở Họi Trường – để chọn đơn vị. Tôi và Hãn và Nguyễn Hứa Cương đậu cao, chọn đơn vị đóng ở Phước Tường, ngoại ô Đà Nẵng. Trần Huế đậu thấp, khi được gọi lên thì các đơn vị ở miền Trung “đủ chỗ” rồi, anh ta cùng Lê Toàn đành hát bài “Từ Nam Quan/ Cà Mau…”, chọn đơn vị hoạt động ở vùng Cà Mau: Thiết Đoàn 9/ Kỵ Binh.

Nhận giấy phép nghỉ một tuần xong, cả bọn về nhà tôi ở đường Cô Bắc/ Saigon. Hôm sau, chúng nó ra phi trường – vé “AirViệtNam” mua sẵn rồi – Máy bay Việt Nam hồi ấy vẽ hình con rồng ở bên hông – Dân Saigon gọi đùa là hãng máy bay “Air con rồng lộn”. Chỉ còn Hãn ở lại, “chơi ít hôm” – anh ta nói với tôi như thế. Hôm sau, Ngân tới. Hai đứa chở nhau đi mất mấy ngày Hãn mới về Huế thăm nhà.

Đêm trước khi Hãn về Huế, nằm chơi với nhau trên cái gác nhỏ, tôi hỏi:

-“Bao giờ “ông” vô lại Saigon?”

-“Vô lại làm chi?” Hãn hỏi tôi.

-“Vô làm đám cưới với con Ngân!” Tôi trả lời.

-“Thôi! Xong rồi anh. “Thôi chia ly từ đây” rồi anh.”

-“Ông” không lấy nó?” Tôi lại hỏi.

-“Bỏ nó anh!” Hãn nói.

-“Chắc nó đau khổ. Nó yêu ông thật tình mà.” Tôi nói. Một lúc, tôi nói tiếp: “Ở đời, bất cứ cuộc chia tay nào cũng buồn. “Ông” nghĩ lại coi, ngày “ông” lên đường nhập ngũ, dù suy nghĩ như thế nào, cha mẹ cũng buồn vì con ra đi, mà mình cũng buồn vì xa cha mẹ.”

-“Anh hơi ủy mị đấy!” Hãn nói.

-“Đúng! Từ nhỏ, nghe các anh chị đọc bài: “Ôi! cảnh chia ly sao mà buồn vậy!” Tui đã thấy buồn. Đây là một cuộc tình mà bạn, lại buồn hơn! Có cuộc tình nào chia tay mà không buồn? Mấy ông nhà thơ, nhạc sĩ, ông nào cũng khai thác đề tài nầy, nhưng không biết họ có buồn thật tình như tui không!” Tôi nói như một lời tâm sự.

-“Hồi học với anh, học trò tụi tui nói với nhau “Thầy Hải đa cảm, lãng mạn. Tui cũng thấy vậy.” Hãn nói.

-“Nhất là khi giảng về Kiều. Phải không? Tâm sự Nguyễn Du không có gì vui: “Mai sau dù có bao giờ…”

-“Hồi đó, có đứa nói: “Không hiểu ông Hải mê truyện Kiều hay mê Kiều?”

-“Tui mê cả hai!” Tôi cười, trả lời.

-“Còn Hàn Mặc Tử? Anh cũng có dạy cho tụi tui.” Hãn nói.

-“Tôi thích Hàn Mặc Tử chớ không mê. Còn như Kiều, cả dân tộc Việt Nam nầy đều mê Kiều, tin Kiều, bói Kiều, riêng gì tui.”

Cả hai đều cười vì nhận xét đó. Tôi dạy học mười năm mới đi lính, sau Tết Mậu Thân. Hãn với Huế là học trò cũ của tôi. Học trò cùng đi lính với thầy, học chung một khóa ở quân trường.

Tôi hỏi Hãn:

-“Ông” có sợ con Ngân nó tự tử không?”

-“Không đâu anh. Con nhỏ đó nó kiên cường lắm. Nói chung thì tui thấy từ khi có chiến tranh, người đàn bà, con gái Việt Nam bỗng trở nên cứng rắn hơn, can đảm hơn. Đàn ông ra trận hết rồi mà, ai lo cho gia đình, ai lo cho con. “Một mình thiếp nuôi già, dạy trẻ!” Họ không như thời tiền chiến, như trong thơ tiền chiến. Dạy học, chắc anh thấy điều nầy.”

-“Có! Trong ca dao. Tui có dạy mà: “Anh ơi phải lính thì đi, Cửa nhà đơn chiếc đã thì có em.” Còn như khi “Gặc tới nhà, đàn bà cũng đánh.” Tôi giải thích.

-“Người Việt Nam lật đổ cái ách một ngàn năm đô hộ, đánh bại mấy cuộc xâm lăng, cũng từ cái tinh thần đó mà ra. Phải không?”

Tôi nói đùa: “Xem ra ông cũng thuộc bài đó.”

-“Nhiều điều anh dạy hồi đó, tôi còn nhớ mà anh.” Hãn giải thích.”

-“Cho nên “ông” nghĩ con Ngân sẽ không làm gì?” Tôi nói.

-“Dân Nam Bộ, mà lại dân Saigon nữa, họ mạnh dạn lắm đó anh, không như đàn bà ngoài Huế đâu! Tôi thương nó vì một chuyện khác.”

-“Chuyện gì?” Tôi hỏi.

-“Nó không có cha mẹ mà anh, mồ côi từ nhỏ.”

-“Vậy ông bà ở Thị Nghè?”

-“Cha mẹ nuôi. Ông già nuôi làm ở tòa hành chánh Gia Định. Ông thiệt thà lắm. Vợ ông thì khôn lanh hơn, bả làm nghề “xanh xít đit đui”. Nhà khá giả là nhờ bà. Hai ông bà lấy nhau gần chục năm mà không có con. Có người nói với bà có một cô gái sinh một đứa con ở cái bệnh viện tư ở đó, rồi bỏ trốn, xúi bả đến xin về làm con nuôi. Ngân lớn lên chỉ biết cha mẹ nuôi mà không biết cha mẹ ruột.”

-“Cha mẹ nuôi cũng thương dữ?” Tôi hỏi.

-“Hai ông bà đều cưng. Hồi nhỏ, Ngân rất ngoan, học giỏi, đậu vô Đệ Thất trường Lê Văn Duyệt. Năm thi tú tài 1, bà mẹ sắm cho xe Honda để đi học.”

-“Nó hỏng Tú Tài 2?”

-“Có bồ! Có bồ là hỏng. Mà lại “thất tình” nữa!”

-“Bị bồ đá?”

-“Không! Thằng đó tử trận. Rớt máy bay.” Hãn nói.

-“Có lẽ khi gặp ông, nó không còn con gái nên ông không chịu lấy nó chớ gì! Sao “ông” còn “cổ lổ sĩ” vậy?!”

-“Không phải anh à! Nó cũng đứng đắn lắm đấy. Ngân nó yêu thằng ấy lắm! Nó thương người! Khi nó cặp với thằng ấy xong, thằng ấy cũng “xổ dê” với nó. Nó không cho, hẹn ngày cưới. Chuẩn bị rồi mà. Cha mẹ thằng ấy cũng ở Thị Nghè đến thăm cha mẹ Ngân. Nhưng rồi thằng ấy suýt chết. Hôm nó từ Biên Hòa đem máy bay lên cho tỉnh trưởng Bình Dương. Máy bay biệt phái cho tỉnh trưởng. Trước khi về, nó ghé lại “điểm tiếp liệu” đổ xăng thì máy bay rớt.”

-“Chết liền?” Tôi hỏi.

-“Không! Trực thăng vừa lên khoảng ba bốn thước thì rớt vì xăng bị pha nước. Lính của thằng chỉ huy “điểm tiếp liệu” ăn cắp xăng bán cho Ba Tàu, đổ thêm nước vào xăng nên gây ra tai nạn.

-“JP-4” chớ gì! Loại xăng trắng nầy đặc biệt dành cho trực thăng, rất nhạy lửa, đổ vô hộp quẹt Zippo là số một. Ba Tàu mua về cho vào ống tiêm, bán cho người xài. Tụi nó móc nối với bọn Tiếp Vận trong quân đội.” Tôi giải thích.

-“Sao anh biết rõ thế?” Hãn hỏi.

-“Tui có thằng bạn làm ở Tiếp Vận, mấy lần điều tra những vụ ăn cắp JP-4 như thế nầy, lôi cổ được mấy thằng Tàu ra tòa, nó khoái lắm. Nhưng chuyện ấy dính gì tới con Ngân?”

-“Thằng bồ nó bị thương, nằm Tổng Y Viện Cộng Hòa gần một tháng. Ngân trốn học lo cho bồ. Sau khi rời bệnh viện, nó “cho” thăng bồ luôn. “Lỡ như anh ấy chết cũng tội cho ảnh!” Nó nói với tui vậy. Lần thứ hai thì không phải tai nạn. Trực thăng thằng bồ bị bắn rơi khi đổ quân ở Long Khánh. Trời không cứu nó thêm một lần nữa.”

-“Biết là đi không về, nhưng không mấy ai nghĩ rằng mình sẽ không về. “Người đi không về, chắc rằng có người nhớ!” (1) Hãn hát thầm, nho nhỏ, đủ cho hai đứa nghe!

-“Nó gặp ông là trong trường hợp nào?” Tôi hỏi.

-“Ở Mai Hương!”

-“Trên đường Lê Lợi?”

-“Anh biết rồi đấy. Mai Hương là nơi tập trung sĩ quan trẻ với Sinh Viên Sĩ Quan cuối tuần. Hôm đó, tui ngồi kế lề đường. Nó đi qua. Tui nhìn nó. Nó thấy tui, đi thẳng. Đi một quãng xa năm mét, nó quay lại nhìn tui, cười. Tui đi theo. Vô nhà sách Khai Trí, tui giả bộ tìm sách, tới gần chỗ nó, hỏi tên sách, nói lung tung rồi cười. Sau nầy, có lần tui hỏi nó: “Sao gặp tui, em cười liền?” Nó bảo: “Tự anh đẹp trai. Ngó lui cười là gọi anh đi theo đó. Biết không? Thế rồi tuần nào, về phép, cũng hẹn đi chơi. Chở nhau trên xe Honda, long nhong khắp Saigon.

-“Vui hỉ?” Tôi hỏi.

-“Vui lắm anh. Tuổi trẻ mà không có tình yêu, không có hẹn hò, không đi ciné, không ghé xe hủ tiếu khi đi chơi về khuya… là mất mát nhiều lắm”.

-“Vậy mà bỏ nhau!” Tôi than.

-“Bồ” nhau thì vui lắm, nhưng không lấy nhau được anh à. Ngân là dân Saigon, phóng khoáng, chịu chơi. Tui là Huế chính cống, cả gia đình có “máu các mệ”, cưới nó về sao được anh.”

-“Ràng buộc gia đình nhiều quá!” Tôi nói.

-“Ba má tui có hai thằng con trai. Tui với thằng út, mới hơn mười tuổi, lại có hai bà chị gái, hai em gái. “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”, lại “bà cô Huế”, chị chồng, Ngân dân Saigon. Cưới Ngân về, gia đình “sóng gió” dữ lắm, nó sống không nỗi đâu, mà tui cũng không sống nỗi.”

-“Hồi còn đi dạy, một hôm giảng cho học trò bài “Văn Minh Việt Nam” dựa theo cours của giáo sư Lê Văn Siêu, tui có nói với học trò, dù văn hóa Huế có hay như thế nào, Huế cần có một cuộc văn hóa, bứng cho hết những cái cây lưu niên“cổ lổ sĩ” đã trồng cả ngàn năm trong tâm hồn người Huế.”

-“Tui không dám đồng ý hay không đồng ý với anh. Vô Saigon thì người Huế rất Saigon, nhưng khi về lại Huế thì họ lại rất Huế. Họ sợ “chung quanh”. Cho tới bây giờ hơn hai mươi năm sau “Cách Mạng Tháng Tám” Huế chỉ mới thay đổi một chút ngoài da mà thôi.”

Thế rồi Hãn về Huế, ra đơn vị. Chúng tôi chấm dứt thời kỳ “quân trường” đối diện với “chiến trường”.

Khoảng một tháng sau, khi gia đình tôi còn ở đường Cô Bắc, Saigon, đi làm về, tôi thấy Ngân ngồi chơi với các con tôi. Vợ tôi lui cui nấu ăn ở trong bếp. Tới bữa cơm, đang ăn, vợ tôi nói:

-“Chú Hãn về ngoài ấy, không thư từ gì cho Ngân hết. Nó muốn đi tìm. Anh nghĩ sao?”

-“Thân gái dặm trường”. Anh chưa biết nghĩ sao? Nếu ra ngoài ấy, gặp Hãn. Hãn biết lo cho cô ấy, như vợ chồng thì không có chi đáng lo. Còn như…”

-“Còn như sao?” Vợ tôi nôn nóng hỏi.

-“Biết nói sao! Từ ngày ra đơn vị, nó không thư từ gì cho cô Ngân cả, không liên lạc gì với mình cả. Kỳ nầy, Ngân ra ngoài ấy, đi như đi mò, tới đâu hay đấy, tự xoay trở lấy, tiền bạc không có, không thấy lo sao được!”

-“Nó bán xe Honda đấy!” Vợ tôi nói, như để giải thích câu tôi nói “tiền bạc không có”.

Tôi hỏi Ngân:

-“Em bán xe Honda. Xin ba má em chưa?”

-“Em không dám nói. Ông bả la chết!”

-“Vậy giấy tờ không có, làm sao bán xe?” Tôi lại hỏi.

-“Em bán rẻ, cũng có người mua, giá thấp lắm.” Ngân trả lời.

Nửa tháng sau, Ngân đi Đà Nẵng, bằng máy bay “Air-Việt Nam.” Tôi chỉ rõ cho Ngân con đường đi từ Đà Nẵng lên Phước Tường, nơi đơn vị của Hãn đóng.

Vợ tôi đưa Ngân ra “Quầy Vé Quốc Nội” gần chợ Bến Thành. Kể từ hôm đó, không có tin tức gì “hai đứa” nhắn về.

&

Nửa năm sau. Bấy giờ tôi đã dời nhà về trong cư xá Trại Phù Đổng. Một buổi chiều, trời cũng đã hơi muộn, tôi ngồi với vợ trong nhà nhìn ra sân cỏ vũ đình trường, thấy Ngân lững thững đi vào. Cô ta đi từ cổng chính, băng qua phía sau cột cờ, sát bờ tường, thẳng vào phía nhà tôi. Vợ tôi nói:

-“Con Ngân về kìa! Sao lại bỏ chú Hãn mà về đây. Chắc là không xong rồi.”

Ngân càng lúc càng gần hơn. Đúng là dân Saigon nửa tây nửa ta. Mặc áo dài “cách tân”: bông đỏ, vạt áo nhỏ, ngắn gần tới đầu gối. Thay vì đội nón như gái Huế thì cô ta đội cái mũ trắng rộng vành, như mũ mấy bà đầm dùng để đi biển, tay xách vali, tay xách hộp đàn violon, thứ nhạc cụ cô ta chơi khá giỏi. Tôi chỉ cho vợ tôi xem, nói về cách ăn mặc của cô ta. Vợ tôi nói: “Ăn mặc như thế thì làm dâu Huế sao được.”

Sau khi chào hỏi xong, vợ tôi nói: “Ngồi nghỉ đi một chút. Em về hồi nào?”

-“Em mới về. Xuống “xe ca” xong, em đi xe Lam về đây. Đổi xe hai ba chặng, mệt dữ!”

-“Chưa ăn chi?” Vợ tôi hỏi.

-“Chưa!” Cô ta trả lời.

-“Anh chị cũng chưa ăn. Chút chị dọn ăn luôn.”

Ăn cơm xong, tôi tránh mặt, lên phòng trực, để hai người chuyện trò. Đàn bà với nhau, họ dễ nói chuyện hơn. Hôm sau, vợ tôi kể lại:

Khi Ngân ra tới nơi, Hãn cũng lo cho cô ta: Thuê nhà, hằng ngày Hãn về với “vợ”. Ngân lo đi chợ, cơm nước, giặt giũ áo quần… như một cặp vợ chồng trẻ. Được ba tháng thì gia đình Hãn biết và phản ứng dữ dội. Một là vì cha mẹ Hãn đã nhắm vợ cho Hãn rồi, theo cung cách chọn lựa của người Huế: nền nếp, gia phong, ngoan hiền, tề gia nội trợ. Nay Hãn không cưới mất mặt “nhà người ta”, mất mặt cha mẹ, không cưới thì “uổng” một con dâu… Về phía Ngân: Con hoang, “xách nón theo trai”, dân Saigon phóng khoáng, không biết nấu cơm, kho cá, tới bữa, ra tiệm ăn là giỏi…

Hãn cũng phản ứng dữ dội, bênh vực Ngân… nhưng cuối cùng đành chịu thua hai người chị “dữ quá”. Hai bà thay phiên nhau vào tận nơi, mắng mỏ, chê bai, đuổi Ngân về Saigon, bảo “buông tha em trai” hai bà ra. Tháng cuối cùng, Hãn không về với Ngân. Ngân vào tận đơn vị tìm, Hãn tránh mặt. Cuối cùng, tuyệt vọng, Ngân về lại Saigon.

Vợ tôi hỏi: “Tiền đâu em về!”

-“Em bán đôi bông tai mẹ em cho hồi em 16 tuổi.”

-“Khi nào em về Thị Nghè?” Vợ tôi lại hỏi.

-“Chưa biết! Em chưa muốn về!” Ngân trả lời.

-“Em muốn ở lại đây?” Vợ tôi hỏi.

-“Chứ ở đâu! Em chỉ có bạn học, có quen ai đâu!”

Tôi nghe tiếng vợ tôi thở dài, chỉ đủ cho tôi nghe, Ngân không nghe được. Cô ta ngồi cái ghế salon bên kia, hơi xa.

Hàng ngày, Ngân chơi với mấy đứa con của tôi, dạy A, B cho mấy đứa chưa tới tuổi đi học, dạy đàn violon cho đứa con gái lớn của chúng tôi. Con bé học khá nhanh, hơn một tháng sau đã biết kéo bài “Kìa con bướm vàng” ọ ẹ như tiếng ve sầu cho cha mẹ nghe. Vợ chồng tôi cũng vui.

Hai tháng trôi qua…

Hôm đó tôi đang làm việc thì vợ tôi nhắn tôi về nhà có chuyện khẩn cấp. Về tới nhà thì thấy “hai ông bà” đang ngồi nói chuyện với vợ tôi ở phòng khách. Chào hỏi xong, vợ tôi giới thiệu:

“Đây là ba má của Ngân. Hai ông bà ở Thị Nghè tới tìm nó.”

Tôi hỏi:

-“Do đâu hai ông bà biết cô Ngân ở đây mà tới?”

-“Bà mẹ nhanh nhẩu: “Chúng tui nhận một cái thư, không biết ai gởi, nói là Ngân đang ở nhà anh chị. Tới đón nó về.”

Vợ tôi ngạc nhiên, hỏi tôi: “Ai mà viết thư vầy anh à?”

Tôi giải thích: “Có gì đâu. Cô Ngân đi rồi, chú Hãn ở ngoài ấy sợ Ngân không về nhà, nhờ người theo dõi thì biết ở đây, nên báo cho hai ông bà biết!”

-“Tại sao biết Ngân ở lại nhà mình?” Vợ tôi lại thắc mắc.

Tôi nói: “Hai đứa nó quen ai ở Saigon? Chỉ có gia đình mình là tụi nó quen thân, không ở nhà mình thì ở nhà ai. Chỗ dựa duy nhất mà!”

Nghe tôi nói xong, ai nấy đều cười.

Tôi hỏi: “Cô Ngân đâu?”

-“Núp sau bếp. Chắc là sợ bị rầy.” Vợ tôi giải thích.

Tôi nói với con gái lớn đang ngồi học ở bàn: “Hà ra bếp nói với chị Ngân ba má biểu chị vô đây. Ba má và hai ông bà cần nói chuyện.”

Một lát sau cô ta đi vào, đứng phía sau ghế vợ tôi ngồi. Tôi nói: “Chào cha mẹ chưa? Chưa thì chào đi mà xin lỗi.”

Cô ta cười bẽn lẽn, nói lí nhí gì đó, không nghe rõ. Hai ông bà khách không nói gì cả. Vợ tôi hỏi: “Ba má em tới. Em chịu về chưa?”

-“Không!” Cô ta trả lời gọn lỏn.

Trong khi ba cô ta và tôi nhìn nhau cười vì câu cô ta trả lời thì mẹ cô hốt hoảng bỏ ghế đứng dậy chạy qua phía cô, ôm lấy con mà năn nỉ: “Về đi con. Về với má đi con. Má nhớ con lắm. Ba cũng nhớ con lắm. Chiều chiều… Ba thường bắt ghế ngồi ngoài hành lang nhà mà chờ con về. Về với má đi con…” Rồi bà lấy vạt áo lau nước mắt.

Tôi nói: “Ba má thương vậy mà còn nhỏng nhẻo. Ở Huế, cha mẹ không gọi về đâu mà còn cho ăn đòn nữa đấy.” Rồi tôi quay sang nói với vợ tôi: “Không làm dâu Huế được cũng phải.”

Vợ tôi cười.

Vậy mà rồi Ngân cũng không chịu về ngay với cha mẹ. Cô ta hẹn ngày mai. Cuối cùng, vợ tôi phải nói:

-“Hai bác tới bất thình lình… cô ta bị shock đấy. Để mai Ngân về.”

Thấy bà mẹ có vẻ ngần ngại, không tin lời Ngân, vợ tôi nói thêm: “Mai tôi đưa cô ấy về tận nhà giao cho hai bác. Hai bác đừng lo.” Nghe vợ tôi nói chắc vậy, hai ông bà cám ơn rồi ra về.

Hôm sau, để cho tiện, tôi mượn xe trực của đơn vị để vợ tôi đưa cô ta về nhà. Vợ tôi ngồi ghế trước, bên cạnh tài xế. Cô ta ngồi ở băng ghế sau, hai bên là các con tôi. Chúng nó ríu rít như mấy con chim, quyến luyến, đứa cười, đứa khóc, trông thật cảm động.

Sau đó, tôi lại đưa hai ông bà gặp Tham Mưu Trưởng binh chủng. Họ yêu cầu Hãn trả lời về việc “quyến rũ Ngân đi theo Hãn” như trong đơn thưa. Thật ra, không ai làm gì được Hãn vì cô ta đâu còn là vị thành niên. Đơn vị bèn phạt Hãn 15 ngày “trọng cấm” vì tội gây “tai tiếng” cho binh chủng. Kỵ Binh là một binh chủng “Arme Noble”, không thể bị những “tai tiếng” vì những hành động trai gái như vậy được. Lệnh phạt nầy làm cho Hãn chậm “lên loon” một năm.

Thế rồi tôi bị đổi về Miền Tây, đem gia đình đi theo. Mãi đến sau Tháng Tư/ 75, tôi đi tù Cải Tạo hơn 7 năm. Sau khi được tha, tôi về Saigon. Đời sống bây giờ khó khắn lắm, vợ tôi dự tính đến gặp bà mẹ Ngân, bà làm nghề cho vay, mượn ít tiền về làm vốn làm ăn. Khi đến nơi mới hay gia đình cô ta đã rời Việt Nam từ tháng Tư / 75.

Sau khi “Về với mẹ”, một Hải quân đại úy cưới Ngân làm vợ. Trước ngày mất miền Nam, chồng Ngân, nhờ sẵn tàu, đem hết gia đình vợ di tản kịp trước khi đại tướng Dương Văn Minh đầu hàng. Ngân vẫn thường liên lạc với vài người hàng xóm. Vợ tôi chỉ xin được số điện thoại.

Định cư ở Mỹ được mấy năm, tình cờ vợ tôi tìm được số điện thoại Ngân, gọi cầu may mà cô ta trả lời. Được tin chúng tôi, Ngân mừng lắm, mời chúng tôi về Dallas, nơi Ngân cùng chồng con sinh sống. Vợ tôi nói, tự hào: “Em biết mà! Mặt mày con nhỏ đó phúc hậu lắm. Ai lấy nó là may mắn. Đời nó không khổ đâu.”

Nghe vợ nói, tôi cười về cái tài “xem tướng” của vợ. Tôi cũng nghĩ tới cái tiêu chuẩn người Huế thường chọn vợ cho con trai: Phúc hậu. Không biết sau 30 tháng Tư, Hãn có đi tù không, tù bao nhiêu năm, bây giờ có được hạnh phúc không.

Điều đáng buồn là chưa kịp đi thăm Ngân như vợ tôi mong muốn thì vợ tôi qua đời vì bạo bệnh./

Tháng 5/ 2020.

hoànglonghải

  • “Ra Biên Cương” bài hát của Phạm Duy. Khi thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, các khóa 3, khóa 4, khóa 5/ 68 thường hát.

Đã xem 500 lần

Giới thiệu từ Quán văn

  • Những thảm hoạ THAY ĐỔI THẾ GIỚI

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.